ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN QUỲNH HƯƠNG
XÁC ĐỊNH TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ LIÊN ĐỚI CỦA
VỢ CHỒNG TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN QUỲNH HƯƠNG XÁC ĐỊNH TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ LIÊN ĐỚI CỦA VỢ CHỒNG
1.3. Sơ lƣợc về trách nhiệm liên dân sự đới của vợ chồng trong hệ thống
pháp luật Việt Nam………………………………………………….21
1.3.1. Trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng theo những quy định về chế
độ hôn sản bậc nhất ở Nam kỳ trước năm 1959………………………21
1.3.2. Trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng theo theo chế độ hôn sản bậc
nhất ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ trước năm 1959…………………………24
1.3.3. Trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng theo Luật HN&GĐ trong thời kỳ
Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (từ 1945 đến 1954)……………… 27
3
1.3.4. Trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng theo Luật Gia đình năm
1959, Sắc luật số 15/64 năm 1964 và bộ Dân luật Sài Gòn năm 1972 ở miền
Nam …………………………………………………………………………29
1.3.5. Trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng theo Luật HN&GĐ năm
1959 của Nhà nước ta………………….…………………………………….33
1.3.6. Trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng theo Luật HN&GĐ năm
1986, 2000………………………………………………………………… 36
CHƢƠNG 2: XÁC ĐỊNH TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ LIÊN ĐỚI CỦA
VỢ CHỒNG TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
2.1. Xác định trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng đối với giao dịch
do một bên vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt
thiết yếu của gia đình………………………………………………………41
2.2. Xác định trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng trong trƣờng hợp
vợ, chồng thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản có giá trị lớn, tài
sản là nguồn sống duy nhất của gia đình, tài sản đầu tƣ kinh doanh, tài
sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản đó là nguồn sống duy nhất của gia
đình………………………………………………………………………….46
2.3. Xác định trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng trong trƣờng hợp
bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng………………………………………58
2.3.1. Trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng trong việc bồi thường thiệt
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HN&GĐ
: HN&GĐ
Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001
của Chính phủ quy định chi tiết Luật Hôn nhâ và
gia đình năm 2000
: Nghị định số
70/2001/NĐ-CP
BLDS
: BLDS
Dân Luật Bắc
: DLB
Dân Luật Trung
: DLT
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 1992
: Hiến pháp năm 1992
Sắc lệnh số 97-SL ngày 22/5/1950 về sửa đổi, bổ
sung một số quy lệ và chế định trong dân luật
: Sắc lệnh số 97-SL
Sắc luật số 15/64 ngày 23/7/1964 quy định về
giá thú, tử hệ và tài sản cộng đồng
: Sắc luật số 15/64
Tòa án Nhân dân tối cao
: TANDTC
Tòa án Nhân dân
: TAND
năm 1986 và năm 2000. Pháp luật điều chỉnh về trách nhiệm dân sự liên đới
của vợ chồng vừa mang tính khách quan, vừa thể hiện ý chí chủ quan của Nhà
nước. Kế thừa và phát triển các quy định về trách nhiệm dân sự liên đới của
vợ chồng trong pháp luật Việt Nam, Luật HN&GĐ năm 2000 của Nhà nước
7
ta đã dành Điều 25 trong chương III: “Quan hệ giữa vợ và chồng” để quy định
về vấn đề này, cụ thể: ““Vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối
với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp
ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình” [44].
Tuy nhiên, việc áp dụng quy định này trên thực tế cho thấy còn xuất
hiện khá phổ biến những vụ án mà vợ hoặc chồng đưa đơn ra toà đề nghị tòa
án hủy giao dịch do một bên thực hiện (chủ yếu nhất là hợp đồng dân sự) mà
một bên không hay biết. Tòa án sẽ tuyên giao dịch đó vô hiệu nhưng việc xác
định trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng rất phức tạp và có sự giải quyết
khác nhau giữa các tòa án.
Việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá về trách nhiệm dân sự liên đới của
vợ chồng là vấn đề có ý nghĩa thiết thực, vừa làm rõ những ưu điểm, hạn chế,
vừa đề ra những giải pháp trứơc mắt và lâu dài nhằm nâng cao hơn nữa vai
trò, trách nhiệm của vợ chồng đối với đời sống của gia đình nói riêng và toàn
xã hội nói chung. Vì thế, việc lựa chọn và nghiên cứu đề tài “ Xác định trách
nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng trong pháp luật Việt Nam” làm luận
văn thạc sỹ sẽ phần nào đáp ứng được những đòi hỏi cấp bách hiện nay trên
cả phương diện khoa học và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trách nhiệm dân sự nói chung và trách nhiệm dân sự liên đới nói riêng
là một chế định quan trọng được quy định trong hệ thống pháp luật dân sự từ
trước tới nay và đã có nhiều công trình khoa học, bài viết đề cập tới vấn đề
này. Tuy nhiên, nghiên cứu về trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng khi
một bên thực hiện giao dịch dân sự vì lợi ích thiết yếu của gia đình với tư
9
thiết. Đây sẽ là một công trình nghiên cứu có hệ thống cả về mặt lý luận và
thực tiễn.
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
Về phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp của
triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác Xít, trong đó chủ yếu sử
dụng phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp phân tích,
tổng hợp, so sánh. Luận văn cũng sử dụng một số phương pháp khác của khoa
học thống kê để thống kê số liệu liên quan đến các vụ án HN&GĐ tại thành
phố Đà Nẵng – nơi tác giả đang sinh sống và làm việc.
4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những quy định của BLDS năm 1995 và 2005 về
trách nhiệm dân sự, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản, đối với
gia đình. Từ đó, tác giả đi sâu nghiên cứu cụ thể về những quy định liên quan
tới trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng trong pháp luật về HN&GĐ thời
kỳ từ năm 1945 đến nay trong mối liên hệ với thực tiễn để đề tài thêm phần
phong phú và có sức thuyết phục hơn.
5. Mục đích của đề tài - Những kết quả đã đạt đƣơc
* Mục đích nghiên cứu đề tài: Trên cơ sở phân tích lý luận và đánh giá
thực trạng việc thực hiện các quy định về trách nhiệm dân sự liên đới của vợ
chồng, luận văn sẽ tập trung làm sáng tỏ những quy định về trách nhiệm liên
đới, tìm được những tồn tại của pháp luật về vấn đề này, từ đó đưa ra những
đề xuất, giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn pháp luật HN&GĐ cũng như góp
phần giải quyết những vấn đề, vướng mắc còn tồn tại xung quanh các vụ án
liên quan tới trách nhiệm liên đới của vợ chồng trong thực tế.
* Những điểm mới của Luận văn
10
Luận văn là công trình khoa học đầu tiên phân tích một cách toàn diện,
sự liên đới của vợ chồng
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm trách nhiệm dân sự
Trong đời sống xã hội từ xưa tới nay, mọi cá nhân đều có quyền sống,
quyền mưu cầu hạnh phúc và các quyền đó luôn được pháp luật của mỗi quốc
gia có chủ quyền thừa nhận và bảo vệ. Cũng trong xã hội mà cá nhân đang
sống, cùng với việc cá nhân được hưởng các quyền lợi nhất định do nhà nước
thừa nhận hoặc cho phép thì cá nhân còn phải thực hiện nghĩa vụ có liên quan
trong các mối quan hệ xã hội mà cá nhân là chủ thể, như: nghĩa vụ tôn trọng
quyền sở hữu của người khác, tôn trọng trật tự công cộng, bảo vệ môi trường,
tôn trọng các quyền dân sự, quyền tự do kinh doanh, quyền lao động của
người khác…và khi họ không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ
nghĩa vụ của mình thì họ phải chiụ trách nhiệm với bên có quyền.
Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi muốn đi sâu tìm hiểu về khái
niệm “trách nhiệm dân sự” nói chung để từ đó tìm hiểu vấn đề cụ thể hơn:
“trách nhiệm dân sự liên đới” – trọng tâm của đề tài luận văn thạc sỹ.
Trước hết, trách nhiệm dân sự là một loại trách nhiệm pháp lý và luôn
được các luật gia xem là một vấn đề quan trọng được nghiên cứu tổng quát
trong khoa học Lý luận về nhà nước và pháp luật. Theo đó: trách nhiệm pháp
lý là một loại quan hệ pháp luật đặc biệt giữa nhà nước (thông qua các cơ quan
chuyên môn) và chủ thể vi phạm pháp luật (có thể là cá nhân hoặc pháp nhân),
trong đó bên vi phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả bất lợi và những
biện pháp cưỡng chế của nhà nước được quy định ở chế tài pháp luật. Tức là sự
12
cưỡng chế của nhà nước buộc người vi phạm pháp luật phải chấp hành quy
phạm pháp luật, trừng trị người vi phạm pháp luật, bắt buộc phải khôi phục lại
các quan hệ xã hội đã bị vi phạm.
Nếu xét về đặc điểm của trách nhiệm dân sự thì ở Việt Nam cũng tồn
tại nhiều quan điểm khác nhau, tuy nhiên đa số ý kiến đồng nhất với các đặc
điểm của trách nhiệm dân sự như sau:
Nhưng nghĩa vụ được phân biệt bởi nghĩa vụ bị vi phạm phát sinh từ
hợp đồng hoặc từ pháp luật. Tuy nhiên sự phân biệt có ý nghĩa trong việc
chứng minh. Ở đây, cần phân biệt thêm rằng, trách nhiệm hợp đồng là một
nguồn gốc phát sinh nghĩa vụ khác với hợp đồng. Nghĩa vụ hợp đồng phát
sinh trên cơ sở sự thống nhất ý chí của các đương sự hay hành vi vi phạm
pháp luật. Còn nghĩa vụ bồi thường phát sinh ngoài ý chí của đương sự, có
nghĩa là do luật định.
Từ những đặc điểm trên đây, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về trách
nhiệm dân sự. Tuy nhiên, xung quanh vấn đề này cũng tồn tại nhiều quan điểm
khác nhau ở cả Việt Nam và thế giới, cụ thể: phản ánh quan điểm của hầu hết
các luật gia Nga, O. S. Ioffe đưa ra định nghĩa: Trách nhiệm dân sự – đó là
những chế tài đối với vi phạm nghĩa vụ mà việc áp dụng những chế tài đó sẽ
dẫn đến hậu quả pháp lý bất lợi cho bên vi phạm dưới hình thức tước quyền
dân sự (như tước quyền sở hữu, tước quyền thừa kế…) hoặc bằng hình thức
đặt ra cho họ những nghĩa vụ mới hoặc nghĩa vụ bổ sung như nghĩa vụ bồi
thường thiệt hại, nghĩa vụ nộp phạt vi phạm hoặc nghĩa vụ trả tiền lãi đối với
khoản nợ được chậm trả. Chúng ta thấy rằng, dường như định nghĩa này đã
đồng nhất giữa trách nhiệm dân sự với chế tài dân sự, và cho rằng trách nhiệm
dân sự chỉ áp dụng cho vi phạm nghĩa vụ. Trong khi đó, một số luật gia Nhật
14
Bản phân tích: trách nhiệm được thể hiện bằng hình thức cưỡng chế thực hiện
nghĩa vụ đối với tài sản của người mắc nợ; tuy nhiên, có thể có trường hợp
trách nhiệm không có nghĩa vụ, chẳng hạn trách nhiệm áp dụng đối với người
bảo lãnh, người thứ ba sở hữu tài sản thế chấp. Vậy không phải bất kể trường
hợp nào bị áp dụng chế tài cũng đều có sự vi phạm nghĩa vụ 19.
Dưới chế độ cũ ở Việt Nam, có luật gia quan niệm: Trách nhiệm dân sự
là một nguồn gốc của nghĩa vụ căn cứ vào hành vi mà dân luật coi như là trái
luật (illicite). Do đó dân luật đã bắt buộc người thực hiện hành vi trái luật phải
bồi thường cho người bị thiệt hại. Tóm lại, trách nhiệm dân sự phát sinh ra
niệm về trách nhiệm dân sự như sau: Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm của
một người hoặc nhiều người phải thực hiện vì lợi ích hợp pháp của người
khác theo những căn cứ do pháp luật quy định.
1.1.2. Khái niệm trách nhiệm dân sự liên đới
Trách nhiệm dân sự nói chung chỉ phát sinh do một bên không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ đã giao kết, thỏa
thuận đối với bên kia hay do một bên có lỗi gây thiệt hại cho một bên khác về
tài sản, tính mạng, sức khỏe, các quyền nhân thân và bên bị thiệt hại đòi hỏi
sự bồi thường.
Từ những quy định trong BLDS hiện hành, chúng ta có thể chia nghĩa
vụ dân sự thành những loại sau đây:
- Nghĩa vụ dân sự riêng rẽ;
- Nghĩa vụ dân sự liên đới;
- Nghĩa vụ dân sự được chia theo phần;
16
- Nghĩa vụ dân sự hoàn lại;
- Nghĩa vụ dân sự bổ sung.
Pháp luật dân sự, bên cạnh việc quy định các quy tắc xử sự chung cho
các chủ thể khi họ tham gia giao dịch dân sự thì còn quy định trách nhiệm dân
sự nhằm áp dụng đối với các chủ thể nếu trong quá trình tham gia và thực
hiện các giao dịch dân sự đó mà không tuân thủ các quy tắc xử sự chung đó.
Khi xử sự của một hay nhiều chủ thể làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp
pháp của các chủ thể khác, thì xử sự đó bị coi là trái với quy định của pháp
luật dân sự. Bởi vậy, người bị xâm phạm có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ
quan nhà nước có thẩm quyền khác áp dụng trách nhiệm dân sự để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Khi trách nhiệm dân sự được áp dụng thì người có hành vi xử sự trái
quy định của pháp luật dân sự phải gánh chịu hậu quả pháp lý nhất định. Như
vậy, theo pháp luật dân sự: nghĩa vụ dân sự liên đới là nghĩa vụ của nhiều
quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực
hiện toàn bộ nghĩa vụ” [48]. Dựa vào những quy định này, chúng tôi cũng
đưa ra khái niệm về nghĩa vụ dân sự liên đới của vợ chồng như sau: Nghĩa vụ
dân sự liên đới của vợ chồng là nghĩa vụ mà trong đó vợ hoặc chồng có nghĩa
vụ phải thực hiện toàn bộ nội dung của nghĩa vụ phát sinh trong giao dịch
dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu
sinh hoạt thiết yếu của gia đình.
Từ cách hiểu về nghĩa vụ trên đây, chúng tôi cho rằng: Trách nhiệm
dân sự liên đới của vợ chồng là quy định của pháp luật về hậu quả pháp lý
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng buộc vợ, chồng phải cùng
18
nhau gánh chịu những hậu quả pháp lý nhất định nhằm bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp cho bên có quyền dân sự bị xâm phạm trong giao dịch dân sự
mà họ tham gia.
Đó là khái niệm về trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng theo dân
luật (nghĩa rộng). Từ đó, chúng ta sẽ đi sâu tìm hiểu pháp luật HN&GĐ quy
định vấn đề này như thế nào?.
* Khái niệm về trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng theo quy định
của pháp luật HN&GĐ.
Kế thừa và phát triển pháp luật dân sự nói chung và pháp luật về hôn
nhân gia đình nói riêng trong lịch sử, Quốc hội khóa X nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật HN&GĐ năm 2000. Đây là văn bản
luật có nhiều quy định rất tiến bộ trong chế độ HN&GĐ, đáp ứng được
nguyện vọng, mong muốn của đông đảo nhân dân trong cả nước. Trong đó,
Luật đã đặc biệt quan tâm, chú trọng tới vấn đề tài sản của vợ chồng, trách
nhiệm của vợ chồng đối với sinh hoạt chung của gia đình. Bởi tính chất cộng
đồng tạo sản của hôn nhân, tài sản chung của vợ chồng được sử dụng nhằm
đảm bảo đời sống chung của cả gia đình. Các hợp đồng, giao dịch do một bên
vợ hoặc chồng thực hiện với người thứ ba, nhằm lợi ích chung của gia đình
của vợ chồng mà chỉ có quy định về trách nhệm dân sự liên đới của vợ chồng
mà thôi [44].
Do đó, khác với những chế định khác, trách nhiệm dân sự liên đới của
vợ chồng mang những nét đặc thù nhất định:
- Chủ thể thực hiện nghĩa vụ là vợ chồng (có mối quan hệ ràng buộc về
tình cảm, hôn nhân và tài sản giữa vợ chồng là tài sản chung hợp nhất)
20
- Tài sản thực hiện nghĩa vụ, về nguyên tắc, trước hết phải là tài sản
chung hợp nhất, vì vậy, sau khi thực hiện trách nhiệm dân sự liên đới thì giữa
vợ chồng không phát sinh nghĩa vụ hoàn lại như trong dân sự. Ngay cả trong
trường hợp khi tài sản chung không đủ để thực hiện trách nhiệm liên đới mà
một bên vợ hoặc chồng có tài sản riêng và dùng tài riêng đó vào việc thực
hiện nghĩa vụ thì sau đó người vợ hoặc chồng còn lại cũng không phải thực
hiện nghĩa vụ hoàn lại cho chồng hoặc vợ mình. Đây là đặc điểm rất đặc thù
của trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng trong các giao dịch mà vợ,
chồng thực hiện.
1.2. Ý nghĩa của việc xác định trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
Việc xác định trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng đối với xã hội
là vô cùng quan trọng, có ý nghĩa to lớn trong quan hệ HN&GĐ. Pháp luật
HN&GĐ nói chung đã đạt được những bước tiến đáng kể khi đưa được những
quy định này vào Luật và cụ thể hóa những quy định đó trong Luật HN&GĐ
cũng như những văn bản pháp luật có liên quan, đáp ứng được nguyện vọng
của mọi người dân nói chung và của những người đã kết hôn nói riêng. Xuất
phát từ nguyên tắc cơ bản của chế độ HN&GĐ: hôn nhân tự nguyện, tiến bộ,
một vợ một chồng,vợ chồng luôn bình đẳng với nhau và có quyền và nghĩa vụ
ngang nhau về mọi mặt trong gia đình. Điều này cũng thể hiện sự tiến bộ về
trình độ, kĩ thuật lập pháp cũng như tiến bộ trong cách tiếp cận với vấn đề
bình đẳng giới của những nhà làm luật ở nước ta.
Trong cuộc sống và sinh hoạt gia đình, để đáp ứng nhu cầu về mặt vật
Thời kỳ này còn tồn tại sự bất bình đẳng giữa nam và nữ trong xã hội
nên án lệ Nam kỳ trước đây quan niệm rằng: không có chế độ cộng đồng tạo
22
sản mà chỉ công nhận người chồng là chủ của cải trong gia đình nên đối với
hành động của vợ, chồng chỉ có trách nhiệm khi chồng đã ủy nhiệm hay cho
phép vợ hành động. Ngoài ra, vì coi người vợ đặt dưới quyền của chồng nên
khi vợ vi phạm pháp luật, chồng có thể bị trách cứ cũng như cha mẹ bị trách
cứ về hành động của con vị thành niên gây thiệt hại cho người ngoài
Đi vào cụ thể từng loại trách nhiệm của người chồng phải liên đới gánh
chịu đối với hành động của người vợ chúng ta sẽ thấy được thời kỳ trước đây
người ta “trọng nam khinh nữ” như thế nào.
+ Trách nhiệm vì ủy quyền: người chồng có thể ủy quyền cho người vợ
để hành động thay mình và khi người vợ hành động trong phạm vi đã được ủy
quyền thì khối tài sản chung của vợ chồng phải gánh chịu trách nhiệm do
hành động ấy gây ra. Về chế độ tài sản của vợ chồng, tập Dân luật Giản Yếu
năm 1883 đã “sơ sót”, quên không dự liệu. Bởi vậy, liên quan đến chế độ tài
sản của vợ chồng, giải quyết các tranh chấp giữa vợ chồng với nhau và giữa
vợ chồng với những người khác được giải quyết theo án lệ. Do đó, sự ủy
quyền của chồng có thể công nhiên hoặc mặc nhiên. Riêng đối với những việc
giao ước thường nhật cần thiết cho sự sống của gia đình, án lệ ở miền Nam
công nhận rằng vợ được chồng ủy nhiệm mặc nhiên để hành động. Đây là
thuyết ủy quyền về nhu cầu của gia đình mà án lệ nước Pháp trước đây đã
công nhận.
+ Trách nhiệm vì sự cho phép: Tập Dân luật Giản Yếu năm 1883, tiết
V có đề cập tới hiệu lực của hôn thú, quy định người chồng có thể cho phép
người vợ được hành động một mình [4]. Án lệ đã giải thích rằng, khi cho
phép như vậy, người chồng đã chấp nhận cho người vợ đem khối hôn sản để
đảm bảo cho sự giao ước của vợ. Sự cho phép có thể công nhiên hoặc mặc
nhiên. Án lệ đã giải thích rộng rãi sự cho phép mặc nhiên và đã bắt chồng
+ Trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật của vợ: tục lệ của nước ta
đã công nhận từ lâu rằng ngoài những trách nhiệm về giao ước, gia đình còn
phải chịu trách nhiệm về sự thiệt hại do vợ có hành vi phạm pháp pháp luật,
thí dụ: tiền phạt hay bồi thường do Tòa hình bắt vợ chịu và tiền bồi thường vì
vợ không cẩn thận mà phải trả cho người bị thiệt hại. Án lệ Nam kỳ công
nhận trách nhiệm của chồng tức là của gia đình trong trường hợp này nhưng
đã căn cứ trách nhiệm ấy trên phu quyền (quyền của người chồng đối với
người vợ) mà án lệ đồng hóa với phụ quyền (quyền của người cha đối với
người con).
Như vậy, điểm qua những quy định của luật, án lệ trước đây, chúng ta
thấy rằng trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng đã được đặt ra nhưng còn
sơ sài, trao quá nhiều quyền cho người chồng vì xã hội thời kỳ đó công nhận
chỉ người chồng là người đại diện cho gia đình và là chủ sở hữu tài sản trong
gia đình. Do đó, người chồng dù làm việc gì cũng không cần phải có ý kiến
của người vợ mà theo quy định của pháp luật thời kỳ đó thì những việc làm
của người chồng luôn mặc nhiên được người vợ đồng ý. Tuy nhiên, đối với
người vợ thì không được pháp luật “ưu ái” như vậy nên nếu người vợ muốn
làm gì đều phải được người chồng cho phép, ủy quyền. Qua những quy định
trên đây, chúng ta có thể thấy sự tiến bộ của pháp luật thời kỳ đó khi thừa
nhận: nếu vợ có hành vi vi phạm khi đơn phương thực hiện giao dịch thì
người chồng đều phải gánh chịu trách nhiệm dân sự liên đới và có thể phải
dùng tất cả tài sản của gia đình để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của người
vợ.
1.3.2. Trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng theo chế độ hôn sản bậc
nhất ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ trƣớc năm 1959.