MỤC LỤC
A.Lời Mở đầu……………………………………………………………… 1
B.Nội Dung………………………………………………………………… 1
I- Vài nét về việc phân chia tài sản chung hợp nhất của vợ chồng khi ly
hôn………………………………………………………………………….
1
1. Tài sản chung của vợ chồng………….............................................. 1
2. Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng… …………………… 2
II. Ba vụ việc tranh chấp về việc phân chia tài sản chung hợp
nhất của vợ chồng khi ly hôn……………………………………………...
2
1.Vụ việc chia tài sản sau ly hôn có yếu tố nước ngoài………………….. 2
2.Chia tài sản chung sau ly hôn có liên quan tới căn nhà đang thuê của
nhà nước……………………………………………………………………
6
3.Vụ việc chanh chấp về tài sản chung vợ chồng khi li hôn có liên quan
tới gia đình………………………………………………………………….
9
III.Nhận xét của nhóm về những quy định của pháp luật hiện hành….. 13
1. Nhận xét…………………………………………………………………. 13
2. giải pháp………………………………………………………………… 14
C. Kết Luận………………………………………………………………... 15
Danh mục tài liệu tham khảo…………………………………………….. 16
1
A.Lời Mở đầu
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất - một trong
những lĩnh vực điều chỉnh của pháp luật dân sự. Điều 219, Bộ luật Dân Sự
(BLDS) 2005 quy định: "1. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp
nhất... 4. Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thỏa thuận hoặc theo
quyết định của Tòa án.". Một trong những nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh
việc phân chia tài sản chung của vợ chồng là khi vợ, chồng ly hôn. Hiện nay, khi
vợ hoặc chồng tự nguyện nhập khối tài sản riêng của mình vào khối tài sản
chung của gia đình.
3. Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng.
Tài sản chung của vợ chồng được phân chia trong nhiều trường hợp. Mỗi
trường hợp phân chia tài sản chung của vợ chồng đều có những nguyên tắc riêng.
Tuy nhiên, vì giới hạn của đề bài nên trong bài tiểu luận này chúng em xin phép
được chú trọng đến những nguyên tắc phân chia tài sản chung hợp nhất của vợ
chồng trong trường hợp vợ, chồng ly hôn.
Căn cứ Điều 95, Luật Hôn nhân và gia đình 2000; Trong trường hợp vợ
chồng ly hôn thì việc phân chia tài sản khi ly hôn theo các nguyên tắc sau:
1. Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận
được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền
sở hữu của bên đó;
2. Việc chia tài sản chung được giải quyết trên các nguyên tắc sau:
a) Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét
hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào
việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia
đình được coi như lao động có thu nhập;
b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành
niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và
không có tài sản để tự nuôi mình;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề
nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào
nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì
phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.
3. Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thỏa
thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
II. Ba vụ việc tranh chấp về việc phân chia tài sản chung hợp nhất
của vợ chồng khi ly hôn.
muộn nhất 6 tháng sau sẽ phải trả 500.000.000 đồng anh lấy từ chị Minh nếu
không trả sẽ mất căn nhà ở số 38B Nam Ngư”. Đồng thời tại đơn đề nghị ngày
25/5/2003 anh Ngữ và chị có thỏa thuận: chị đưa cho anh Ngữ 20.000 USD sau
này anh sẽ trả còn lại toàn bộ tài sản hiện có ở Việt Nam (gồm cả căn nhà 38B
Nam Ngư) thuộc sở hữu của chị. Mặc dù khoản vay 20.000 USD chị chưa giao
cho anh Ngữ. Chị và hai con đã vào thành phố Hồ Chí Minh ở từ năm 2002. Nhà
38B Nam Ngư chị cho anh Nam thuê từ tháng 10/2002 đến tháng 10/2007. Chị
đã nhận đủ tiền thuê nhà của anh Nam . Chị cũng nói thêm nhà số 38B Nam Ngư
thuộc quyền sở hữu của chị nên chị không đồng ý chia cũng như thanh toán cho
anh Ngữ 1/2 số tiền thu được từ việc cho thuê nhà.
Anh Nam là người thuê căn nhà đã nêu trên, trong quá trình thuê anh có thực
hiện sửa chữa một số chỗ trong căn nhà và chị Minh đồng ý thanh toán cho anh
hai khoản chi phí gồm ốp lát nhà vệ sinh và chống thấm bể nước có giá trị là
12.000.000 đồng. Anh Nam cũng đồng ý các khoản sửa chữa khác anh tự chịu.
Định giá tài sản theo biên bản định giá tài sản ngày 02/7/2007 cho thấy tổng
giá trị nhà và đất là 4.581.288.000 đồng. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ cũng
4
như qua quá trình tranh tụng của luật sư hai bên, Hội đồng xét xử xét thấy:
chính xác là khi ly hôn hai anh chị chỉ còn căn nhà số 38B Nam Ngư là tài sản
chung, tất cả các tài sản khác đã được giải trình và hai bên không có thắc mắc.
Về phần “giấy cam kết” giữa anh Ngữ và chị Minh, mặc dù đã cam kết nếu chị
Minh gửi đủ số tiền 20.000 USD sang Ba Lan cho anh Ngữ thì toàn bộ tài sản
hiện có ở Việt Nam sẽ thuộc sở hữu của chị Minh nhưng do chị Minh chưa giao
số tiền (cả anh Ngữ và chị Minh đều xác nhận) trên nên anh Ngữ không có nghĩa
vụ phải thực hiện cam kết trên.
Xét thấy chị Minh sau khi bán căn nhà tại 12 Nguyễn Quang Bích đã trả hết
số nợ 500 triệu và mua căn nhà 27C VĨnh phúc III và được hưởng một mình toàn
bộ khối tài sản ở 27C Vĩnh Phúc III mà trước đây chị Minh đã mua của chị
Tuyết với giá 125 cây vàng. Anh Ngữ cũng không yêu cầu chia căn nhà này, như
vậy chị Minh đã được hưởng về tài sản nhiều hơn anh Ngữ nên đối với khối tài
5
Về phần tiền thuê nhà chị Minh đã quản lý từ tháng 10/2002 đến tháng
6/2007 là 392.000.000 đồng, chấp nhận 1 phần yêu cầu của anh Ngữ. Buộc chị
Minh phải thanh toán tiền cho thuê nhà cho anh Ngữ là 130.670.000 đồng.
b.Một số nhận xét của nhóm.
Theo ý kiến nhận xét, đánh giá của nhóm em thì quyết định giải quyết vụ việc
trên của tòa án là hoàn toàn chính xác và đầy đủ căn cứ, phù hợp với các quy
định của pháp luật hiện hành về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.
Thứ nhất, việc anh Ngữ khởi kiện yêu cầu Tòa án chia tài sản chung của anh
và chị Minh là căn nhà số 38B Nam Ngư là có căn cứ. Đúng là có việc “cam kết”
giữa anh và chị Minh về khoản tiền 20.000 USD nhưng nay chị Minh vẫn chưa
thực hiện giao cho anh khoản tiền trên nên anh không cần thực hiện như đã cam
kết là sẽ để chị Minh sở hữu toàn bộ tài sản chung của hai người ở Hà Nội trong
đó có căn nhà 38B Nam Ngư. Cả anh và chị đều thừa nhận đây là tài sản chung
do công sức của cả hai người tạo ra trong thời kì hôn nhân. Cả hai người đều
muốn chia bằng hiện vật nhà. Lại xét thấy, hiện tuổi đã cao anh Nguyễn Huy
Ngữ muốn trở về Việt Nam sinh sống nhưng không có nhà ở, chị Minh đã có nhà
ở ổn định trong thành phố Hồ Chí Minh nhà 38B Nam Ngư chị Minh không ở
mà chỉ cho thuê. Căn cứ vào điều 169, Bộ luật dân sự 2005 “quyền sở hữu của
cá nhân được pháp luật công nhận, bảo vệ. Không ai có thể bị hạn chế tước
đoạt trái pháp luật quyền sở hữu đối với tài sản của mình”. Như vậy việc chị
Minh, anh Ngữ đều có nguyện vọng chia nhà là chính đáng, được chấp nhận.
Thứ hai, căn cứ áp dụng điều 95 về việc áp dụng các nguyên tắc chia tài sản
chung của vợ chồng, khoản 4 Điều 100 “ Các quy định của Chương này cũng
được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam
với nhau mà một bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài” khoản 3 Điều
102 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 “Toà án nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương huỷ việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các
tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ,
con, nuôi con nuôi và giám hộ có yếu tố nước ngoài, xem xét việc công nhận