Góp vốn bằng quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng theo pháp luật việt nam - Pdf 43

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

VŨ ĐỖ THU TRANG

GÓP VỐN BẰNG QUYỀN SỬ DỤNG
ĐẤT LÀ TÀI SẢN CHUNG THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

VŨ ĐỖ THU TRANG

GÓP VỐN BẰNG QUYỀN SỬ DỤNG
ĐẤT LÀ TÀI SẢN CHUNG THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số
: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS DOÃN HỒNG NHUNG


1.3. Ý nghĩa, vai trò của góp vốn bằng quyền sử dụng đất là tài sản chung của
vợ chồng ...................................................................................................................... 22
1.4. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật về góp
vốn bằng quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng. ...................................... 23
1.4.1. Sự phát triển của luật Việt Nam về quan hệ tài sản giữa vợ chồng .................. 23
1.4.2. Về chế định góp vốn bằng quyền sử dụng đất ở nƣớc ta giai đoạn trƣớc
khi ban hành Luật Đất đai năm 1993. ......................................................................... 27
1.4.3. Giai đoạn ban hành Luật đất đai năm 1993 đến trƣớc khi ban hành Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai 1998 ................................................... 28
1.4.4. Giai đoạn từ khi ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất
đai năm 1998 đến trƣớc Luật đất đai năm 2003 ......................................................... 30
1.4.5. Về chế định góp vốn bằng quyền sử dụng đất ở nƣớc ta giai đoạn 2003 2009 ............................................................................................................................. 34
1.4.6. Về chế định góp vốn bằng quyền sử dụng đất ở nƣớc ta giai đoạn 2009 2013 ............................................................................................................................. 35
1.4.7. Về chế định góp vốn bằng quyền sử dụng đất ở nƣớc ta giai đoạn 2013
đến nay ........................................................................................................................ 37
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GÓP VỐN BẰNG QUYỀN
SỬ DỤNG ĐẤT LÀ TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG .................................... 44
2.1. Căn cứ pháp lý xác định quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng ........ 44
2.2. Điều kiện để vợ chồng sử dụng tài sản chung là quyền sử dụng đất để góp
vốn ............................................................................................................................... 46
2.3. Hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng ........ 52
2.3.1.Thủ tục ............................................................................................................... 52

1


2.3.2. Hợp đồng ........................................................................................................... 53
2.4. Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng khi góp vốn bằng quyền sử dụng đất là
tài sản chung................................................................................................................ 55
2.5. Giải quyết tranh chấp liên quan đến góp vốn bằng quyền sử dụng đất là tài


QSDĐ

Quyền sử dụng đất

NSDĐ

Ngƣời sử dụng đất

TAND

Toà án nhân dân

3


Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Từ lâu, vấn đề về Hôn nhân gia đình luôn chiếm đƣợc sự quan tâm
rất lớn của xã hội. Hôn nhân là cơ sở của gia đình, còn gia đình là tế bào
của xã hội mà trong đó kết hợp lợi ích hài hòa của mỗi công dân, Nhà
nƣớc và xã hội.
Trong mỗ i gia điǹ h, bên cạnh đời số ng tình cảm, yêu thƣơng lẫn
nhau, các thành viên không thể không quan tâm đến điều kiện vật chất vì
đó là cơ sở kinh tế giúp cho vơ ̣ chồ ng xây dƣ̣ng cuô ̣c số ng ha ̣nh phúc, đáp
ứng những nhu cầu về vật chất lẫn tinh thần cho các thành viên trong gia
điǹ h. Do đó, trong Luật Hôn nhân & gia đình đã có nhiều quy định điều
chỉnh các quan hệ pháp luật về hôn nhân & gia đình, đặc biệt chú trọng
quy định về chế độ đối với tài sản chung của vợ chồng, tạo điều kiện cho
việc bảo vê ̣ quyề n và lợi ích hợp pháp của vợ , chồ ng và các thành viên

vừa làm rõ những ƣu điểm, hạn chế, vừa đề ra những giải pháp trứơc mắt
và lâu dài nhằm nâng cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm của vợ chồng đối
với đời sống của gia đình nói riêng và toàn xã hội nói chung. Vì thế, việc
lựa chọn và nghiên cứu đề tài “ Góp vốn bằng quyền sử dụng đất là tài
sản chung của vợ chồng trong pháp luật Việt Nam” làm luận văn thạc
sỹ sẽ phần nào đáp ứng đƣợc những đòi hỏi cấp bách hiện nay trên cả
phƣơng diện khoa học và thực tiễn.
2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Trong thời gian qua, cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội,
các mối quan hệ về tài sản của vợ chồng cũng thay đổi và phát triển
không ngừng, và không phải quan hệ nào cũng đƣợc pháp luật dự liệu để
kịp thời điều chỉnh một cách phù hợp. Chính vì vậy, các công trình
nghiên cứu khoa học về chế độ tài sản của vợ chồng đặc biệt là tài sản
chung của vợ chồng luôn thu hút đƣợc sự quan tâm của nhiều ngƣời.
Một số công trình nghiên cứu khoa học cần phải chú ý nhƣ:
5


- “Chế đô ̣ tài sản của vơ ̣ chồ ng theo Luâ ̣t Hôn nhân & gia đình Viê ̣t
Nam” năm 2008 của PGS.TS Nguyễn Văn Cừ.
- “Chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng trong pháp luật
Cộng hòa Pháp và pháp luật Việt Nam” của tác giả Bùi Minh Hồng đăng
trên tạp chí Luật học số 11 năm 2009.
- “Luâ ̣n bàn về các hình thức sở hữu và sở hữu chung hợp n hấ t của
vơ ̣ chồ ng” năm 2011 của PGS. TS Phùng Trung Tâ ̣p.
- Luận án tiến sĩ “Chế độ tài sản vợ chồng theo luật Hôn nhân &
gia đình Việt Nam” đƣợc TS Nguyễn Văn Cừ bảo vệ thành công vào đầu
năm 2005.
- Hội thảo “Thể chế cho phát triển nông thôn, nâng cao phúc lợi
cho nông dẫn với hình thức công ty bằng góp vốn bằng quyền sử dụng

- Nêu ra và phân tích các quy định với tài sản chung của vợ chồng có
liên quan tới quyền sử dụng đất
- Nêu ra và phân tích các quy định về góp vốn bằng quyền sử dụng
đất
- Tìm hiểu thực tiễn áp dụng các quy định về góp vốn bằng quyền sử
dụng đất là tài sản chung của vợ chồng tại nƣớc ta từ đó tìm ra những
điểm hạn chế, vƣớng mắc và đƣa ra phƣơng hƣớng hoàn thiện các quy
định liên quan đến vấn đề này.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của Luận văn gồm 3 phần:
- Chƣơng 1: Lý luận cơ bản về góp vốn bằng quyền sử dụng đất và
pháp luật góp vốn bằng quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng
- Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng
đất là tài sản chung của vợ chồng.
- Chƣơng 3: Hoàn thiện pháp luật về góp vốn bằng quyền sử dụng
đất là tài sản chung của vợ chồng.
8


CHƢƠNG 1:
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GÓP VỐN BẰNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
VÀ PHÁP LUẬT VỀ GÓP VỐN BẰNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
LÀ TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
1.1. Cơ sở khoa học về góp vốn bằng quyền sử dụng đất là tài
sản chung của vợ chồng
Về cơ sở lý luận về góp vốn bằng quyền sử dụng đất
Nền kinh tế nƣớc ta chuyển từ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp,
kế hoạch hóa cao độ sang nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ
nghĩa, trong đó pháp luật ghi nhận và bảo hộ quyền tự do kinh doanh của

bằng quyền sử dụng đất là một sự vô lý.
Mặt khác, kết hôn là sự kiện làm phát sinh một gia đình mà ở đó
phản ánh sự chung sống của hai vợ chồng và con cái (nếu có) [24;22].
Nhƣ là một tất yếu của cuộc sống chung, vợ và chồng thực hiện những
quan hệ về tài sản nhằm đáp ứng những nhu cầu tồn tại và phát triển của
gia đình. Đây là những quan hệ xảy ra phổ biến trong xã hội và chịu sự
điều chỉnh trực tiếp của pháp luật về hôn nhân và gia đình, trong một quy
chế đƣợc gọi là Chế độ tài sản của vợ chồng. Có một câu hỏi lớn đặt ra là:
Chế độ tài sản của vợ chồng sẽ đƣợc xác lập theo luật pháp hay theo sự
thỏa thuận của vợ chồng? Tài sản của vợ chồng trong pháp luật về hôn
nhân và gia đình (HN&GĐ) của các nƣớc trên thế giới đƣợc quy định gắn
liền với các điều kiện kinh tế - xã hội, chế độ sở hữu, truyền thống, phong
tục, tập quán, tâm lý, nguyện vọng của ngƣời dân…Do đó, giữa các nƣớc
khác nhau thƣờng có những quy định khác biệt về tài sản của vợ chồng.
Tuy nhiên, về cơ bản tài sản của vợ chồng đƣợc xác định dựa trên hai căn
cứ: Sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng và theo các quy định của
pháp luật (chế độ tài sản pháp định) [24;30].
Trong cơ chế thị trƣờng, đất đai trở thành một yếu tố không thể thiếu
đƣợc của nền sản xuất hàng hóa. Đất đai từ chỗ là điều kiện sinh tồn,
chuyển thành tƣ liệu sản xuất - điều kiện vật chất cần thiết của hoạt động
sản xuất, kinh doanh và vận động không ngừng, nhằm mang lại nhiều lợi
10


nhuận cho ngƣời sử dụng đất. Việc thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử
dụng đất là một trong những hình thức bảo đảm tiền vay chủ yếu của các
ngân hàng, đồng thời cũng là một vấn đề pháp lý rất phức tạp, nhất là đặt
nó trong bối cảnh hôn nhân. Đây là những điều kiện tiền đề cho việc ra
đời quy định góp vốn bằng quyền sử dụng đất là tải sản chung của vợ
chồng.

pha trộn (đúng hơn, là sự kết hợp) giữa luật gia đình và luật dân sự. Dựa
vào luật dân sự, luật về quan hệ tài sản của vợ chồng xây dựng các quy
tắc liên quan đến thành phần cấu tạo các khối tài sản, đến quyền của vợ
chồng đối với các khối tài sản đó, cũng nhƣ đến các nghĩa vụ tài sản của
vợ chồng đối với ngƣời thứ ba hoặc đối với nhau [22;17]. Dựa vào luật
gia đình, luật về quan hệ tài sản xây dựng các quy tắc mang tính đặc thù
liên quan đến nghĩa vụ và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản, cũng
nhƣ đến việc xác lập quyền sở hữu đối với một số tài sản nhất định, áp
dụng trong điều kiện ngƣời có tài sản, ngƣời có nghĩa vụ, là ngƣời có vợ
(chồng).
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều qui định hai cách thức xác lập
quan hệ tài sản trên. Trong trƣờng hợp không có thỏa thuận của vợ chồng
thì việc giải quyết quan hệ tài sản của họ tuân theo pháp luật. Nhƣ vậy,
chỉ khi không có thỏa thuận của vợ chồng thì chế độ tài sản của họ mới
theo sự điều chỉnh của pháp luật. Thực tế cho thấy, việc qui định nhƣ vậy
trƣớc hết đảm bảo đƣợc quyền tự định đoạt của cá nhân đối với tài sản
của mình. Hơn nữa, điều này còn cho phép vợ chồng có thể tự bảo toàn
khối tài sản riêng của mình; giảm, tránh những xung đột về tài sản sau khi
chia tay. Từ đó, góp phần làm giảm chi phí khi ly hôn và giúp tòa án xác
định tài sản riêng, chung dễ dàng và nhanh chóng hơn. Xét về góc độ
kinh tế thì vợ chồng đƣợc tự do thỏa thuận chế độ tài sản sẽ giúp họ giảm
thiểu các rủi ro trong kinh doanh, do đó tránh đƣợc tình trạng gia đình
bấp bênh khi cả hai vợ chồng cùng tham gia các hoạt động kinh doanh có
rủi ro cao. Vì vậy, nghiên cứu tình hình xây dựng và phát triển chế độ tài
sản vợ chồng theo thỏa thuận trong pháp luật Việt Nam, từ đó, tìm hiểu
12


các qui định cụ thể trong lĩnh vực này là việc làm hết sức cần thiết hiện
nay.

thoả thuận của vợ chồng nhằm mục đích kinh doanh hoặc thực hiện nghĩa
vụ dân sự riêng. Ngoài ra, theo Điều 213 BLDS năm 2015, "Vợ chồng
cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung; có quyền ngang nhau
trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung" [33; điều 213]
- Đặc điểm của tài sản chung của vợ chồng trong hôn nhân
Quan hệ HN&GĐ có tính chất đặc biệt không giống những hợp
đồng, nghĩa vụ dân sự khác. Đây là quan hệ mà sự xác lập dựa trên yếu tố
tình cảm. Những giao dịch về tài sản mà vợ chồng xác lập trong thời kì
hôn nhân hầu nhƣ vì mục đích xây dựng gia đình. Vì thế, chế độ tài sản
chung của vợ chồng có những nét đặc trƣng cơ bản:
Thứ nhất, xét về chủ thể của quan hệ sở hữu thì các bên phải có quan
hệ hôn nhân hợp pháp với tƣ cách là vợ chồng của nhau. Do vậy, để trở
thành chủ thể của quan hệ sở hữu này, các chủ thể ngoài việc có đầy đủ
năng lực chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự còn đòi hỏi họ phải tuân thủ
các điều kiện kết hôn đƣợc quy định trong pháp luật hôn nhân và gia đình.
Thứ hai, xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của gia đình đối với sự
tồn tại và phát triển của xã hội, nhà nƣớc bằng pháp luật quy định chế độ tài
sản của vợ chồng đều xuất phát từ mục đích trƣớc tiên và chủ yếu nhằm bảo
đảm quyền lợi của gia đình, trong đó có lợi ích cá nhân của vợ và chồng.
Những quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng là cơ sở tạo
điều kiện để vợ chồng chủ động thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình
đối với tài sản của vợ chồng.
Thứ ba, căn cứ xác lập, chấm dứt chế độ tài sản này phụ thuộc vào sự
phát sinh, chấm dứt của quan hệ hôn nhân hay nói cách khác, chế độ tài sản
của vợ chồng thƣờng chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân.
Chế độ tài sản đƣợc pháp luật ghi nhận, dù là chế độ tài sản theo thỏa
thuận hay chế độ tài sản luật định đều nhằm mục đích điều chỉnh các quan
hệ tài sản của vợ chồng, tạo điều kiện để vợ, chồng có những cách “xử sự”
theo yêu cầu của pháp luật và phù hợp với đạo đức xã hội.
14

ghi tên cả vợ và chồng thì bên đƣợc chia phần tài sản bằng hiện vật có
15


quyền yêu cầu cơ quan đăng ký tài sản cấp lại giấy chứng nhận quyền sở
hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở văn bản thỏa thuận của
vợ chồng hoặc quyết định của Tòa án về chia tài sản chung.
Về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận: trƣờng hợp vợ chồng
lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận thì vợ chồng có thể thỏa
thuận về xác định tài sản theo một trong các nội dung: Tài sản giữa vợ và
chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng; Giữa vợ và
chồng không có tài sản riêng của vợ, chồng mà tất cả tài sản do vợ, chồng có
đƣợc trƣớc khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung;
Giữa vợ và chồng không có tài sản chung mà tất cả tài sản do vợ, chồng có
đƣợc trƣớc khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu riêng
của ngƣời có đƣợc tài sản đó; Xác định theo thỏa thuận khác của vợ chồng.
Trong trƣờng hợp vợ chồng chọn chế độ tài sản theo luật định thì khi
đó quyền sử dụng đất sẽ là tài sản chung hợp nhất của vợ chồng nếu nó hình
thành từ sản chung, hoặc đƣợc vợ chồng thống nhất nhập từ tài sản riêng
vào tài sản chung. Còn nếu chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì khi đó
quyền sử dụng đất là tài sản riêng của vợ hoặc chồng nếu nó đƣợc hình
thành từ nguồn tài sản riêng hay vợ, chồng tự thỏa thuận tách thành tài sản
riêng.
- Đặc điểm của quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng
Quyền sử dụng đất khi xem xét dƣới góc độ tài sản của vợ chồng
cũng mang đầy đủ các đặc trƣng của tài sản chung của vợ chồng. Cụ thể:
Thứ nhất: vợ chồng bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt tài sản chung
Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2014 ghi nhận nguyên tắc vợ chồng
bình đẳng với nhau về mọi mặt trong gia đình, tài sản chung của vợ

Khi vợ hoặc chồng đã biệt tích (vắng mặt tại nơi cƣ trú) từ 2 năm
liền trở lên, đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm mà vẫn
không có tin tức xác thực của ngƣời đó (tức là Tòa án đã ra thông báo tìm
kiếm nhƣ nói ở trên) thì những ngƣời liên quan, có thể là chồng (hoặc
vợ), bố mẹ, con đã trƣởng thành … có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố
17


ngƣời đó mất tích. Thời hạn 2 năm đƣợc tính từ ngày biết đƣợc tin tức
cuối cùng về ngƣời đó. Trƣờng hợp Tòa án ra quyết định tuyên bố một
ngƣời mất tích thì sẽ chỉ định ngƣời để quản lý tài sản cho ngƣời mất tích.
Theo nguyên tắc tài sản của ngƣời trong thời gian mất tích không ai đƣợc
phép định đoạt, sử dụng. Nhƣ vậy nếu quyền sử dụng đất là tài sản chung
của vợ chồng, trong trƣờng hợp một bên mất tích thì bên kia sẽ không
đƣợc chuyển quyền sử dụng đất. Bởi tài sản chung của vợ chồng là tài sản
chung hợp nhất không chia đƣợc. Vợ hoặc chồng trong trƣờng hợp này
chỉ đƣợc quyền định đoạt phần tài sản của mình tƣơng ứng với ½ giá trị
quyền sử dụng đất đó.
+ Trƣờng hợp vợ hoặc chồng bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
Theo qui định tại khoản 1 Điều 23 BLDS năm 2005 thì ngƣời bị
hạn chế năng lực hành vi dân sự là ngƣời nghiện ma tuý hoặc nghiện các
chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình và bị Toà án ra
quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự theo yêu cầu của
ngƣời có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan [33].
Trong BLDS năm 2015, nội dung này đƣợc qui định tại khoản 1,2 điều 24
[34; Điều 24].
Theo qui định tại Điều 24, Khoản 2 Bộ luật dân sự năm 2015 thì nếu
vợ hoặc chồng là ngƣời bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì có quyền yêu
cầu Tòa án tuyên bố chồng hoặc vợ mình bị hạn chế năng lực [33]. Trong
trƣờng hợp này ngƣời đại diện cho ngƣời bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

Việt Nam, sự tồn tại của quan hệ tài sản giữa vợ và chồng lệ thuộc vào sự
tồn tại của quan hệ hôn nhân. Trong trƣờng hợp hai ngƣời chung sống với
nhau mà không kết hôn , nếu có xảy ra tranh chấp sẽ giải quyết theo thoả
thuận của các bên [38;16]. Quan hệ tài sản giữa vợ chồng bị thủ tiêu

,

trong trƣờng hợp hai ngƣời chung sống với nhau có đăng ký kết hôn

,

nhƣng sau đó hôn nhân bị hủy theo một bản án hoặc quyết định của Toà
án. Quan hệ tài sản giữa vợ chồng chấm dứt , trong trƣờng hợp hai ngƣời
chung sống với nhau có đăng ký kết hôn , nhƣng sau đó hôn nhân chấm
dứt do ly hôn hoặc do có một ngƣời chết.
19


1.2.2. Khái niệm góp vốn bằng quyền sử dụng đất
Luật đất đai năm 2013 [32] quy định cho ngƣời sử dụng đất có
quyền chuyển đổi, chuyển nhƣợng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh
và góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất. Trong đó quyền đƣợc góp vốn
bằng giá trị quyền sử dụng đất chƣa đƣợc quy định cụ thể mà Luật đất đai
năm 2013 chỉ quy định các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình đƣợc Nhà nƣớc
giao đất phải trả tiền sử dụng đất, cho thuê đất mà trả tiền thuê đất cả thời
gian thuê hoặc trả trƣớc tiền thuê đất cho nhiều năm, nếu thời hạn thuê
đất đã đƣợc trả tiền còn lại ít nhất 5 năm có quyền góp vốn bằng quyền sử
dụng đất trong thời hạn giao đất, cho thuê đất.
Đồng thời, cũng theo nhƣ quy định tại khoản 10 Điều 3 Luật Đất đai
năm 2013 thì góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất chính là một hình

xử lý để giải quyết các khoản nợ.
Thứ ba, giá trị vốn góp đƣợc xác định không chỉ bao gồm quyền sử
dụng đất mà cả giá trị tài sản thuộc sở hữu của bên góp vốn gắn liền với
đất. Vì thực tế sử dụng đất cho thấy đất đai luôn gắn liền với các tài sản
trên đất và trong nhiều trƣờng hợp giá trị của các tài sản này đƣợc thừa
nhận chỉ khi nó gắn liền với đất.
Thứ tư, việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất không làm thay đổi
quan hệ sở hữu đất đai bởi trong quan hệ góp vốn bằng quyền sử dụng đất
thì ngƣời góp vốn không phải là chủ sở hữu đất đai. Ngƣợc lại, đối với
các quan hệ góp vốn bằng các tài sản khác thì ngƣời góp vốn đồng thời là
chủ sở hữu các tài sản này. Do đó, khi doanh nghiệp bị phá sản sẽ có sự
thay đổi chủ sở hữu đối với các tài sản này thông qua việc xử lý phần tài
sản vốn góp.
Thứ năm, góp vốn bằng các tài sản khác đƣợc thực hiện theo ý chí
của chủ sở hữu và không bị pháp luật hạn chế về các điều kiện thực hiện.
Trƣờng hợp góp vốn bằng quyền sử dụng đất thì ngƣời sử dụng đất chỉ
đƣợc thực hiện trong thời hạn giao đất hoặc cho thuê đất.
Thứ sáu, quyền sử dụng đất đƣợc coi là một loại quyền về tài sản và
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cơ sở pháp lý xác định quyền về tài
21


sản của ngƣời sử dụng đất. Do đó, việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất
chỉ đƣợc thực hiện khi ngƣời sử dụng đất có giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất do cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền cấp. Hơn nữa, việc góp
vốn này có thể bị chấm dứt bởi ý chí của Nhà nƣớc khi các bên vi phạm
nghiêm trọng các quy định của pháp luật.
Thứ bảy, đất đai có vai trò đặc biệt quan trọng đối với con ngƣời và
đất đai ở nƣớc ta thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nƣớc thống nhất quản lý
nên việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đƣợc đăng ký tại cơ quan
Trích đoạn Về chế định góp vốn bằng quyền sửdụng đất ở nƣớc ta giai đoạn Điều kiện để vợchồng sửdụng tài sản chung là quyền sửdụng đất để góp Hợp đồng góp vốn bằng quyền sửdụng đất là tài sản chung của vợchồng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status