Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN THẢO LUẬN
( Nhóm 9)
Địa điểm: Ghế đá trước thư viện trường
Thời gian: 3h ngày 20 tháng 3 năm 2015
3h ngày 30 tháng 3 năm 2015
3h ngày 15 tháng 4 năm 2015
Nội dung họp:
Lần 1: Phân công công việc giao cho từng thành viên nhóm
Lần 2: Nhóm họp báo cáo kết quả, khắc phục bổ sung thiếu sót của đề
tài thảo luận từ đó tìm thêm những tài liệu cần thiết
Lần 3: Nhóm tổng kết kết quả lần cuối cho ra sản phẩm
Thành viên tham gia: 11/11
Hà Nội, ngày 30 tháng 4 năm 2015
Thư ký
Nguyễn Thị Phượng
Nhóm trưởng
Lê Thị Sen
1
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ VÀ XẾP LOẠI THÀNH VIÊN
NHÓM 8
MÔN:TƯ PHÁP QUỐC TẾ
Lớp học phần: 1516PLAW3211
Giảng viên HD: Th.s Phùng Bích Ngọc.
ST
T
Họ và tên Nhiệm vụ Đánh giá Ghi chú
1 Phùng Thị Mai Phương Câu 1 lí thuyết
2 Nguyễn Khắc Sơn
3 Nguyễn Thị Phượng Thư ký
Trong trường hợp pháp luật nước ngoài dẫn chiếu trở lại pháp luật Việt Nam
thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam.
3. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên có dẫn chiếu về việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật
nước ngoài được áp dụng.”
Như vậy, Việc áp dụng pháp luật nước nào trong quan hệ hôn nhân gia đình
có yếu tố nước ngoài trước hết phải căn cứ vào những Điều ước quốc tế mà Việt
Nam có tham gia ký kết. Đây là nguyên tắc cơ bản trong quan hệ tư pháp, áp dụng
các điều ước quốc tế sẽ giúp các chủ thể tham gia các quan hệ có yếu tố nước
ngoài trách được các xung đột pháp luật thường xuyên xảy ra trong quan hệ tư
pháp, khi mà pháp luật các bên điều chỉnh khác nhau trong cùng một vấn đề.
Điều luật trên còn đề cập đến một vấn đề pháp lý quan trọng khác, đó là vấn
đề pháp lý liên quan đến áp dụng pháp luật nước ngoài, cụ thể là vấn đề dẫn chiếu
ngược và dẫn chiếu ngược trở lại được quy định tại khoản 2.
I.2. Điều kiện kết hôn
Tại Điều 126 Luật HNGĐ 2014 quy định về Kết hôn có yếu tố nước ngoài có
quy định:
1. Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên
phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn
được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước
ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn.
Như vậy, trước hết mỗi bên tham gia quan hệ kết hôn phải tuân theo quy định
về điều kiện kết hôn của nước mình. Đây cũng là một điều luật đề cập đến vấn đề
dẫn chiếu đến luật pháp nước ngoài. Còn việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan
nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo
các quy định của Luật này (Luật HNGĐ 2014) về điều kiện kết hôn . Như vậy,
Luật HNGĐ 2014 không quy định trường hợp việc kết hôn được tiến hành ở nước
ngoài trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước ngoài? Câu hỏi này sẽ
được giải quyết tại phần sau
I.3. Xác nhận tình trạng hôn nhân của công dân Việt Nam để đăng ký kết hôn tại cơ
nước ngoài thì phải nộp giấy xác nhận ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn đã được giải
quyết ở nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam.
2. Hồ sơ cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do người yêu cầu nộp trực
tiếp tại Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền.
3. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí,
Ủy ban nhân dân cấp xã kiểm tra về nhân thân, tình trạng hôn nhân của người có
yêu cầu cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; có văn bản báo cáo kết quả kiểm
tra và nêu rõ các vấn đề vướng mắc cần xin ý kiến, gửi Sở Tư pháp, kèm theo bản
chụp bộ hồ sơ.
4. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản kèm theo
hồ sơ của Ủy ban nhân dân cấp xã thì Sở Tư pháp tiến hành các biện pháp sau đây:
a) Thẩm tra tính hợp lệ, đầy đủ của hồ sơ cấp giấy xác nhận tình trạng hôn
nhân. Trường hợp cần làm rõ về nhân thân, tình trạng hôn nhân, điều kiện kết hôn,
mục đích kết hôn của người có yêu cầu cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân thì
Sở Tư pháp tiến hành xác minh;
b) Yêu cầu công dân Việt Nam có mặt tại trụ sở Sở Tư pháp để tiến hành
phỏng vấn, làm rõ sự tự nguyện, mục đích kết hôn, sự hiểu biết của công dân Việt
Nam về hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh cá nhân của người nước ngoài, về ngôn
ngữ, phong tục, tập quán, văn hóa, pháp luật về hôn nhân và gia đình của quốc gia,
vùng lãnh thổ mà người nước ngoài cư trú;
c) Yêu cầu bên người nước ngoài đến Việt Nam để phỏng vấn làm rõ, nếu kết
quả thẩm tra, xác minh, phỏng vấn cho thấy công dân Việt Nam không hiểu biết về
hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh cá nhân của người nước ngoài; không hiểu biết về
ngôn ngữ, phong tục, tập quán, văn hóa, pháp luật về hôn nhân và gia đình của
quốc gia, vùng lãnh thổ mà người nước ngoài cư trú hoặc công dân Việt Nam cho
biết sẽ không có mặt để đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài
ở nước ngoài.
Trường hợp cần phiên dịch để thực hiện phỏng vấn thì Sở Tư pháp chỉ định
người phiên dịch.
Kết quả phỏng vấn phải được lập thành văn bản. Cán bộ phỏng vấn phải nêu
mới trong pháp luật HNGĐ của Việt Na m.
1.3.3. Từ chối cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam
cư trú trong nước để kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của
nước ngoài
Quy định tại Điều 29 NĐ 126/2014 :
Yêu cầu cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của công dân Việt Nam cư trú
trong nước để kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước
ngoài bị từ chối trong các trường hợp sau đây:
1. Công dân Việt Nam đề nghị cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết
hôn với người nước ngoài tại Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan đại diện lãnh
sự của nước ngoài tại Việt Nam;
2. Kết quả kiểm tra, xác minh cho thấy tình trạng hôn nhân của công dân Việt
Nam không đúng với tờ khai trong hồ sơ; các bên không đủ điều kiện kết hôn theo
quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam;
3. Kết quả phỏng vấn cho thấy hai bên chưa có sự hiểu biết về hoàn cảnh gia
đình, hoàn cảnh cá nhân của nhau, không hiểu biết về ngôn ngữ, phong tục, tập
quán, văn hóa, pháp luật về hôn nhân và gia đình của mỗi nước;
4. Việc kết hôn thông qua môi giới nhằm mục đích kiếm lời; kết hôn giả tạo
không nhằm mục đích xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền
vững; lợi dụng việc kết hôn nhằm mục đích mua bán người, bóc lột sức lao động,
xâm phạm tình dục hoặc vì mục đích trục lợi khác.
Những quy định trên hoàn toàn phù hợp, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp cho công dân Việt Nam khi kết hôn với người nước ngoài.
I.4. Công nhận việc kết hôn của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có
thẩm quyền của nước ngoài
I.4.1. Điều kiện, hình thức công nhận việc kết hôn của công dân Việt Nam đã được giải
quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài
Quy định tại Điều 36 NĐ 126/2014 :
1. Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc với người nước ngoài
nước ngoài cấp;
c) Bản sao một trong các giấy tờ để chứng minh về nhân thân, như Chứng
minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc giấy tờ hợp lệ thay thế;
d) Bản sao sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú của người có yêu cầu.
Trong trường hợp công nhận việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người
nước ngoài mà trước đó công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài đã ly hôn với
công dân Việt Nam tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì phải nộp giấy
xác nhận ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn đã được giải quyết ở nước ngoài theo quy
định của pháp luật Việt Nam.
2. Hồ sơ ghi vào sổ việc kết hôn phải do một trong hai bên kết hôn nộp trực
tiếp tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Điều 37 của Nghị định này.
3. Thời hạn giải quyết việc ghi vào sổ việc kết hôn là 05 ngày làm việc kể từ
ngày Sở Tư pháp hoặc Cơ quan đại diện nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí. Trong
trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 05 ngày
làm việc.
Trong trường hợp từ chối ghi vào sổ việc kết hôn thì Sở Tư pháp, Cơ quan đại
diện trả lời bằng văn bản cho người có yêu cầu, trong đó nêu rõ lý do.
4. Sau khi ghi vào sổ việc kết hôn, Giám đốc Sở Tư pháp, người đứng đầu Cơ
quan đại diện ký và cấp cho người yêu cầu giấy xác nhận ghi vào sổ việc hộ tịch đã
đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài theo mẫu quy định.
1.4.4. Từ chối ghi vào sổ việc kết hôn
Quy định tại Điều 39 NĐ 126/2014:
Yêu cầu ghi vào sổ việc kết hôn bị từ chối nếu thuộc một trong các trường
hợp sau đây:
1. Việc kết hôn không bảo đảm điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 36 của
Nghị định này;
2. Sử dụng giấy tờ giả, giấy tờ bị sửa chữa, tẩy xóa để làm thủ tục cấp giấy
xác nhận tình trạng hôn nhân, kết hôn, ghi vào sổ việc kết hôn;
3. Ủy ban nhân dân cấp xã không xin ý kiến Sở Tư pháp trước khi cấp giấy
xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân theo quy định tại Điều 28 của Nghị
có yếu tố nước ngoài”.
Hiện nay ở Việt Nam cũng như hầu hết các quốc gia khác trên thế giới có hai
phương pháp để giải quyết vấn đề xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế là
phương pháp xung đột và phương pháp thực chất. Trong đó, phương páhp xung đột
được xem là phưưong pháp đặc thù của tư pháp quốc tế với việc sử dụng các
QPPLXĐ để giải quyết vấn đề chọn luật áp dụng điều chỉnh quan hệ pháp luật dân
sự có yếu tố nước ngoài phát sinh. QPXĐ sẽ không trực tiếp giải quyết quan hệ
pháp luật, cụ thể là sẽ không quy định những quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các
chủ thể trong những tình huống xác định mà chỉ dẫn chiếu đến luật thực chất của
các quốc gia và ở đó có quy định thực tế giải quyết quyền và phân định nghĩa vụ
của các bên trong quan hệ.
QPXĐ là quy phạm ấn định pháp luật nước nào cần phải áp dụng để giải
quyết quan hệ pháp luật dân sự có yếu tố nước ngoài trong một tình huống cụ thể.
QPXĐ không trực tiếp quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên cũng như
hình thức và biện pháp chế tài có thể được áp dụng đối với bên đương sự vi phạm
pháp luật. Các quy phạm này chỉ quy định việc chọn pháp luật nước này hay nước
khác để điều chỉnh quan hệ có yếu tố nước ngoài. Việc “chọn luật” không thể tùy
tiện mà phải dựa trên những nguyên tắc nhất định. Điều này có nghĩa là việc lựa
chọn hệ thống pháp luật nào để áp dụng sẽ không phụ thuộc vào ý chí chủ quan
của tòa án có thẩm quyền, hoặc các bên tham gia quan hệ.
Ví dụ: Khoản 3 Điều 104 Luật HNGĐ 2000 quy định: “Việc giải quyết tài sản
là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất
động sản đó”. Theo quy định trên, đối với ly hôn có yếu tố nước ngoài, tài sản là
bất động sản khi ly hôn đang ở đâu thì pháp luật ở nước đó sẽ được áp dụng để giải
quyết các quan hệ về sở hữu. Nếu tài sản đang ở Việt Nam thì luật pháp Việt Nam
sẽ được áp dụng để giải quyết các quan hệ sở hữu liên quan đến tài sản đó
2.1.2. Đặc điểm.
- Thứ nhất, Có tính khác quan, mang tính trung lập trong việc lựa chọn hệ thống
pháp luật. Điều này được thể hiện rõ khi phân tích nội dung các quy phạm xung
đột, vì các quy phạm này dựa trên các nguyên tắc chung để lựa chọn pháp luật, như
2.2.2. Cấu trúc của QPPLXĐ khác biệt so với cấu trúc của một QPPL thông
thường
Theo lý luận chung về nhà nước và pháp luật thì quy phạm pháp luật thông
thường nói chung được cấu thành bởi các bộ phận: giả định, quy định và chế tài.
Tuy nhiên, khác với các quy phạm pháp luật thông thường thì QPXĐ được cấu
thanh bởi hai bộ phận là phần “Phạm vi” và “Hệ thuộc”. Và nếu như trong một quy
phạm pháp luật thông thường có thể có hoặc không có đầy đủ cả ba bộ phận kể
trên thì trong bất kì một QPXĐ nào, hai bộ phận “Phạm vi” và “Hệ thuộc” cũng
không thể tách rời.
Phạm vi là phần quy định QPXĐ này được áp dụng cho loại quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài nào, cụ thể là quan hệ hôn nhân hay quan hệ thừa kế, quan hệ
hợp đồng hay quan hệ bồi thường ngoài hợp đồng… Có thể thấy bộ phận này của
quy phạm pháp luật xung đột có điểm tương đồng với phần giả định của QPPL
thông thường, đó là đều đưa ra hoàn cảnh, tình huống để áp dụng quy phạm. Tuy
nhiên, nếu như trong phần Giả định đưa ra tình huống, hoàn cảnh cụ thể có thể xảy
ra trong đời sống thì QPXĐ chỉ dừng lại ở việc đưa ra loại quan hệ pháp luật sẽ
được quy phạm điều chỉnh. Điều này có thể thấy được tính khái quát rất cao của
QPXĐ trong tư pháp quốc tế.
Hệ thuộc là phần chỉ ra pháp luật nước nào được áp dụng để giải quyết quan
hệ pháp luật đã được nêu ra ở phần Phạm vi.
Ví dụ: Theo khoản 1 Điều 773 BLDS 2005: “Việc bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi xảy ra hành vi thiệt hại hoặc
nơi phát sinh hậu quả thựuc tế của hành vi gây thiệt hại”.
Trong QPXĐ này, phần Phạm vi quy định quy phạm pháp luật này áp dụng
cho quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài cụ thể là quan hệ bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng, phần Hệ thuộc quy định pháp luật được áp dụng để điều chỉnh
quan hệ này là pháp luật của nước nơi xảy ra hanh vi gây thiệt hại hoặc nơi phát
sinh hậu quả thực tế của hành vi gây thiệt hại.
Cấu trúc của QPPLXĐ mang tính khái quát cao, dễ thành lập, chỉ đề ra cách
thức chọn luật, tạo ra nét đặc thù riêng biệt của tư pháp quốc tế
A, B quốc tịch Việt Nam kết hôn tại Việt Nam vào năm 2007. Sau đó, 2 người
sang Nhật Bản làm ăn định cư bên Nhật. Đến năm 2010, cuộc sống vợ chồng có
mâu thuẫn. Chị B về Việt Nam. Anh A ở Nhật Bản đã nộp đơn xin ly hôn tại tòa án
Nhật Bản. Sau đó, tòa án Nhật Bản đã 3 lần gửi tống đạt qua cơ quan ngoại giao
Việt Nam nhưng không thấy hồi âm. Và sau đó, Tòa án đa xét xử ly hôn vắng mặt
chị B. Năm 2012, A về Việt Nam xin kết hôn với C. A đến sở tư pháp để kết hôn.
Nhưng UBNDTPHN từ chối việc kết hôn cho A với lý do việc triệu tập B đến
không đúng thủ tục.
Hỏi:
a. Lý do UBNDTP Hà Nội đưa ra để không kết hôn cho A có hợp lý không?Tại
sao?
b. Anh/chị hãy tư vấn thủ tục pháp lý cần thiết để A được kết hôn với C tại Việt
Nam
TRẢ LỜI
a. Lý do UBNDTP Hà Nội đưa ra để không kết hôn cho A có hợp lý không?
Tại sao?
Lý do UBNDTP Hà Nội đưa ra để không kết hôn cho A là chưa hợp lý. Tòa án
Nhật Bản đã 3 lần gửi tống đạt qua cơ quan ngoại giao Việt Nam (thực hiện ủy
thác tư pháp theo điều 415 BLTTDS 2004 sửa đổi, bổ sung 2011) nhưng không
thấy hồi âm nên hoàn toàn có thẩm quyền xét xử ly hôn vắng mặt chị B. Vậy, việc
đưa ra lý do việc triệu tập B đến không đúng thủ tục là sai. Tuy nhiên, A cần thực
hiện một số thủ tục pháp lý cần thiết về việc công nhận bản án, quyết định ly hôn,
ghi sổ hộ tịch… thì mới có tư cách kết hôn với C
b. Anh/chị hãy tư vấn thủ tục pháp lý cần thiết để A được kết hôn với C tại
Việt Nam
- Làm thủ tục ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn :
Theo Khoản 1 Điều 43 NĐ 126/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều
và biện pháp thi hành luật hôn nhân và gia đình Những trường hợp sau đây phải
làm thủ tục ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn đã được giải quyết ở nước ngoài:
“ b. Công dân Việt Nam định cư tại nước ngoài đã ly hôn ở nước ngoài có yêu
đương nhiên được áp dụng
- B cho rằng: Đây là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nên cơ quan có
thẩm quyền phải chọn luật áp dụng dựa vào những nguyên tắc chọn luật của Tư
pháp quốc tế Quan điểm của anh (chị) về các ý kiến trên.
b. Nguyên tắc xác định pháp luật áp dụng để giải quyết các vụ việc dân sự có
yếu tố nước ngoài?
TRẢ LỜI:
a) Quan điểm về các ý kiến của A và B:
Theo Điều 758 BLDS về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài quy định:
“Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các
bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức
Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật
nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước
ngoài”.
Và theo khoản 1 Điều 769 BLDS về hợp đồng dân sự quy định: “Hợp đồng
được giao kết tại Việt Nam và thực hiện hoàn toàn tại Việt Nam thì phải tuân theo
pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Theo đó, hợp đồng mua bán hàng hóa giữa thương nhân A và thương nhân B
là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài do thương nhân B là người VN định cư tại
ÚC (có ít nhất một trong các bên tham gia là người VN định cư ở nước ngoài)
được quy định tại Điều 758 BLDS.
Mặt khác, vì hợp đồng được giao kết và thực hiện hoàn toàn tại VN nên theo
khoản 1 Điều 769 BLDS, hợp đồng trên phải tuân theo pháp luật nước
CHXHCNVN (bắt buộc phải áp dụng pháp luật trong nước).
Như vậy, việc A cho rằng quan hệ dân sự này không có yếu tố nước ngoài là
sai. Khẳng định của B là đúng. Đây là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài và
quan hệ này chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước CHXHCN Việt Nam dựa trên
nguyên tắc chọn luật của tư pháp quốc tế
b) Nguyên tắc xác định pháp luật áp dụng để giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố
Pháp luật nước ngoài cũng được áp dụng trong trường hợp các bên có thỏa
thuận trong hợp đồng, nếu sự thỏa thuận đó không trái với quy định của Bộ luật
này và các văn bản pháp luật khác của CHXHCNVN.
4. Trong trường hợp quan hệ dân sự có YTNN không được Bộ luật này, các văn bản
pháp luật khác của CHXHCNVN, ĐƯQT mà CHXHCNVN là thành viên hoặc hợp
đồng dân sự giữa các bên điều chỉnh thì áp dụng tập quán quốc tế, nếu việc áp
dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp
luật CHXHCNVN.
Căn cứ vào hệ thuộc luật:
• Luật nhân thân: dựa vào dấu hiệu nhân thân của đương sự. Gồm:
- Luật quốc tịch được hiểu là luật của quốc gia mà đương sự là công dân, công dân
phải có năng lực hành vi dân sự được xác định theo pháp luật của nước mà người
đó là công dân sẽ được áp dụng, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định
khác.
- Luật nơi cư trú được hiểu là luật của quốc gia mà ở đó đương sự có nơi cư trú ổn
định sẽ được áp dụng.
Phạm vi áp dụng: giải quyết quan hệ liên quan đến các yếu tố nhân thân.
- Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự
- Xác định một người chết hay mất tích.
- Các quan hệ hôn nhân gia đình: ly hôn, kết hôn,…
- Thừa kế tài sản là động sản
• Luật quốc tịch của pháp nhân: là luật của quốc gia mà pháp nhân mang quốc tịch
sẽ được áp dụng. Các dấu hiệu ràng buộc hiện này là:
- Nơi trung tâm quản lý của pháp nhân
- Nơi đăng ký điều lệ(nơi thành lập pháp nhân)
- Nơi pháp nhân thực tế tiến hành kinh doanh hoạt động chính
Ở Việt Nam pháp nhân được thành lập theo pháp luật Việt Nam và đăng ký
điều lệ ở Việt Nam thì đương nhiên pháp nhân mang quốc tịch Việt Nam không
phụ thuộc vào việc nó hoạt động ở đâu, lãnh thổ nào.
Phạm vi áp dụng:
các bên trong hợp đồng.
- Luật nơi vi phạm pháp luật: áp dụng pháp luật nhằm điều chỉnh trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật xảy ra. Phạm vi áp dụng: bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng.
• Luật tòa án: là pháp luật của nước có tòa án thẩm quyền giải quyết vụ việc sẽ được
áp dụng.
Ngoại lệ: khi pháp luật VN có quy định bắt buộc phải áp dụng pháp luật trong
nước quy đinh tại khoản 1 Điều 769 BLDS.