BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
PHẠM MẠNH HÙNG
QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ HOÀN CẢNH TRONG
VĂN XUÔI HIỆN THỰC (1930 -1945) QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU CỦA
NGÔ TẤT TỐ, VŨ TRỌNG PHỤNG, NAM CAO
CHUYÊN NGÀNH :LÝ THUYẾT VÀ LỊCH SỬ VĂN HỌC
MÃ SỐ
: 5.04.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS TRẦN ĐÌNH SỬ
HÀ NỘI 2001
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TÀO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
PHẠM MẠNH HÙNG
QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ HOÀN CẢNH TRONG
VĂN XUÔI HIỆN THỰC (1930 -1945) QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU CỦA
NGÔ TẤT TỐ,VŨ TRỌNG PHUNG, NAM CAO
CHUYÊN NGÀNH: LÝ THUYẾT VÀ LỊCH SỬ VĂN HỌC
2.1. Hệ thống nhân vật tạo hoàn cảnh trong Tắt đèn ....................................................... 55
2.2. Mâu thuẫn, xung đột tạo hoàn cảnh trong Tắt đèn ................................................... 61
2.3. Cơ chế trấn áp bạo lực .............................................................................................. 71
2.4. Không khí náo loạn, căng thẳng ............................................................................... 75
CHƢƠNG 3: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ HOÀN CẢNH TRONG GIỐNG TỐ
CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG ................................................................................................. 92
3.1. Hệ thống nhân vật tạo hoàn cảnh .............................................................................. 93
3.2. Mâu thuẫn, xung đột tạo hoàn cảnh trong Giống tố ............................................... 110
3.3. Cơ chế dâm loạn và cơ chế vạn năng của đồng tiền ............................................... 118
3.4. Không khí điên loạn, bão giông .............................................................................. 126
CHƢƠNG 4: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ HOÀN CẢNH TRONG SỐNG MÒN
VÀ MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN TIÊU BIỂU CỦA NAM CAO ...................................... 139
4.1.Hệ thống nhân vật tạo hoàn cảnh trong tác phẩm Nam Cao .................................... 140
4.2. Những mâu thuẫn, xung đột tạo hoàn cảnh ............................................................ 157
4.3.Cơ chế lạnh lùng tàn nhẫn và cơ chế Sống mòn ...................................................... 164
4.4. Không khí ngột ngạt, bế tắc .................................................................................... 175
KẾT LUẬN ............................................................................................................................ 195
DANH MỤC CÔNG TRÌNH, BÀI BÁO CỦA TÁC GIẢ ................................................... 200
THƢ MỤC THAM KHẢO.................................................................................................... 201
1
MỞ ĐẦU
1. MỤC ĐÍCH Ý NGHĨA CỦA ĐỂ TÀI.
Trào lƣu văn học hiện thực là một trong ba trào lƣu văn học hình thành và phát triển
trên văn đàn Việt Nam thời kỳ 1930-1945. Nghiên cứu trào lƣu văn học này, một trong
những vấn đề không thể bỏ qua là mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh. Bàn về chủ
nghĩa hiện thực, trong thƣ gửi Mácgarít Háccơnetxơ năm 1888, Angglien cũng đã khẳng định
vấn đề này. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, khái niệm hoàn cảnh, có khi vẫn đƣợc
Trên tờ báo Mới số 4, ngày 15/6/1939 Trần Minh Tƣớc đã đánh giá cao giá trị nội
dung của tiểu thuyết Tắt đèn: "trong văn phẩm ấy, Ngô Tất Tố đã dùng đƣợc đắc sách cái
phƣơng pháp khách quan để tỏ ra cho chúng ta biết rõ ràng những cảnh tƣợng nơi hƣơng ẩm,
là một chỗ mà ngƣời ta nhờ ông, nhận thấy rất nhiều mâu thuẫn và hƣ nát", Về phƣơng diện
nghệ thuật, Trần Minh Tƣớc khẳng định những gì đặt ra trong Tắt đèn "không còn là những
điều biện giải khô khan của lý luận, mà nó đã gắn liền vào đƣợc cái nghệ thuật uyển chuyển
của tiểu thuyết gia". Từ đó, ông khẳng định, với Tắt đèn "nhà nho ấy đã vƣợt khỏi cả thế hệ
của mình"...
Trên báo Đông Phƣơng số 10, ngày 1/9/1939, Phú Hƣơng cũng nhấn mạnh, trong khi
"sau lũy tre xanh, những sự tàn bạo ghê gớm, những chuyện hà lạm hèn mạt, những cảnh đói
nghèo tai hại là những trò cơm bữa ... các tiểu thuyết gia nào có mấy ai chú ý" thì "vừa rồi
ông Ngô Tất Tố đã làm một điều phần đông văn sĩ xứ ta không ai để mắt tới. Ông đã làm
trong cuốn Tắt đèn của ông và ông đã thành công vẻ vang hết sức".
Nhƣ vậy nƣớc 1945, bàn về Tắt đèn của Ngô Tất Tố ngƣời ta mới chỉ chú ý tới khẳng
định đề tài mà chƣa chú ý tới vấn đề hoàn cảnh. Vấn đề hoàn
3
anh chỉ đƣợc đề cập tới từ những năm hòa bình lập lại. Dƣới chế độ xã hội mới, tiểu thuyết
Tắt đèn vẫn tiếp tục đƣợc đề cao. Nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình đã thống nhất
khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của kiệt tác văn xuôi này.
Trong lời giới thiệu cuốn Tắt đèn do NXB Văn hóa ấn hành năm 1962, nhà văn
Nguyễn Tuân đã khẳng định: " Theo tôi tiên tri, thì cuốn Tắt đèn vẫn còn phải sống lâu, thọ
hơn cả một số văn gia đƣơng kim hôm nay".
Đã gần bốn mƣơi năm trôi qua kể từ ngày Nguyễn Tuân "tiên tri" và ta thấy lời tiên tri
đó là đúng. Tắt đèn của Ngô Tất Tố sẽ còn trƣờng tồn cùng năm tháng. Thật khó có thể hình
dung rằng nói tới văn học hiện thực Việt Nam 1930-1945 mà không nhắc tới tác phẩm Tắt
đèn của Ngô tất Tố (cũng nhƣ không nhắc tới Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, Chí Phèo của
Nam Cao ...).
biểu nhất là ý kiến của Nguyễn Tuân (mà chúng tôi sẽ dẫn ở phần phân tích cấu trúc nghệ
thuật của hoàn cảnh trong Tắt đèn). Hoặc ý kiến của Nguyễn Đăng Mạnh khi ông đánh giá
tài năng của Ngô Tất Tố trong việc miêu tả "những bức tranh sinh hoạt, những con ngƣời
trong hoạt động": "Tất cả đều diễn ra trƣớc mắt ngƣời đọc chân thật, cụ thể, sinh động, có sức
truyền cảm mãnh liệt. Ngòi bút Ngô Tất Tố nhiều khi còn đạt tới chỗ truyền đƣợc cả "không
khí" của đời sống nông thôn vào trong tác phẩm của mình "[199.273].
Phan Cự Đệ khi bàn về vấn đề hoàn cảnh điển hình trong Tắt đèn cũng đã đề cặp tới
một yếu tố trong cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh: "Ngô Tất Tố đã đặt các nhân ,vật của
mình vào một hoàn cảnh rất điển hình, một không khí ngột ngạt, oi bức, giông bão, người
nông dân trong làng cứ như kiến bò trong chảo nóng" [192.402] và "không khí đó tạo nên
một ấn tƣợng hết sức căng thẳng về một vùng nông thôn trong thời kỳ báo động "
[48.T2.365]. Tuy nhiên ở đây, tác giả chƣa minh chứng bằng những hệ thống tín hiệu nghệ
thuật cụ thể.
5
Trên tạp chí Văn học số 3.1990 Đỗ Kim Hồi cũng khẳng định: " Ngô Tất Tố vẫn là
nhà văn chƣa ai có thể vƣợt hơn trong việc làm sống lại cái không khí kinh hoàng, loạn lạc
của nạn "cƣớp ngày" hàng năm vẫn ập xuống thôn quê mỗi dịp đổ sƣu. Chƣa ai có thể vƣợt
hơn Ngô Tất Tố trong việc làm lòng ngƣời nghẹn uất trƣớc cái luật lệ dã man... "
Nhà văn Vũ Tú Nam trên báo Văn nghệ số l, ngày 1/1/1994 cũng nhận xét: " Ngô Tất
Tố đã sử dụng bút pháp " dồn nén", ông tập hợp lại một số cảnh mắt thấy tai nghe về hiện
trạng đời sống nông thôn vào trong một khung thời gian và không gian nhất định để làm nổi
bật những mặt tƣơng phản trong tâm lý và hành động nhân vật, tạo nên một không khí căng
thẳng, ngột ngạt, thôi thúc ở ngƣời đọc cái ý thức, ý nguyện phải làm một cái gì" ...
Khi các nhà nghiên cứu khẳng định hiệu quả "tạo không khí của đời sống", "không
khí kinh hoàng loạn lạc", "không khí căng thẳng ngột ngạt" trong tác phẩm Tắt đèn cũng có
nghĩa là họ đã nhìn nhận hoàn cảnh Tắt đèn ở phƣơng diện nghệ thuật, đã chú ý tới nghệ
thuật xây dựng hoàn cảnh của nhà văn. Nhƣng những ý kiến về hoàn cảnh Tắt đèn ở cả góc
[193.111]. Đọc truyện ngắn của Nam Cao, nhà văn Nguyên Hồng có cảm giác: " ta thấy tâm
trí ta nghẹn lại, ngực ta tức tối, ý thức ta có một cái gì nhấp nháy nhƣ ánh sáng chỉ chờ bắt
cháy đƣợc thêm một sức mạnh gì đấy có thể nổ bùng lên" [193.82]. Và khi phân tích chất
nghịch dị trong tác phẩm Nam Cao Vƣơng" Trí Nhàn cũng khẳng định Nam Cao đã "tạo nên
một hiệu quả ngột ngạt tức thở gợi ra cảm tƣởng một thứ lƣới vô hình bao quanh ngƣời ta.
Lƣới chỉ mỏng manh nhẹ nhàng nhƣng ngày một thít chặt hơn," không ai thoát ra nổi"
[193.456]...
10
2.3.5. Không khí trong tác phẩm Nam Cao cũng là vấn đề đã đƣợc một số công trình
nghiên cứu đề cập tới. Đó là không khí "có cái gì kinh dị lạ thƣờng" (Nguyễn Đức Đàn)
[193.67], " rùng rợn đến ngỡ nhƣ ma quái" (Quỳnh Nga) [193.443] trong Nửa đêm, "không
khí ma sống lẫn với ngƣời " (Hà Minh Đức) [193.257] trong Ma đưa ... và bao trùm lên phần
lớn các tác phẩm là không khí "tù đọng ngột ngạt đến mức không chịu nổi" (Trần Đăng
Xuyền) [193.403]. Nhận xét về nghệ thuật tạo không khí của Nam Cao, Hà Minh Đức khẳng
định Nam Cao đã "nắm bắt đƣợc nhiều chi tiết chân thực và sinh động, tạo không khí giỏi"
[63.204].
Nhƣ vậy, nhìn lại những công trình nghiên cứu về Nam Cao, chúng tôi nhận thấy vấn
đề hoàn cảnh đã từng đƣợc quan tâm. Nhƣng những kiến giải về nó vẫn chủ yếu dừng ở
những nhận xét, cảm nhận, ít có những minh chứng cụ thể. Nó vẫn chủ yếu đƣợc nhìn nhận ở
góc độ hoàn cảnh xã hội. Cách nhìn ấy là đúng và cần thiết, nhƣng có lẽ chƣa đủ. Bởi vì hoàn
cảnh chƣa thực sự đƣợc nhìn nhận nhƣ một yếu tố nghệ thuật trong cấu trúc tác phẩm Nam
Cao. Bàn về vấn đề này, có lẽ bài viết về "Tầm quan trọng của hoàn cảnh trong tác phẩm của
Nam Cao" [63.311 ] của Hà Minh Đức là đáng chú ý hơn cả. Trong bài viết này, tác giả tập
trung phân tích hoàn cảnh, chỉ ra một số đặc điểm của hoàn cảnh ấy, vị trí vai trò quan trọng
của nó và khẳng định "tài năng tạo dựng hoàn cảnh" là "thành công lớn của Nam Cao và ấn
tƣợng sâu sắc nhất có thể nhận thấy" ở Nam Cao so với các nhà văn hiện thực khác [63.320].
Khi nói rằng, đọc tác phẩm Nam Cao, ngƣời ta cảm nhận rất rõ một không khí ngột
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Căn cứ vào mục tiêu đối tƣợng đã đƣợc xác định, để hoàn thành những nhiệm vụ đã
đặt ra, đề tài này sẽ phải sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu sau:
12
4.1. Phƣơng pháp hệ thống: Quan niệm nghệ thuật bộc lộ qua hệ thống các tín hiệu
nghệ thuật, qua sự lặp lại, tần số xuất hiện của các chi tiết nghệ thuật. Bởi vậy phƣơng pháp
hệ thống là phƣơng pháp không thể không sử dụng để đạt đƣợc những mục đích, yêu cầu đã
đặt ra trong luận án: nghiên cứu thi pháp hoàn cảnh văn xuôi hiện thực .
4.2. Phƣơng pháp so sánh, lịch sử: Một trong những nhiệm vụ đặt ra đối với đề tài là
chỉ ra đƣợc sự khác biệt, đa dạng, phong phú của quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong
văn xuôi hiện thực. Không thể thấy đƣợc sự khác biệt, đa dạng, phong phú đó nếu không sử
dụng phƣơng pháp này. Đây là phƣơng pháp đƣợc chúng tôi đặc biệt chú ý.
4.3. Phƣơng pháp thống kê: Sử dụng phƣơng pháp này là cần thiết bởi từ những kết
quả của nó, các luận điểm, kết luận sẽ có những luận cứ cụ thể, thuyết phục.
4.4. Phƣơng pháp phân tích tác phẩm văn học: Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng nhằm
minh chứng cho những kết luận lý thuyết, sáng tỏ những vấn đề lý luận.
5. NHỮNG KẾT LUẬN MỚI VÀ CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN.
5.1. Những kết luận mới.
- Đề tài khẳng định có một quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong trào lƣu văn học
hiện thực thời kỳ 1930 - 1945. Quan niệm đó bộc lộ qua cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh
trong một số tác phẩm xuất sắc của các tác giả tiêu biểu. Lần đầu tiên, vấn đề thi pháp hoàn
cảnh đƣợc đặt ra và thi pháp hoàn cảnh của văn học hiện thực đƣợc nghiên cứu một cách cụ
thể, hệ thống, có ý thức hơn. Đề tài góp thêm một hƣớng tiếp cận mới về vấn đề hoàn cảnh.
- Đồng thời luận án còn chỉ ra sự phong phú của quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh
trong trào lƣu văn học này, khẳng định đóng góp của các nhà văn hiện thực về phƣơng diện
xây dựng hoàn cảnh nghệ thuật - đổi mới một phƣơng diện hình thức trong tác phẩm văn
chƣơng Việt Nam.
cuộc sống ; tái hiện khách quan các mối quan hệ của con ngƣời với hoàn cảnh, chú trọng mối
quan hệ biện chứng giữa tính cách điển hình và hoàn cảnh điển hình trên cơ sở thừa nhận sự
tác động qua lại giữa con ngƣời và mồi trƣờng sống, giữa tính cách và hoàn cảnh; phản ánh
cuộc sống bằng điển hình hóa các sự kiện của thực tế đời sống, đảm bảo tính khuynh hƣớng
xã hội nhƣng không biến nhân vật thành ngƣời phát ngôn lộ liễu.
Vấn đề chủ nghĩa hiện thực là một trong những vấn đề lớn của lý luận văn học bởi sự
phong phú, phức tạp và ý nghĩa của nó. Còn có nhiều vấn đề phải bàn cãi xung quanh chủ
nghĩa hiện thực. Chỉ riêng việc xác định thời điểm ra đời của chủ nghĩa hiện thực, cho đến
nay vẫn còn có những ý kiến khác nhau: "Một số ngƣời cho rằng, những nguyên tắc phản ánh
hiện thực chủ nghĩa hình thành từ cổ đại và trải qua các giai đoạn lịch sử nhƣ Cổ đại, Phục
hƣng, Ánh sáng, thế kỷ XIX ... một số khác thì cho là từ thời Phục hƣng ; một số khác nữa thì
cho là từ thế kỷ XVIII khi tiểu thuyết sinh hoạt gia đình và sinh hoạt xã hội ra đời. Nhiều
ngƣời thì lại cho rằng, chủ nghĩa hiện thực nhƣ
15
một phƣơng pháp, một khuynh hƣớng nghệ thuật hình thành vào những năm 30 của thế kỷ
XIX, khi trong văn học châu Âu nguyên tắc mô tả chân thực cuộc sống đƣợc khẳng định một
cách đầy đủ nhất, trong những hình thức phân tích xã hội phát triển nhất" [185.55].
Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu dựa trên cơ sở trào lƣu văn học hiện thực
phƣơng Tây thế kỷ XIX, bởi vì: "Dù các ý kiến còn khác nhau đến đâu thì mọi ngƣời đều
phải thừa nhận là từ những năm 40 thế kỷ XIX trở di, chủ nghĩa hiện thực trong văn học đã
bƣớc sang một giai đoạn mới phát triển hoàn chỉnh và rực rỡ nhất cả về mặt lý luận lẫn thực
tế sáng tác" [185.55]. Và trong thực tế, trào lƣu văn học hiện thực thế kỷ XIX đã trở thành
nền tảng cho sự phát triển lý thuyết về chủ nghĩa hiện thực.
Tìm hiểu chủ nghĩa hiện thực, các nhà nghiên cứu thƣờng nhắc đến định nghĩa nổi
tiếng của Ăngghen trong bức thƣ gửi M. Háccơnecxơ về đặc trƣng của việc phản ánh đời
sống theo lối hiện thực chủ nghĩa: "Theo ý tôi, ngoài chi tiết chân thực, chủ nghĩa hiện thực
còn đòi hỏi một sự tái hiện chân thực những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình"
thế giới" và cho rằng "So với từng cá nhân, thì tình trạng chung của thế giới chỉ làm thành
miếng đất trên đó các cá nhân tồn tại và tự biểu lộ với những đặc điểm riêng biệt của từng
hoàn cảnh" [68.T1-336]. Nhƣ vậy khái niệm "tình trạng chung thế giới" ở đây có thể hiểu là
hoàn cảnh lịch sử khách quan. Hoàn cảnh lịch sử khách quan ấy đƣợc cụ thể hóa ở cá nhân
thành tình huống: "Tình huống làm thành một tiền đề riêng biệt hơn khiến cho mọi cái gì
trong tình trạng chung của thế giới vẫn còn nằm ở trong hình thức chƣa phát triển thì nay bộc
lộc ra ngoài và hoạt động tích cực" [68.T1-338]. Hêghen cho rằng: "Nói chung tình huống là
một trạng thái có tính chất nông biệt và trở thành đƣợc qui định. Ở trong thuộc tính này của
nó, tình huống góp phần biểu lộ nội dung là cái phần có đƣợc một sự tồn lại bên ngoài bằng
sự biểu hiện nghệ thuật " [68.T1-338]. Và Hêghen cũng đã khẳng định tầm quan trọng của
tình huống: " Tình huống cấp cho ta một thao trƣờng rộng lớn để tìm hiểu bởi vì từ lâu nhiệm
vụ quan trọng nhất của nghệ thuật vẫn là tìm những tình huống thú vị, tức là những tình
huống nào cho phép ta bộc lộ những hứng thú quan trọng và
17
sâu sắc cũng nhƣ cái nội dung chân thực của tâm hồn" [68.TI-338]. Nhƣ vậy, có thể nói,
trong quan niệm của Hêghen, tình trạng chung của thế giới (hoàn cảnh lịch sử khách quan) là
đối tƣợng của khoa học, muốn trở thành đối tƣợng của nghệ thuật nó phải đƣợc bộc lộ dƣới
hình hình thức tình huống (hoàn cảnh điển hình), ở đây ta thấy có sự gần gũi giữa quan niệm
của Hêghen và mĩ học hiện thực. Nhƣng cũng chƣa thể sử dụng khái niệm "hoàn cảnh" ấy để
khám phá nội dung nghệ thuật khái niệm hoàn cảnh trong văn học nói chung và trong văn học
hiện thực nói riêng.
Mối quan hệ biện chứng giữa tính cách và hoàn cảnh cũng là một trong những nguyên
lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, là một mặt của mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và
kiến trúc thƣợng tầng, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Trong Luận cƣơng về Phơ Bách,
Mác đã khẳng định: " Trong tính hiện thực của nó, bản chất của con ngƣời là tổng hòa của tất
cả những mối quan hệ xã hội" [152.148]. Triết học Mác cũng đã khẳng định vai trò quyết
định của hoàn cảnh. Quan niệm đó thể hiện ở nguyên lý: " Ý thức không bao giờ lại có thể là
quanh họ và bắt họ hành động, thì ngƣời ta có thể nói là không đƣợc điển hình đầy đủ". Để
làm rõ hơn nhận xét đó ông viết tiếp: "Trong Cô gái thành thị, giai cấp công nhân xuất hiện
với tính cách một quần chúng thụ động không thể tự giúp mình đƣợc, thậm chí không có một
sự cố gắng và một mƣu toan nào về mặt đó. Mọi mƣu toan kéo nó ra khỏi cái cảnh nghèo khổ
làm ngƣời ta đần độn đều xuất phát từ bên ngoài, từ bên trên. Nhƣng nếu nhƣ điều này là
đúng đối với năm 1800 hay 1810 tức là vào thời của Xanhximông và của Rôbe Ôoen, thì vào
năm 1897 vấn đề không phải nhƣ vậy nữa đối với một ngƣời gần 50 năm nay đã vinh dự
tham dự vào phần lớn các trận chiến dấu của giai cấp vô sản" [152.384].
Qua những ý kiến trên, có thể thấy rằng, quan tâm tới vấn đề hoàn cảnh, nhƣng
Ăngghen chú ý tới tính chân thực của hoàn cảnh nhiều hơn là tính nghệ thuật của hoàn cảnh.
Vì vậy, những ý kiến của Ăngghen về chủ nghĩa hiện thực khiến ngƣời ta hƣớng tới phƣơng
diện xã hội nhiều hơn là phƣơng diện nghệ thuật khi nghiên cứu hoàn cảnh trong tác phẩm
văn học.
19
Các nhà lý luận, nhà nghiên cứu, nhà văn trong và ngoài nƣớc cũng đã có nhiều ý kiến
bàn về vấn đề hoàn cảnh, nhất là khi nói tới những vấn đề xung quanh chủ nghĩa hiện thực.
Cùng với việc khẳng định: "Bất cứ tính cách nào cũng là một đại diện trong chừng
mực này hay chừng mực khác của một hoàn cảnh nhất định", L. I. Timôfêep đã thể hiện quan
niệm về hoàn cảnh: "Hoàn cảnh mà ta hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ môi trƣờng xã hội xung
quanh con ngƣời đó. Cái vốn có của hoàn cảnh ấy là những mối quan hệ nhất định giữa ngƣời
và ngƣời, thể hiện trong những biến cố xung đột này hay những biến cố xung đột khác... điển
hình đối với nó, tức là những biến cố xung đột trong đó bộc lộ rõ thái độ của con ngƣời tiểu
biểu đối với hoàn cảnh ấy". [235.297]. Khái niệm hoàn cảnh ở đây đã đƣợc nhà lý luận hiểu
là "toàn bộ môi trƣờng xã hội xung quanh con ngƣời đó". Và theo ông đó là "hoàn cảnh mà ta
hiểu theo nghĩa rộng". Nhƣng nếu hiểu hoàn cảnh theo nghĩa rộng nhƣ vậy vẫn chƣa đủ.
Hoàn cảnh không chỉ là " toàn bộ môi trƣờng xã hội" mà còn là toàn bộ môi trƣờng tự nhiên.
Tất nhiên, cốt lõi của hoàn cảnh vẫn là "những mối quan hệ nhất định giữa ngƣời và ngƣời".
phản ánh những mối quan hệ chặt chẽ giữa con ngƣời với môi trƣờng xã hội, sự tái hiện tác
động của những điều kiện, hoàn cảnh sống đối với việc hình thành tính cách con ngƣời.
Những mối liên hệ của con ngƣời với thế giới xung quanh cũng là đối tƣợng chú ý đặc biệt
của văn học hiện thực trong giai đoạn phát triển trƣớc của nó - trong thời kỳ Phục Hƣng, và
sau đó trong thời đại Khai sáng. Tuy nhiên, trong chủ nghĩa hiện thực thế kỷ XIX đã nay sinh
những đặc điểm căn bản mới mẻ về mặt này" . [110.61]. Giải thích nguyên lý về mối quan hệ
giữa tính cách và hoàn cảnh, M.B Khraptrenko viết:" Các nhà hiện thực thế kỷ XIX đã thực
hiện việc khám phá lĩnh vực hình thành và phát triển những tính cách con ngƣời, các mối liên
hệ của những tính cách đó đối với môi trƣờng xã hội, những khám phá đó sở dĩ có đƣợc là do
trong chính thực tại đã nổi rõ lên sự tác động của hoàn cảnh sống đối với thế giới nội tâm con
ngƣời và cũng là do tƣ duy sáng tạo của các nghệ sĩ ngôn từ lớn đã nhằm vào việc nghiên cứu
các khái quát bằng nghệ thuật các quan hệ của con ngƣời với môi trƣờng xã hội, của cá nhân
với xã hội" [110.88]. Nhận xét một số tác phẩm tiêu biểu của Bandắc về phƣơng diện hoàn
cảnh, M. B Khraptrenko cho rằng " việc miêu tả cảnh sinh hoạt, nhà cửa,
21
địa điểm, xảy ra hành động cũng chiếm vị trí quan trọng trong Ơgiêni Grăngđê, Nông dân, Đi
tìm cái tuyệt đối, Bêalơrix. Hoàn cảnh sinh hoạt trong tác phẩm Bandắc nhiều khi không chỉ
là sự dẫn chuyện, mà còn nhƣ một nhân vật văn học độc đáo, bình đẳng về nhiều mặt với các
nhân vật chính của tác phẩm" [110.91]. Khi cho rằng hoàn cảnh sinh hoạt trong tác phẩm
Bandắc "nhƣ một nhân vật văn học độc đáo", có nghĩa là M.B. Khraplrenko đã coi hoàn cảnh
như một hình tượng nghệ thuật, nó không chỉ còn đƣợc coi là cái nền, cái bối cảnh cho nhân
vật hoạt động. Từ quan niệm " hoàn cảnh sinh hoạt trong tác phẩm Bandắc nhiều khi không
chỉ là sự dẫn chuyện", M. B. Khraptrenko nhận thấy "Khi xác định hoàn cảnh sinh hoạt vật
chất của các nhân vật, ảnh hƣởng của hoàn cảnh đó đối với con ngƣời, Ban dắc không tách
rời cái môi trƣờng theo nghĩa hẹp của từ này, với cái môi trƣờng đƣợc hiểu một cách rộng rãi
nhƣ là một tập hợp mâu thuẫn của những nguyên tắc thống trị đời sống. Cái này đan quyện
với cái kia" [110.92]. Ở đây, hoàn cảnh đã đƣợc nhìn nhận ở phƣơng diện cấu trúc nghệ thuật