ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ HÒA
HIỆU LỰC CỦA THỎA THUẬN VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Văn Cừ
Hà Nội - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin
cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả
các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN
1.3. Điều kiện, thời điểm có hiệu lực của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ
chồng...................................................................................................................21
1.4. Vai trò, ý nghĩa của hiệu lực của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ
3
chồng...................................................................................................................23
1.5. Hiệu lực của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng ở một số nước trên
thế giới................................................................................................................25
1.5.1. Pháp luật Hoa Kỳ......................................................................................25
1.5.2. Pháp luật Pháp..........................................................................................26
1.5.3. Pháp luật Nhật Bản...................................................................................27
1.5.4. Pháp luật Trung Quốc...............................................................................28
1.5.5. Pháp luật Úc.......................................................................................29
Kết luận chương 1...............................................................................................30
Chƣơng 2. PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HIỆU LỰC CỦA THỎA THUẬN
VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG....................................................31
2.1. Hiệu lực của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng thời kỳ trước Luật
HN&GĐ năm 2014.............................................................................................31
2.1.1. Hiệu lực của hỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật
miền Nam trước năm 1975.................................................................................33
2.1.2. Hiệu lực của hỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật
HN&GĐ từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến Luật HN&GĐ năm
2000....................................................................................................................33
2.2. Hiệu lực của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ trong theo Luật HN&GĐ
năm 2014.............................................................................................................36
2.2.1. Việc công nhận chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận..................37
2.2.2. Sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ
chồng...................................................................................................................39
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................69
5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS
Bộ luật Dân sự
HN&GĐ
HN&GĐ
DLBK
Bộ luật Dân sự Bắc kỳ năm 1931
BLTK
Bộ luật Dân sự Trung kỳ năm 1936
DLGYNK
Dân luật giản yếu Nam Kỳ năm 1883
TAND
Tòa án nhân dân
tranh chấp về tài sản của vợ chồng cũng cho thấy những bất cập của pháp luật
về vấn đề này. Các quy định này đã bộc lộ nhiều hạn chế, vướng mắc gây khó
7
khăn, thậm chí lúng túng trong quá trình áp dụng pháp luật của các đương sự
cũng như của Tòa án khi tiến hành giải quyết các vấn đề liên quan tới thỏa
thuận về chế độ tài sản của vợ chồng.
Luật HN&GĐ năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2015) có một quy
định mới đáng chú ý, đó là quy định về việc thỏa thuận tài sản vợ chồng trước
khi kết hôn (nhiều người gọi là Hợp đồng hôn nhân hay Hôn ước). Cụ thể, trước
khi đăng ký kết hôn, hai người có thể lập một văn bản thỏa thuận về tài sản nào
của riêng vợ, tài sản nào của riêng chồng và tài sản nào sẽ là của chung hai vợ
chồng. Bên cạnh đó, vợ chồng cũng có thể thỏa thuận bất cứ một nội dung nào
khác có liên quan tới tài sản của hai người, chẳng hạn quyền và nghĩa vụ của
mỗi người, điều kiện, nguyên tắc phân chia tài sản… Việc lập thỏa thuận tài sản
vợ chồng trước khi kết hôn nhằm củng cố vững chắc quan hệ vợ chồng bởi vì
nếu hiểu rõ ràng ý kiến của nhau về tiền bạc, tài sản sẽ giúp cuộc hôn nhân lâu
bền hơn, việc thỏa thuận tài sản vợ chồng trước khi kết hôn còn bảo đảm cho
một cam kết hôn nhân thực sự chứ không vì hôn nhân vụ lợi, góp phần làm
giảm tranh chấp khi ly hôn. Tuy nhiên, trên thực tế rất ít trường hợp các cặp vợ
chồng thỏa thuận về chế độ tài sản trước khi kết hôn vì người dân còn chưa nắm
vững quy định pháp luật, quan niệm của người dân về hôn nhân nặng về tình
cảm.
Thực trạng trên cho thấy, cần thiết thực hiện công trình nghiên cứu sâu về
thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng để nhận dạng những điểm chưa hợp
lý của pháp luật và đưa ra những giải pháp để hoàn thiện pháp luật. Với nhận
thức như vậy, tôi đã lựa chọn vấn đề “Hiệu lực của thỏa thuận về chế độ tài
sản của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam" làm đề tài luận văn thạc sỹ luật
Thứ nhất, đề tài đi sâu nghiên cứu về chế thỏa thuận về chế độ tài sản
của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ, đặc biệt là Luật Dân sự
và Luật HN&GĐ hiện hành.
9
Thứ hai, luận văn nghiên cứu các quy định mới của Luật Dân sự và Luật
HN&GĐ hiện hành về thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng. Đồng thời, so
sánh chế định này với chế định hôn ước, hợp đồng hôn nhân của pháp luật của
một số quốc gia trên thế giới.
Thứ ba, luận văn đi sâu phân tích hiệu lực của thỏa thuận về chế độ tài
sản của vợ chồng nhằm xác định điều kiện có hiệu lực, thời điểm có hiệu lực,
quyền nghĩa vụ của vợ chồng về thỏa thuận chế độ tài sản trước khi kết hôn.
Thứ tư, luận văn cũng đưa ra những ví dụ cụ thể về thực tiễn áp dụng các
quy định thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng sau hơn 1 năm kể từ khi
Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực để thấy được những hạn chế và nguyên
nhân của hạn chế nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình
nghiên cứu, hoàn thiện chế định pháp luật về thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ
chồng, từ đó nâng cao vai trò và hiệu quả điều chỉnh của pháp luật đối với đời
sống xã hội. Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảocho việc
nghiên cứu và học tập các môn học như Luật Dân sự, Luật HN&GĐ... ở các cơ
sở đào tạo pháp luật tại Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ, đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu
các quy định về thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam
mà không nghiên cứu về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định. Đặc biệt,
luận văn tập trung nghiên cứu các quy định về hiệu lực của thỏa thuận về chế độ
tài sản của vợ chồng trong Luật HN&GĐ năm 2014. Bên cạnh đó, đề tài chỉ
6.1. Nội dung nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu các nội dung về: Những vấn đề lý luận cơ
bản về thỏa thuận tài sản của vợ chồng; Pháp luật Việt Nam về vấn đề thỏa
thuận chế độ tài sản của vợ chồng; Thực tiễn áp dụng tại các quy định này và
11
các giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về
thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng.
6.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng nhiều
phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp
so sánh, phương pháp lịch sử, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp
thống kê. Trong quá trình nghiên cứu có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn
thông qua điều tra, khảo sát,… từ đó đánh giá bản chất của hiện tượng trong
phạm vi đề tài nghiên cứu.
6.3. Địa điểm nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu trên lãnh thổ Việt Nam.
7. Kết cấu luận văn
Với định hướng trên, ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu
tham khảo, nội dung của luận văn được kết cầu gồm 3 chương:
Chương 1. Lý luận cơ bản về hiệu lực của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ
chồng
1.1. Khái niệm thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng
1.1.1. Chế độ tài sản của vợ chồng
1.1.2. Các loại chế độ tài sản của vợ chồng
1.1.3. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng trước khi kết hôn
1.2. Khái niệm hiệu lực của thỏa thuận về chế độ tài sản cua vợ chồng
1.3. Điều kiện, thời điểm có hiệu lực của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ
2.2.6. Hiệu lực của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng khi huỷ hôn nhân
trái pháp luật khi vợ chồng ly hôn
Chương 3. Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về
thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng
3.1. Thực tiễn áp dụng thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng
3.2. Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về thỏa thuận về chế độ tài
13
sản của vợ chồng
3.2.1. Những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chế độ tài sản của vợ
chồng
3.2.2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về chế độ tài
sản của vợ chồng
3.2.2.1. Phát huy vai trò của công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định của
pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng
3.2.2.2. Giải pháp nâng cao chất lượng xét xử các vụ việc liên quan tới chế độ
tài sản của vợ chồng
3.2.2.3. Giải pháp nâng cao chất lượng công chứng của các tổ chức hành nghề
công chứng
14
Chƣơng 1.
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU LỰC CỦA THỎA THUẬN VỀ CHẾ ĐỘ
TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG
1.1. Khái niệm thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng
1.1.1. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận
Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận là hệ quả của thỏa thuận
giữa hai vợ chồng về lựa chọn chế độ tài sản trong thời kỳ hôn nhân.
Pháp luật ở các quốc gia trên thế giới đều quy định về chế độ tài sản của
vợ chồng, có thể không giống nhau. Ngay tại một quốc gia, chế độ tài sản của
vợ chồng được quy định có thể khác nhau theo từng giai đoạn phát triển. Điều
này phụ thuộc vào quan điểm, chính sách pháp luật, điều kiện phát triển kinh tế
- xã hội, truyền thống, tập quán của mỗi nước.
Chế độ tài sản của vợ chồng thực chất là chế độ sở hữu của vợ chồng. Vợ,
chồng với tư cách là công dân, vừa là chủ thể của quan hệ HN&GĐ, vừa là chủ
thể của quan hệ dân sự khi thực hiện quyền sở hữu của mình bằng cách tham gia
các giao dịch dân sự. Chế độ tài sản của vợ chồng có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, về mặt chủ thể của quan hệ sở hữu trong chế độ tài sản này, các
bên phải có quan hệ hôn nhân hợp pháp với tư cách là vợ chồng của nhau. Vì
thế, để trở thành chủ thể của quan hệ sở hữu này, các chủ thể ngoài việc có đầy
đủ năng lực chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự còn đòi hỏi họ phải tuân thủ
các điều kiện kết hôn được quy định trong pháp luật HN&GĐ.
Thứ hai, với vị trí, vai trò quan trọng của gia đình đối với sự tồn tại và
phát triển của xã hội, Nhà nước quy định chế độ tài sản của vợ chồng trong hệ
thống pháp luật xuất phát từ mục đích bảo đảm quyền lợi của gia đình, trong đó
có tính đến lợi ích cá nhân của vợ và chồng. Các quy định này tạo điều kiện để
vợ chồng chủ động thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đối với tài sản
của vợ chồng.
16
Thứ ba, chế độ tài sản này có căn cứ xác lập và chấm dứt phụ thuộc vào
sự kiện phát sinh và chất dứt của quan hệ hôn nhân. Có thể nói chế độ tài sản
của vợ chồng chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân.
Cuối cùng, chế độ tài sản của vợ chồng cũng có những đặc thù riêng
của các cặp vợ chồng. Trong đó thể hiện rõ ý chí của nhà nước khi điều chỉnh
các quan hệ tài sản giữa vợ và chồng bởi tổng hợp các quy phạm do nhà nước
ban hành điều chỉnh chế độ tài sản của vợ chồng phản ánh điều kiện vật chất
của xã hội đó, bảo đảm phù hợp với lợi ích, ý chí của giai cấp thống trị xã hội.
Pháp luật các quốc gia trên thế giới đã quy định có hai loại chế độ tài sản của vợ
chồng, đó là chế độ tài sản theo quy định của pháp luật (chế độ tài sản pháp
định) và chế độ tài sản theo sự thỏa thuận của vợ chồng (chế độ tài sản ước
định).
- Chế độ tài sản pháp định: Chế độ tài sản pháp định là chế độ tài sản mà
ở đó pháp luật đã dự liệu từ trước về căn cứ, nguồn gốc thành phần các loại tài
sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng (nếu có); quyền và nghĩa vụ của vợ
chồng đối với từng loại tài sản đó; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản
chung của vợ chồng; phương thức thanh toán liên quan đến các khoản nợ chung
hay riêng của vợ chồng. Chế độ tài sản này đươc tất cả dự liệu trong hệ thống
pháp luật của mình nhằm điều chỉnh các quan hệ tài sản của vợ chồng.
Chế độ tài sản ước định: Theo quan điểm thuần túy pháp lý của
các nhà làm luật tư sản, hôn nhân thực chất là một hợp đồng, một khế ước do
hai bên nam nữ thỏa thuận, xác lập trên nguyên tắc tự do, tự nguyện. Các quyền
và nghĩa vụ của vợ chồng được phát sinh và thực hiện trong thời kỳ hôn nhân
cũng giống như các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia giao kết hợp
đồng đó. Vì vậy, pháp luật cho phép trước khi kết hôn, hai bên được quyền tự
do ký kết hôn ước (hay còn gọi là khế ước) miễn sao không trái với các quy
định của pháp luật và đạo đức xã hội.
18
tế, giá trị thi hành. Hiệu lực của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng là giá
trị thi thành của thỏa thuận cũng như tác động của thỏa thuận quan hệ tài sản
của vợ chồng. Vì thế, trong trường hợp này hiệu lực có thể chia thành hiệu lực
pháp lý và hiệu lực thực tế.
Trong hầu hết các quyển Từ điển Tiếng Việt và Từ điển chuyên ngành
Luật ở Việt Nam hiện nay đều không có khái niệm “hiệu lực của thỏa thuận” mà
chỉ có các khái niệm khác gần với nó như “hiệu lực của hợp đồng” trong quyển
“Từ điển giải thích Luật học” của trường Đại học Luật Hà Nội, “hiệu lực của di
chúc” hay “hiệu lực của văn bản pháp luật” [92, tr.289; 225, tr.203-4]. Theo các
Từ điển này thì hiệu lực pháp luật (của văn bản pháp luật nói chung) “là tính bắt
buộc thi hành của văn bản…”, “là giá trị pháp lý của văn bản…, hoặc (giá trị)
áp dụng của văn bản đó,… thể hiện phạm vi tác động hoặc phạm vi điều chỉnh
của văn bản về thời gian, không gian và về đối tượng áp dụng” [225, tr.202;
287, tr.357-58]. Trong Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học có giải thích khái
niệm “hiệu lực của hợp đồng dân sự” là “giá trị bắt buộc thi hành đối các chủ
thể tham gia giao kết hợp đồng” [241, tr.65]. Tuy ngắn gọn, nhưng định nghĩa
này cũng phản ánh được bản chất của khái niệm hiệu lực hợp đồng. Tuy vậy,
nội hàm của định nghĩa này vẫn chưa đầy đủ và nếu giải thích rõ ra thì cũng có
phần chưa chính xác. Bởi lẽ, hiệu lực của hợp đồng, hiểu theo đúng bản chất
của nó, thì không chỉ là “giá trị bắt buộc thi hành” mà còn bao gồm cả việc sáng
tạo ra các quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể tham gia hợp đồng. Giá trị bắt
buộc thi hành còn là đặc điểm chung của nhiều loại giao dịch pháp lý khác, chứ
không phải là đặc trưng riêng có của hiệu lực hợp đồng.
Trong luật thực định, khái niệm hiệu lực hợp đồng cũng được quy định
trong các văn bản pháp luật của một số quốc gia. Chẳng hạn, BLDS Pháp có
quy định: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có giá trị là luật đối với các bên”,
“chỉ có thể bị hủy bỏ trên cơ sở có thỏa thuận chung, hoặc theo những căn cứ do
pháp luật quy định” và “phải được thực hiện một cách thiện chí” [19, Điều
mang tính cưỡng chế nhằm buộc các bên phải tôn trọng và thực thi đầy đủ các
cam kết trong thỏa thuận. Giá trị pháp lý và hiệu lực ràng buộc các bên phải tôn
21
trọng và thực hiện đúng thỏa thuận là hai mặt không thể thiếu của hiệu lực thỏa
thuận. Trên cơ sở nhận thức bản chất của “hiệu lực thỏa thuận”, tác giả xin đưa
ra khái niệm hiệu lực thỏa thuận như sau:
Hiệu lực thỏa thuận là giá trị pháp lý của thỏa thuận làm phát sinh các
quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia và giá trị pháp lý ràng buộc các bên
tham gia thỏa thuận phải tôn trọng và phải thi hành nghiêm túc các quyền và
nghĩa vụ đó.
Về phương diện lý luận, việc nhận thức đúng khái niệm hiệu lực thỏa
thuận là cơ sở để tiếp cận các vấn đề khác có liên quan đến việc nghiên cứu quá
trình tạo lập, xác nhận giá trị pháp lý và thực thi thỏa thuận. Khái niệm này
cũng thể hiện rõ các yếu tố quan trọng mang tính bản chất của hiệu lực thỏa
thuận, đó là sáng tạo ra, làm thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ giữa các
bên; đồng thời tạo ra sự ràng buộc pháp lý nhằm bắt buộc các bên tôn trọng và
nghiêm túc thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó.
Khi bàn về hiệu lực của thỏa thuận, người ta thường nhìn nhận hiệu lực
thỏa thuận ở nhiều khía cạnh: điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận, thời điểm có
hiệu lực của thỏa thuận, hiệu lực ràng buộc của thỏa thuận và hiệu lực tương đối
của thỏa thuận.
1.3. Điều kiện, thời điểm có hiệu lực của thỏa thuận về chế độ tài sản
của vợ chồng
Điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận là tổng hợp những yêu cầu pháp lý
nhằm đảm bảo cho thỏa thuận được lập đúng bản chất đích thực của nó. Đây là
những điều kiện cần và cũng là tiền đề pháp lý nhằm đảm bảo cho thỏa thuận
được xác lập hợp pháp và có hiệu lực ràng buộc đối với các bên. Điều kiện có
Về nguyên tắc, khi các bên không có thỏa thuận và pháp luật không có
quy định khác thì hợp đồng mặc nhiên có hiệu lực vào thời điểm giao kết. Thời
điểm giao kết hợp đồng thường là thời điểm các bên thỏa thuận xong nội của
hợp đồng, hay khi bên đề nghị đã nhận được trảlời chấp nhận hợp lệ của bên
được đề nghị. Như đã phân tích, pháp luật Việt Nam xác định thời điểm giao kết
hợp đồng dựa trên nguyên tắc tuyên bố ý chí, tức dựa vào hình thức công bố ý
chí thể hiện sự thỏa thuận.
- Thời điểm do các bên thỏa thuận
23
Về nguyên tắc, hợp đồng có hiệu lực tại thời điểm giao kết, nhưng các
bên có thể thỏa thuận hợp đồng phát sinh hiệu lực tại một thời điểm khác. Quy
định này dựa trên cơ sở nguyên tắc tự do hợp đồng. Vì các bên có quyền tự do
thỏa thuận nội dung hợp đồng, nên cũng có quyền tự do lựa chọn thời điểm có
hiệu lực của hợp đồng. Tất nhiên, các bên có thể thỏa thuận thời điểm có hiệu
lực của hợp đồng khác với quyđịnh của pháp luật, nhưng không được trái pháp
luật hoặc trái với bản chất của hợp đồng.
Trong thực tiễn, khi các bên đàm phán và soạn thảo hợp đồng, không ít
trường hợp các bên thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là một thời
điểm xác định, khác với thời điểm giao kết và thời điểm có hiệu do luật định.
- Thời điểm do pháp luật quy định
Nếu pháp luật quy định thời điểm hợp đồng có hiệu lực là thời điểm hợp
đồng được lập theo đúng hình thức nhất định, thì chỉ khi các bên đã tuân theo
hình thức đó, hợp đồng mới có hiệu lực. Trong những trường hợp đặc thù cần
có sự kiểm soát chặt chẽ về thủ tục xác lập hợp đồng và để bảo vệ các bên thiếu
kinh nghiệm trước những quyết định bất ngờ, nhà làm luật thường quy định hợp
đồng phải được lập bằng các hình thức văn bản có công chứng, chứng thực hoặc
đăng ký.
hiện đại đã ghi nhận quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng là bình đẳng. Vợ
chồng bình đẳng trong việc dạy dỗ con cái, chia sẻ công việc gia đình, cùng lao
động để tạo dựng khối tài sản chung của gia đình và cùng quản lý, sử dụng, định
đoạt khối tài sản chung đó. Vợ chồng có thể uỷ quyền cho nhau quản lý khối tài
sản chung, có quyền thừa kế tài sản của nhau khi người kia chết. Hệ thống pháp
luật HN&GĐ của Nhà nước ta từ năm 1945 đến nay đều thực hiện nguyên tắc
vợ chồng bình đẳng khi quy định về chế độ tài sản của vợ chồng, không bên nào
được áp đặt, phụ thuộc bên nào.
- Chế độ tài sản của vợ chồng được quy định trong pháp luật có vai trò
dùng để xác định các loại tài sản trong quan hệ giữa vợ chồng và gia đình. Khi
hai bên nam nữ kết hôn với nhau trở thành vợ chồng, chế độ tài sản của vợ
chồng được dự liệu với những thành phần tài sản của vợ chồng. Dù vợ chồng
25