I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN TH HNH CHIA TI SN CHUNG V CHNG
THEO PHP LUT VIT NAM - THC TIN P
DNG
V HNG HON THIN
luận văn thạc sĩ luật học
Hµ néi - 2012
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt Danh mục các bảng
17
1.1.2.3.
Đặc điểm của chia tài sản chung của vợ chồng
20
1.1.3.
Lịch sử phát triển chế định chia tài sản chung của vợ chồng
trong pháp luật Việt Nam
22
1.1.3.1.
Chia tài sản chung của vợ chồng trong pháp luật thời kỳ
phong kiến
22
1.1.3.2
Chia tài sản chung của vợ chồng theo pháp luật thời kỳ
Pháp thuộc
24
1.1.3.3.
Chia tài sản chung của vợ chồng trong pháp luật Việt Nam
từ 1945 đến nay
25
1.2.
Các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng theo pháp
29 luật Việt Nam hiện hành
1.2.1.
Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
29
1.2.1.1.
39
1.2.3.2.
Nguyên tắc chia tài sản chung vợ chồng khi vợ hoặc chồng chết
40
1.2.3.3.
Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung vợ chồng khi
vợ hoặc chồng chết
41
Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
HIỆN HÀNH VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
43
2.1.
Thực tiễn áp dụng các quy định chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân
43
2.1.1.
Thực tiễn áp dụng các quy định về điều kiện chia tài sản
chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
44
2.1.2.
Thực tiễn áp dụng các quy định về nguyên tắc chia tài sản
chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
52
2.1.3.
Thực tiễn áp dụng các quy định về hậu quả pháp lý của việc
chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
53
2.2
Thực tiễn áp dụng các quy định chia tài sản chung của vợ
LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP
LUẬT VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
93
3.1.
Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định pháp luật về
chia tài sản chung của vợ chồng
93
3.1.1.
Hoàn thiện quy định pháp luật về chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân
93
3.1.1.1.
Giới hạn quyền chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để
thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng
93
3.1.1.2.
Quy định cụ thể về lý do chính đáng
95
3.1.1.3.
Quy định quyền yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng
cho người thứ ba (người có quyền)
97
3.1.1.4.
Quy định cụ thể trường hợp vợ chồng yêu cầu Tòa án chia
tài sản chung và nguyên tắc chia tài sản chung tại Tòa án
98
3.1.1.5.
Quy định văn bản thỏa thuận chia tài sản chung phải công
chứng hoặc được Tòa án công nhận
100
3.1.3.2.
Quy định rõ hậu quả của việc hủy bỏ quyết định tuyên bố
vợ hoặc chồng đã chết
106
3.2.
Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật
về chia tài sản chung của vợ chồng
107
3.2.1.
Giải pháp nâng cao chất lượng xét xử các vụ việc liên quan
tới chia tài sản chung của vợ chồng
107
3.2.2.
Có cơ chế, chính sách phù hợp để phát triển các tổ chức
hành nghề công chứng
108
3.2.3.
Triển khai đồng bộ, nghiêm túc quy định pháp luật về đăng
ký tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng
109
3.2.4.
Tuyên truyền, phổ biến sâu, rộng pháp luật Hôn nhân và gia
đình đặc biệt là các quy định về tài sản chung của vợ chồng
110
KẾT LUẬN
112
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
114
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Số lượng văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân được công chứng tại Phòng
công chứng số 4 thành phố Hà Nội
70
2.2
Số lượng văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân được công chứng tại Văn
phòng công chứng Hà Nội
70
đã dành nhiều quy định điều chỉnh các quan hệ tài sản giữa gia đình và các
chủ thể khác trong xã hội, giữa các thành viên trong gia đình và đặc biệt là
giữa vợ chồng - những thành viên "hạt nhân" của gia đình. Những quy định
pháp luật về tài sản của vợ chồng cũng thường xuyên được rà soát, sửa đổi, bổ
sung để điều chỉnh các quan hệ xã hội mới phát sinh.
Tuy nhiên thực tiễn phát triển nhanh, đa dạng của đời sống kinh tế - xã
hội đã và đang làm bộc lộ nhiều điểm chưa hợp lý của pháp luật hiện hành.
Trong đó, chia tài sản chung của vợ chồng nổi lên như là vấn đề bức thiết bởi
những năm gần đây, các tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng, đặc
biệt là chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn gia tăng nhanh chóng. Hơn
nữa, những tranh chấp này thường là những tranh chấp phức tạp và kéo dài,
gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình cảm giữa các thành viên trong gia đình
và sự ổn định của xã hội. Nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên một phần do tính
chất đa dạng, phức tạp của các quan hệ tài sản của vợ chồng. Mặt khác, tình
trạng gia tăng các tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng cũng cho thấy những bất cập, điểm khuyết của pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng.
Các quy định này đã bộc lộ nhiều hạn chế, vướng mắc gây khó khăn thậm chí
lúng túng trong quá trình áp dụng pháp luật của các đương sự cũng như của tòa
án khi giải quyết các vấn đề liên quan đến chia tài sản chung của vợ chồng.
Thực trạng trên cho thấy, có một công trình nghiên cứu sâu về chế định chia tài
sản chung của vợ chồng nhằm nhận dạng những khuyết thiếu của pháp luật
dưới góc độ thực tiễn áp dụng là hết sức cần thiết. Đây chính là lý do để tác giả
lựa chọn đề tài "Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam -
Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện" để làm luận văn thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Chế định pháp luật liên quan đến tài sản chung của vợ chồng nói
chung và chia tài sản chung của vợ chồng nói riêng luôn là vấn đề dành được
nhiều sự quan tâm của xã hội cũng như giới nghiên cứu. Bởi vậy, trong thời
cách chuyên sâu và cụ thể.
Nhóm các bài viết trên các báo, tạp chí: Chia tài sản chung của vợ
chồng là chủ đề của nhiều bài viết nghiên cứu của nhiều tác giả trên các báo,
tạp chí chuyên ngành luật, có thể kể đến một số bài như Bàn thêm về chia tài
sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật hôn nhân gia
đình hiện hành (Nguyễn Hồng Hải, 2003, Tạp chí Luật học, số 5); Hậu quả
pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (Nguyễn Phương
Lan 2002,Tạp chí Luật học, số 6), Về vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng
khi phá sản doanh nghiệp tư nhân (Phạm Văn Thiệu, 2003, Tạp chí Tòa án
nhân dân (TAND), số 11) v.v… Các bài viết này thường phân tích rất sâu một
vấn đề trong chế định chia tài sản chung vợ chồng, nhưng do tính chất của
một bài viết nghiên cứu, các tác giả chỉ đề cập đến một khía cạnh hoặc một
trường hợp cụ thể liên quan đến việc chia tài sản chung của vợ chồng mà
không thể phân tích toàn diện các khía cạnh của chế định này.
Một điểm chung của cả ba nhóm công trình nghiên cứu kể trên, đó là
phần lớn các tác giả thường thiên về việc phân tích, đánh giá thực trạng pháp
luật về chia tài sản chung vợ chồng mà chưa soi chiếu sự phản ánh của toàn bộ các quy định pháp luật đó vào thực tiễn cuộc sống. Một số tác giả, trong
các công trình nghiên cứu kể trên, cũng đã có dẫn chiếu, liên hệ thực tiễn áp
dụng một số quy định pháp luật, tuy nhiên, sự liên hệ, phân tích đó chỉ có tính
chất minh họa cho một số trường hợp cụ thể mà chưa có sự soi chiếu một
cách tổng thể, toàn diện tất cả các khía cạnh của chế định chia tài sản chung
vợ chồng vào thực tiễn.
Như vậy, mặc dù đã có không ít công trình nghiên cứu liên quan đến
vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng nhưng những công trình này chủ yếu
nghiên cứu, phân tích chế độ tài sản của vợ chồng dưới góc độ lý luận mà
chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về chia tài sản
chung của vợ chồng dưới góc độ thực tiễn áp dụng pháp luật. Do vậy, các
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, luận văn tập trung vào một
số vấn đề sau:
- Quy định của pháp luật hiện hành về chế độ tài sản chung của vợ
chồng. Trong đó tập trung chủ yếu vào chia tài sản chung của vợ chồng được
quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) năm 2000, Bộ luật Dân
sự (BLDS) năm 2005 và một số văn bản pháp luật khác có liên quan.
- Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật hiện hành về chia tài sản
chung của vợ chồng. Trong đó, tập trung vào một số vấn đề khó khăn, vướng
mắc, điển hình; các trường hợp áp dụng sai luật…; tìm hiểu và nghiên cứu
những ví dụ cụ thể, những bản án thực tế từ đó bình luận và phân tích những
nguyên nhân chính làm giảm hiệu quả áp dụng pháp luật về chia tài sản chung
của vợ chồng trong thực tế.
- Một số quy định của pháp luật các nước trên thế giới về chia tài sản
chung của vợ chồng như BLDS Pháp, Bộ luật dân sự và thương mại Thái
Lan… có sự so sánh và đối chiếu với pháp luật Việt Nam, qua đó tiếp thu những điểm tiến bộ và phù hợp với thực tiễn và pháp luật Việt Nam về chia
tài sản chung của vợ chồng.
Luận văn không đề cập đến góc độ thủ tục tố tụng khi giải quyết vấn
đề chia tài sản chung vợ chồng. Luận văn cũng không xem xét, nghiên cứu
vấn đề chia tài sản chung vợ chồng dưới góc độ tư pháp quốc tế.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phối hợp nhiều phương
pháp khác nhau như phương pháp phân tích luật học, phương pháp phân tích -
so sánh, phương pháp tổng hợp (trên cơ sở phân tích, so sánh và tham khảo
pháp luật nước ngoài), phương pháp thống kê, khảo sát thực tiễn Trong quá
trình khảo sát thực tiễn, luận văn đã áp dụng phương pháp phỏng vấn sâu một
số người có liên quan để thu thập những tài liệu mà các tài liệu lưu trữ chính
thống còn khuyết thiếu, đồng thời nhằm có thêm tư liệu sinh động từ thực tiễn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội
dung chính của luận văn được kết cấu gồm ba chương như sau:
Chương 1: Khái quát chung về chia tài sản chung của vợ chồng theo
pháp luật Việt Nam.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật hiện hành về
chia tài sản chung của vợ chồng.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả áp dụng pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng. Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG
CỦA VỢ CHỒNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG
CỦA VỢ CHỒNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Hôn nhân là cơ sở hình thành gia đình - tế bào của xã hội. Kể từ thời
điểm quan hệ hôn nhân được xác lập giữa một người đàn ông và một người
đàn bà bằng sự kiện kết hôn, họ chính thức trở thành vợ chồng, có các quyền,
nghĩa vụ với nhau, với cha mẹ, con cái… Để đảm bảo các điều kiện vật chất
phục vụ đời sống gia đình và thực hiện các quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi
dưỡng con cái… vợ chồng cần có tài sản. Tài sản của vợ chồng là nguồn quan
trọng phục vụ nhu cầu vật chất và tinh thần của gia đình. Trên bình diện xã
hội, gia đình chính là một đơn vị kinh tế. Các thành viên trong gia đình, đặc
biệt là vợ chồng tham gia tích cực vào các hoạt động tạo ra của cải vật chất
cho xã hội qua đó tạo dựng khối tài sản cho mình. Vì vậy, tài sản của vợ
chồng không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với vợ chồng và gia đình mà còn
đóng góp cho sự phát triển chung của toàn xã hội.
Tài sản của vợ chồng cũng là một loại tài sản theo pháp luật dân sự, vì
vậy, nghiên cứu vấn đề tài sản của vợ chồng phải đặt trong bối cảnh của chế
quyền sở hữu trí tuệ". Như vậy, để một quyền được coi là quyền tài sản nó
phải đáp ứng được hai yêu cầu cơ bản đó là trị giá được bằng tiền và có thể
chuyển giao được trong giao dịch dân sự. Có thể kể ra các quyền tài sản như
quyền nhận lợi tức cổ phiếu, quyền hưởng nhuận bút của tác giả tác phẩm văn
học, nghệ thuật,quyền nhận thù lao của chủ sở hữu văn bằng sáng chế…
Như vậy, theo quy định của BLDS năm 2005 các đối tượng là tài sản
bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Khái niệm và các quy định về tài sản, quyền sở hữu trong Luật dân sự
là khái niệm gốc, là cơ sở để các luật chuyên ngành xây dựng các khái niệm tài
sản cụ thể theo tính chất riêng của ngành luật mình, ví dụ như khái niệm tài sản
góp vốn trong Luật Doanh nghiệp, tài sản của vợ chồng trong Luật HN&GĐ…
1.1.1. Tài sản chung của vợ chồng
1.1.1.1. Khái niệm tài sản chung của vợ chồng
Trong bối cảnh nền kinh tế đất nước đang phát triển sôi động trên tất
cả các ngành, các lĩnh vực như hiện nay, gia đình là chủ thể tham gia vào rất
nhiều các hoạt động kinh tế, xã hội khác nhau. Việc hộ gia đình được BLDS
công nhận là một chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự và Luật Đất đai công
nhận hộ là chủ thể được Nhà nước giao đất, cho thuê đất…đã tạo những tiền
đề cơ bản để kinh tế hộ gia đình nói chung và tài sản của vợ chồng nói riêng
phát triển ngày càng nhanh chóng.
Theo nội hàm của khái niệm tài sản quy định tại Điều 163 BLDS
năm 2005 thì tài sản của vợ chồng bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các
quyền tài sản khác. Như vậy, tài sản của vợ chồng cũng bao gồm vật, tiền,
giấy tờ có giá và các quyền tài sản thuộc sở hữu của vợ chồng.
Tài sản của vợ chồng gồm có tài sản chung của vợ chồng và tài sản
riêng của vợ, chồng. Tuy nhiên, vì phạm vi luận văn chỉ đề cập đến vấn đề tài
sản chung của vợ chồng nên xin phép không phân tích vấn đề tài sản riêng ở
đây. Về tài sản chung, Điều 214 BLDS năm 2005 quy định "tài sản thuộc hình
chồng như nguồn gốc tài sản, nguyên tắc sử dụng, định đoạt tài sản… Quan
điểm lập pháp này được duy trì và thể hiện thống nhất trong Luật HN&GĐ
của Nhà nước ta qua các thời kỳ.
Luật HN&GĐ năm 1959 là Luật HN&GĐ đầu tiên của nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mặc dù được xây dựng trong hoàn cảnh
đất nước còn chiến tranh, điều kiện kinh tế nhiều khó khăn và chỉ có vẻn vẹn
35 điều luật nhưng Luật HN&GĐ năm 1959 đã có những quy định đầu tiên về
tài sản chung của vợ chồng "vợ và chồng có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử
dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới" [30, Điều 15]. Với quy định trên, có thể suy luận mọi tài sản của vợ, chồng đều là tài sản chung
của vợ chồng không phân biệt tài sản do ai tạo ra, có trước hay trong thời kỳ
hôn nhân… Do đó, khái niệm tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng không
tồn tại trong các quy định của Luật HN&GĐ năm 1959.
Đến Luật HN&GĐ năm 1986 và Luật HN&GĐ năm 2000, các vấn đề
liên quan đến tài sản chung của vợ chồng trong đó có nguồn gốc tài sản chung
đã được luật quy định cụ thể hơn. Theo quy định tại Điều 14, Điều 16 Luật
HN&GĐ năm 1986 và Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 nguồn gốc tài sản
chung của vợ chồng bao gồm:
Tài sản chung do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động và thu
nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Tài sản do vợ, chồng tạo ra có thể là kết quả lao động trực tiếp của vợ
chồng như giường, tủ do vợ chồng tự đóng, nhà do vợ chồng tự xây Hoặc
tài sản nhận được từ hợp đồng mua bán, trao đổi tài sản… mà một bên vợ,
chồng hoặc hai vợ chồng tham gia. Trong trường hợp thứ hai này, mặc dù vợ
chồng không tạo ra tài sản bằng lao động trực tiếp nhưng đã dùng tài sản hiện
có của mình như tiền, vật để mua hoặc trao đổi lấy tài sản khác. Vì vậy,
những tài sản này cũng được xác định là tài sản do vợ chồng tạo ra. Bằng việc
nhận được một số tiền, vật… thông qua các giao dịch kể trên, ngay lập tức số
được chuyển giao chung cho cả vợ và chồng không phân biệt nhiều, ít hay tài
sản thừa kế này của vợ, tài sản thừa kế kia của chồng. Chỉ trong trường hợp
đó, tài sản thừa kế mới có thể trở thành tài sản thuộc hình thức sở hữu chung
hợp nhất và là nguồn của tài sản chung của vợ chồng. Trường hợp thừa kế
theo pháp luật, dù vợ, chồng cùng hàng thừa kế ví dụ như thừa kế di sản của
con - nếu con chết trước, cùng được hưởng phần di sản bằng nhau nhưng do
phần tài sản thừa kế của mỗi người được xác định riêng - mỗi người là một
suất thừa kế nên tài sản nhận được sẽ trở thành tài sản riêng của vợ, chồng do
được thừa kế riêng mà không phải là tài sản chung của vợ chồng. Như vậy,
thừa kế chung vợ chồng chỉ xuất hiện khi vợ chồng được thừa kế chung theo
di chúc mà không xuất hiện ở thừa kế theo pháp luật. Tương tự như thừa kế,
đối với trường hợp tặng cho, vợ chồng được tặng cho chung nếu theo ý chí
của người tặng cho, tài sản được tặng cho cả vợ và chồng, không phân biệt cái này cho vợ, cái khác cho chồng… Đáp ứng được điều kiện trên, tài sản
được tặng cho sẽ trở thành tài sản chung của vợ chồng.
Tài sản chung theo thỏa thuận của vợ chồng
Sau một thời gian dài cùng chung sống, cùng nhau gánh vác trách
nhiệm, và cùng thực hiện quyền, nghĩa vụ với nhau và với gia đình, đối với
nhiều cặp vợ chồng, ranh giới giữa tài sản chung của họ và tài sản riêng của
mỗi người trở nên mờ nhạt, thậm chí đến một giai đoạn nào đó, ranh giới đó
mất hẳn, không còn tồn tại. Tuy nhiên, về mặt pháp lý, việc chuyển hóa một tài
sản riêng của mỗi người thành tài sản chung của cả hai vợ chồng thường được
thực hiện qua hai phương thức: Hoặc là bằng cách họ có thể cùng nhau thỏa
thuận một tài sản nào đó là tài sản chung của vợ chồng, hoặc là một bên vợ hoặc
chồng, với tư cách là chủ sở hữu, tự nguyện nhập tài sản riêng của mình vào tài
sản chung của hai vợ chồng. Đối với phương thức thứ nhất (cùng thỏa thuận về
tài sản chung), Luật HN&GĐ năm 1986 chưa quy định. Phương thức này chỉ
được ghi nhận kể từ Luật HN&GĐ năm 2000, tại Điều 27. Tuy nhiên, một điều
của mình đối với tài sản (có trước khi kết hôn, được thừa kế riêng hoặc tặng
cho riêng trong thời kỳ hôn nhân) thì tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng
theo nguyên tắc suy đoán tài sản chung nêu trên.
Tài sản chung là quyền sử dụng đất vợ chồng có được sau khi kết hôn
Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, ngoài những quyền chung
như quyền được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hưởng thành quả lao
động, đầu tư trên đất… người sử dụng đất còn có các quyền đối với tài sản là
quyền sử dụng đất và quyền đối với tài sản gắn liền trên đất như quyền
chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất…
Dưới góc độ pháp luật HN&GĐ, quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ
chồng bao gồm: Quyền sử dụng đất mà cả vợ và chồng hoặc mỗi bên vợ, chồng
được Nhà nước giao; Quyền sử dụng đất mà cả vợ và chồng hoặc chỉ một bên
vợ, chồng được Nhà nước cho thuê; Quyền sử dụng đất mà vợ chồng được
chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế chung; Quyền sử dụng đất mà vợ chồng
được giao chung với hộ gia đình và quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được
trước khi kết hôn, được thừa kế riêng nhưng vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung (Khoản 1 Điều 27 Luật HN&GĐ 2000; Điều 24, 25, 26, 27 Nghị định số
70/2001/NĐ-CP).
Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, nguồn
hình thành tài chung của vợ chồng bao gồm tài sản do vợ chồng tạo ra, thu
nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp
khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản vợ chồng được thừa kế
chung, tặng cho chung; tài sản vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung; tài sản
riêng mà vợ, chồng tự nguyện nhập vào tài sản chung; tài sản có tranh chấp
nhưng vợ, chồng không có chứng cứ chứng minh là tài sản riêng và quyền sử
dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn.
1.1.2. Chia tài sản chung của vợ chồng
1.1.2.1. Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng
sản chung của vợ chồng
Theo quy định pháp luật, tài sản chung của vợ chồng có thể được chia
khi thuộc một trong ba trường hợp gồm: chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân; chia tài sản chung của vợ chồng khi vợ chồng ly hôn
và chia tài sản chung của vợ chồng khi vợ hoặc chồng chết.
Trước hết, chế định pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng được
xây dựng trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và BLDS.
Việc Hiến pháp nước ta ghi nhận và bảo vệ quyền sở hữu tài sản hợp
pháp của công dân (Điều 58 Hiến pháp 1992) là cơ sở đầu tiên để vợ, chồng
xác lập quyền sở hữu riêng đối với tài sản được chia. Khi chia tài sản chung,
khối tài sản chung của vợ chồng bị giảm sút nhưng khối tài sản riêng của vợ,
chồng lại tăng lên tương ứng. Đồng thời, với tư cách là luật chung, những quy
định của BLDS về sở hữu chung, đặc biệt là các quy định liên quan đến sở
hữu chung của vợ chồng như sở hữu chung hợp nhất (Điều 217 BLDS năm
2005); sở hữu chung của vợ chồng (Điều 219); chiếm hữu, sử dụng, định đoạt
tài sản chung (Điều 221, 222, 223); chia tài sản thuộc hình thức sở hữu chung
(Điều 224)… là những quy định tiền đề để luật chuyên ngành (Luật HN&GĐ)
quy định cụ thể về các trường hợp cũng như điều kiện, nguyên tắc… chia tài