Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Là một nhà văn suốt đời khao khát khám phá cái đẹp và sự chân thật
của cuộc sống, Nguyễn Minh Châu đã cống hiến hết mình cho nghệ thuật và ông
có một vị trí đặc biệt quan trọng - người “tiền trạm đổi mới” (GS. Phong Lê)
trong nền văn học hiện đại Việt Nam.
Trước 1975, Nguyễn Minh Châu đã viết nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn
đậm chất sử thi và cảm hứng lãng mạn. Đó là những bản anh hùng ca chói
ngời phẩm chất anh dũng, kiên cường, lí tưởng của con người Việt Nam trong
một giai đoạn lịch sử đặc biệt.
Sau 1975, cả nước sống trong một bầu không khí tinh thần mới, Nguyễn
Minh Châu đã có sự chuyển hướng về tư duy nghệ thuật. Những tác phẩm của
ông giai đoạn này - đặc biệt là truyện ngắn - hấp dẫn người đọc bởi sự giản dị
gần gũi mà chứa đựng chiều sâu nhân bản… Chính tác giả cũng từng nhận
thấy “Mình viết văn suốt đời tràng giang đại hải, có khi chỉ còn lại được vài
cái truyện ngắn” [42. 430].
Khi tìm hiểu những tác phẩm của Nguyễn Minh Châu trong giai đoạn
sau 1975, tác giả Nguyễn Trọng Hoàn phát hiện “Vẫn là một Nguyễn Minh
Châu tài hoa, tinh tế trong những phát hiện và phân tích, miêu tả hiện thực
cuộc sống và tâm lí nhân vật nhưng trong giai đoạn này, sự tài hoa tinh tế ấy
không bay bổng trên đôi cánh lãng mạn, hùng tráng chất sử thi của một thời
mà thể hiện qua bút pháp trần thuật trầm tĩnh, đề cập những góc cạnh xù xì,
phức tạp của cuộc sống, vì thế nó hướng tới tính đa dạng phổ quát” [15. 18].
Di sản văn chương của Nguyễn Minh Châu trong mấy thập kỉ qua đã
thu hút sự chú ý tìm tòi, nghiên cứu của hàng trăm bài bài báo, bài nghiên cứu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Vấn đề quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong văn học, chúng tôi sẽ đề
cập trong phần Mấy vấn đề lí luận về hoàn cảnh (chương 1), vì vậy ở đây
chúng tôi chỉ điểm lại lịch sử vấn đề quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong
15 truyện ngắn thuộc tập truyện Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu.
Từ những năm 80 của thế kỉ XX, bắt đầu bằng truyện ngắn Bức tranh
như là một dấu mốc, các sáng tác của Nguyễn Minh Châu thực sự trở thành
một hiện tượng văn học có sức hút rất lớn đối với giới nghiên cứu và phê
bình. Trong những công trình nghiên cứu về các tác phẩm ở tập truyện trên
của Nguyễn Minh Châu, đa số đề cập tới phương diện nội dung, những cách
tân nghệ thuật như nhân vật, giọng điệu... Rải rác trong các bài viết có những
nhận định tới các yếu tố thuộc cấu trúc của hoàn cảnh nghệ thuật.
2.1. Có những nhà nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa tính cách và
hoàn cảnh và khẳng định sự thành công trong việc xây dựng hoàn cảnh của
nhà văn Nguyễn Minh Châu. Ngô Thảo trong bài “Đọc những tác phẩm mới
của Nguyễn Minh Châu” đã nhận định về tác phẩm Người đàn bà trên
chuyến tàu tốc hành, trong đó có đoạn nói về mối quan hệ giữa nhân vật và
hoàn cảnh “Ngay trong một hoàn cảnh sống giàu lí tưởng, sự lí tưởng hoá
chính mình cũng như mọi người xung quanh, sớm muộn cũng dẫn tới những
bi kịch không cần thiết” [15. 304]. Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử trong bài
“Bến quê, một phong cách trần thuật giàu chất triết lí” cũng có những nhận
xét sâu sắc, tinh tế: “Anh là nhà văn có biệt tài sử dụng chi tiết, miêu tả chân
dung, môi trường, khắc hoạ tâm lí, chỉ trong ít nét mà làm hiện lên một vẻ
sống sinh động, điển hình như sinh hoạt khu tập thể, cảnh nhà ga, nông thôn,
đô thị” [15. 170]. Như vậy, tác giả đã chú ý tới nghệ thuật xây dựng hoàn
cảnh của nhà văn, nhưng chưa triển khai với những minh chứng cụ thể,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
hệ thống. Trịnh Thu Tuyết trong bài “Một số cốt truyện trong truyện ngắn
Châu có những truyện có những chỗ dị thường mà dị thường thật. Cuộc phiêu
lưu tình cảm ở truyện Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành là một dị
thường” [15. 250]. Các nhà văn Vũ Tú Nam, Triều Dương, Đào Vũ có cảm
nhận truyện của Nguyễn Minh Châu “rối”, “bàng bạc”...
Luồng ý kiến thứ hai đánh giá cao sự tìm tòi đổi mới của Nguyễn Minh
Châu: “Trong truyện của anh mọi cái đang vỡ ra tạo nên những khoảng trống
phải nghi ngờ, phải nghĩ. Tại sao nhân vật Khúng này lại lạ thế? Đúng là có
những khoảng trống như vậy. Nguyễn Minh Châu dần dần tạo ra thế giới
nghệ thuật của anh” (Phong Lê) [15. 249]. Xuân Trường cũng khẳng định
“Nguyễn Minh Châu muốn soi rọi vào từng con người, để phân biệt, để so
sánh, để nhận chân, và cuối cùng để đấu tranh cho cái mới... anh muốn từ cái
hằng ngày, cái thường ngày, vượt ra khỏi cái gì đã khô cứng, cái gì như đã
thành định kiến, kể cả bản thân mình để đi tìm điều anh mong ước, đi tìm vấn
đề và cách thể hiện mới...” [15. 258]. Có thể thấy trong cuộc trao đổi này, vấn
đề nhân vật được soi chiếu khá nhiều, nhưng nhìn nhận nó như một phương
diện của hoàn cảnh nghệ thuật chưa được đặt ra. Võ Hồng Ngọc qua bài viết
“Mảnh đất tình yêu - sự tiếp nôí những câu chuyện tình đời”, đã có những
nhận xét khá tinh tế về hai tập: Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành và
Bến quê (Sau này in chung thành tập Chiếc thuyền ngoài xa (1987)): “Con
người hiện thực là một thực thể sống động, không ngừng vận động, phát triển,
do đó mọi sự cắt nghĩa và quan niệm về nó đang tạo ra những khả năng to
lớn cho phép con người càng bộc lộ đầy đặn hơn bản chất phong phú của
mình... Nếu trước đây, mọi vấn đề thuộc về con người chỉ xoay quanh trục
địch - ta, mới - cũ... thì giờ đây tầm mắt nghệ thuật của nhà văn đã mở rộng
sang những bình diện mới, nắm bắt những tương quan mới, soi rọi những
tầng sâu mới trong đời sống thực tiễn - tinh thần của con người” [15. 110].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Như vậy, tác giả bài viết đã bước đầu tiếp cận những nhân vật mới trong sáng
vẫn là một hành trình mang âm hưởng cô đơn... đã không tránh khỏi không
khí ảm đạm là vì vậy” [15. 153]. Kết luận chung về tập truyện, Huỳnh Như
Phương khẳng định “Tác giả đã cố gắng đưa nhân vật đến cùng sự phân tích
bên trong để nhìn rõ chính nó. Sự kết hợp giữa các mảng thời gian, và các
khoảng không gian xa cách nhau, sự đan xen giữa ý thức và tiềm thức, hồi ức
và tưởng tượng, sự hoà quyện của các giọng văn khác nhau... tất cả đã tạo ra
một số truyện đạt đến chiều sâu nhất định cả về phương diện tự sự lẫn về
phương diện tâm lí...” [15. 154]. Trong bài “Trở lại “Chuyến tàu tốc hành”
của Nguyễn Minh Châu”, Nguyễn Trung Hiếu cảm nhận “Một trong những
cái lạ của Nguyễn Minh Châu là “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành”.
Lạ về nhân vật, lạ về kết cấu và lạ về cả logic của chuyện. Nó gây cảm giác
nửa tin nửa ngờ, nhưng nó quả có một sức hấp dẫn bàng hoàng” [15. 163].
Tác giả Tôn Phương Lan trong cuốn sách “Phong cách nghệ thuật Nguyễn
Minh Châu”, đã phát hiện về không khí của một số tác phẩm “Từ một không
khí thiêng liêng, huyền nhiệm bao trùm lên thiên nhiên tạo vật, Nguyễn Minh
Châu đặt con người trong cùng một lúc sống ở hai thế giới khác nhau nhưng
vẫn là một: thế giới hiện thực cụ thể và thế giới tâm linh...” [23. 150].
Xung đột và mâu thuẫn cũng nằm trong cấu trúc hoàn cảnh nghệ thụât.
Nhiều ý kiến nhận xét về yếu tố này. Báo Văn nghệ, số 7-1990 có bài “Về
những yếu tố tiểu thuyết trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu” của
Phạm Vĩnh Cư. Tác giả khẳng định về phương diện mâu thuẫn, xung đột
“Chính ở đây xuất hiện cách tiếp cận mới với với cuộc sống đương thời đầy
mâu thuẫn không thể dung hoà những câu hỏi không dễ trả lời, những đau
khổ không dễ khắc phục, những tội ác không dễ tìm ra, tội phạm xuất hiện,
những hình tượng con người mang trong mình những xung đột nội tâm sâu
sắc...” Phát hiện ra những mâu thuẫn, xung đột, nhưng tác giả cũng chưa chú
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
ý tới vai trò tạo hoàn cảnh của những mâu thuẫn, xung đột ấy. Trên Tạp chí
vẫn là những phát hiện còn phân tán lẻ tẻ, chưa có minh chứng thật cụ thể và
chưa được hệ thống hoá (vì những bài viết đó không đặt vấn đề hoàn cảnh
nghệ thuật làm đối tượng nghiên cứu chính). Chưa có công trình nào nghiên
cứu một cách hệ thống về quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong tập truyện
Chiếc thuyền ngoài xa.
Trên cơ sở tiếp thu những thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước,
chúng tôi sẽ đi vào bước đầu tìm hiểu một cách hệ thống quan niệm nghệ
thuật về hoàn cảnh của Nguyễn Minh Châu trong tập truyện trên.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
3.1. Về mặt thực tiễn
Đề tài nghiên cứu có mục đích dùng ánh sáng của lí thuyết thi pháp
hoàn cảnh vào việc tìm hiểu tập truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, để phát
hiện ra cấu trúc nghệ thuật về hoàn cảnh, từ đó khám phá ra quan niệm nghệ
thuật về hoàn cảnh của nhà văn Nguyễn Minh Châu.
3.2. Về mặt lí luận
Củng cố thêm sự hiểu biết những vấn đề lý luận về thi pháp, để làm cho
nhận thức của mình được sâu sắc và phong phú hơn trong việc nghiên cứu tác
phẩm văn chương.
3.3.Về mặt phƣơng pháp luận
Rút ra những bài học có tính chất phương pháp luận cho bản thân về một
hướng tiếp cận văn chương, từ đó mở rộng khả năng cảm thụ và nâng cao
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm của mình. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
4. ĐỐI TƢỢNG VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là quan niệm nghệ thuật về hoàn
cảnh của Nguyễn Minh Châu trong tập truyện Chiếc thuyền ngoài xa (Nxb
vậy về văn nghiệp Nguyễn Minh Châu. Với tinh thần đó, đồng thời kế thừa
thành tựu nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi muốn đưa ra những
dẫn chứng, nhận định có ý nghĩa thiết thực về quan niệm nghệ thuật về hoàn
cảnh của Nguyễn Minh Châu trong tập truyện ngắn nổi tiếng trên qua cái nhìn
thi pháp, nhằm thêm một lần nữa khẳng định chiều sâu tư tưởng, cá tính sáng
tạo của nhà văn Nguyễn Minh Châu.
7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần “Mở đầu” và “Kết luận”, luận văn gồm ba chương:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lí luận về hoàn cảnh và vài nét về Nguyễn Minh
Châu - người “tiền trạm” đổi mới.
1.1. Một số vấn đề lí luận về hoàn cảnh trong văn học.
1.2. Vài nét về tư duy nghệ thụât có ý nghĩa “tiền trạm” đổi mới của Nguyễn Minh Châu.
Chƣơng 2: Hệ thống nhân vật và mâu thuẫn xung đột tạo hoàn cảnh trong
tập truyện “Chiếc thuyền ngoài xa”
2.1. Hệ thống nhân vật tạo hoàn cảnh.
2.2. Mâu thuẫn, xung đột tạo hoàn cảnh.
Chƣơng 3: Cơ chế và không khí của hoàn cảnh trong tập truyện “Chiếc
thuyền ngoài xa”
3.1. Những cơ chế chủ đạo tạo hoàn cảnh trong tập truyện “Chiếc thuyền
ngoài xa”.
3.2. Không khí của hoàn cảnh trong tập truyện “Chiếc thuyền ngoài xa”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT VỀ HOÀN CẢNH VÀ VÀI NÉT VỀ
ĐỔI MỚI TƢ DUY NGHỆ THUẬT CỦA NGUYỄN MINH CHÂU
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT VỀ HOÀN CẢNH
1.1.1. Khái niệm “hoàn cảnh”
trong nghệ thuật.
Từ đầu thế kỉ XX, những nhà lí luận Nga đã rất quan tâm tới vấn đề hoàn
cảnh trong mối quan hệ với tính cách thuộc các tác phẩm văn học hiện thực.
L.I.Timôpheep có ý kiến “Hoàn cảnh mà ta hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ
môi trường xã hội xung quanh con người đó. Cái vốn có của hoàn cảnh ấy là
những mối quan hệ nhất định giữa người và người, thể hiện trong những biến
cố xung đột này hay những biến cố xung đột khác... những biến cố xung đột
trong đó bộc lộ rõ thái độ của con người đối với hoàn cảnh ấy” [51. 297].
Nhưng, có thể thấy rằng ý kiến này chưa chý ý tới một phương diện khác của
hoàn cảnh, đó là toàn bộ môi trường tự nhiên. Đồng thời, tác giả cũng chỉ xem
xét hoàn cảnh ở khía cạnh xã hội, mà không thấy hoàn cảnh là một phương
diện hình thức, có ý nghĩa thẩm mỹ, thể hiện cá tính nghệ thuật của nhà văn.
Cùng khẳng định bản chất xã hội của hoàn cảnh còn có nhận định của nhà
nghiên cứu G.N.Pospelov trong cuốn Dẫn luận nghiên cứu văn học: “Ngay
tư tưởng lý luận văn học dân chủ đã khám phá bản chất xã hội của các hoàn
cảnh tạo nên tính cách và đó là chìa khóa có tính chất phương pháp luận
quan trọng để hiểu văn học hiện thực. Các hoàn cảnh đã được hiểu như các
đặc điểm bên ngoài của môi trường, hoàn cảnh tương tự mà như những quan
hệ xã hội và cuộc đấu tranh xã hội qui định sự vận động lịch sử của xã hội và
do đấy quy định cả từng cá nhân riêng lẻ” [46. 248]. Có thể thấy sự nhận
thức mới về hoàn cảnh trong văn học là nhận định của M.B. Khrapchenco:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
“Các nhà hiện thực thế kỉ XX đã thực hiện việc khám phá lĩnh vực hình thành
và phát triển những tính cách con người, các mối liên hệ của những tính cách
đó đối với môi trường xã hội, những khám phá đó sở dĩ có được là do trong
chính thực tại đã nổi rõ lên sự tác động của hoàn cảnh sống đối với thế giới
nội tâm và cũng là do tư duy sáng tạo của các nghệ sĩ ngôn từ lớn đã nhằm
vào việc nghiên cứu các khái quát bằng nghệ thuật các quan hệ của con
văn và có ý nghĩa thẩm mỹ nhất định, độc lập với hoàn cảnh lịch sử... Nhưng,
tác giả cũng chưa chỉ ra cấu trúc nghệ thuật của khái niệm hoàn cảnh. Có
nhiều điểm thống nhất với ý kiến của tác giả Phan Cự Đệ còn có nhận định
của nhà nghiên cứu Hà Minh Đức: “Hoàn cảnh trong tác phẩm văn học
không phải là sự phản ánh một cách máy móc hoàn cảnh trong thực tế, mà nó
cũng chịu sự tác động của quy luật sáng tạo văn học, nghĩa là nó cũng được
nhà văn tiến hành khái quát hóa và cá biệt hóa khi đưa vào tác phẩm... khái
quát là ý nghĩa tiêu biểu của hoàn cảnh trong tác phẩm cho nhiều hoàn cảnh
khác cùng một thời đại với nó... cùng với tính khái quát hoàn cảnh trong tác
phẩm phải có tính các biệt. Đó chính là những đặc điểm riêng biệt, độc đáo,
những chi tiết cụ thể, sinh động về địa điểm hoạt động và mối quan hệ của
con người sống trên địa điểm ấy” [13. 131]. Từ đó, hoàn cảnh trong tác phẩm
này sẽ được phân biệt với hoàn cảnh trong tác phẩm khác, mặc dù chúng cùng
miêu tả một phạm vi hiện thực nhất định. Mặc dù đã lưu ý phân biệt hòan
cảnh nghệ thuật và hoàn cảnh ngoài đời, nhưng tác giả vẫn chưa nói tới cấu
trúc nghệ thuật của hoàn cảnh. Khi bàn tới vấn đề hoàn cảnh điển hình, tác giả
đã có những khám phá “Hòan cảnh điển hình phải bao gồm những sự kiện,
những quan hệ do chính những tính cách tạo nên”. Nhận xét này gợi mở cho
chúng ta về một số yếu tố thuộc cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh; đó là
những mâu thuẫn và hệ thống nhân vật tạo hoàn cảnh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
Ông Hoàng Ngọc Hiến trong cuốn “Năm bài giảng về thể loại” đã phân
biệt hoàn cảnh lớn và hoàn cảnh nhỏ trong tác phẩm văn học: “Hoàn cảnh
nhỏ là môi trường hoạt động cụ thể, là môi trường sống trực tiếp của nhân
vật”... “Hoàn cảnh lớn hiểu theo nghĩa rộng nhất là hoàn cảnh lịch sử chung,
là trạng thái nhân thế của xã hội, là tình thế thời đại với những quy luật,
những xu thế khái quát nhất bật ra từ mối quan hệ cốt yếu nhất của thời đại”
[16. 84-85]. Sự phân biệt và lấy ví dụ trong việc tìm hiểu tác phẩm Chí Phèo
niệm xét về bản chất là một khái niệm về chủ thể, khái niệm về hệ quy chiếu,
thể hiện tầm lí giải, tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm
cảm, nói tổng quát là tầm hoạt động của chủ thể. Quan niệm cung cấp một
mặt bằng để trên đó diễn ra một sự lựa chọn, khái quát, nhào nặn, tạo ra hình
tượng nghệ thuật...” [50. 98]. Về quan niệm nghệ thuật, ông cho rằng “Trong
nghệ thuật thế giới được quan niệm hóa trên cơ sở sự cảm thụ cá nhân về một
thế giới, thỏa mãn nhu cầu tồn tại của nó. Nghệ thuật nâng sự cảm thụ thế
giới lên tầm quan niệm về thế giới, ứng với một quan niệm nghệ thuật là một
thế giới nghệ thuật. Với ý nghĩa này, quan niệm nghệ thuật là phạm trù về các
chỉnh thể nghệ thuật, là công cụ để tư duy về các hiện tượng nghệ thuật như
những chỉnh thể” [50. 99-100]. Đồng thời, ông cũng khẳng định quan niệm
nghệ thuật là “cơ sở chắc chắn nhất để nghiên cứu tính độc đáo của các sáng
tác nghệ thuật cũng như sự tiến bộ nghệ thuật” [50. 100]. Như vậy, có thể
thấy quan niệm nghệ thuật chi phối các hệ thống thi pháp văn học rất sâu sắc
(trong thi pháp học, quan niệm nghệ thuật về con người đã được nghiên cứu
một cách hệ thống với các biểu hiện cụ thể trong tác phẩm văn học...).
Kế thừa và phát triển những quan điểm lí luận của các nhà nghiên cứu đi
trước, PGS.TS Phạm Mạnh Hùng đã chỉ ra: “Hoàn cảnh trong văn học là
hoàn cảnh nghệ thuật. Nó có cấu trúc, có ý nghĩa riêng và chịu sự chi phối
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
của quan niệm nghệ thuật của tác giả. Hoàn cảnh trong văn học không chỉ là
sự phản ánh hoàn cảnh ngoài đời mà còn là quan niệm thẩm mỹ và nghệ
thuật về hoàn cảnh ấy.” Từ đó tác giả nhận định “Quan niệm nghệ thuật về
hoàn cảnh là nguyên tắc cắt nghĩa lí giải gắn liền với sự cảm nhận hoàn cảnh
của nhà văn. Quan niệm ấy sẽ chi phối tới việc sử dụng các phương tiện nghệ
thuật trong tác phẩm. Nó thể hiện trong việc xác lập cấu trúc nghệ thuật của
hoàn cảnh trong tác phẩm của nhà văn” [18. 27].
1.1.3. Tổng luận tài liệu nghiên cứu về “Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh”
học hiện thực Việt Nam giai đoạn 1930-1945 (Nam Cao, Ngô Tất Tố, Vũ
Trọng Phụng). Các chuyên gia đầu ngành nghiên cứu văn học Việt Nam đã
đánh giá cao những đóng góp của tác giả. GS Trần Đình Sử nhận xét: “Công
trình nghiên cứu của Phạm Mạnh Hùng về thi pháp hoàn cảnh trong tác
phẩm của Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố và Nam Cao vừa là bổ sung lí thuyết
về hoàn cảnh trong lí luận văn học, vừa là một tìm tòi về tính đa dạng của
văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn 1930-1945. Với những đề xuất táo bạo
về cấu trúc hoàn cảnh, với ngòi bút phân tích tinh tế, công phu, lần đầu tiên
tác giả cho ta cảm nhận được một cách mới mẻ, thú vị, sự miêu tả hoàn cảnh
trong các tác phẩm vốn đã rất quen thuộc đối với đông đảo người đọc. Và
cũng từ đây ta sẽ hình dung cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn được rõ nét
hơn” [18. 6]. Còn GS Phong Lê nhận xét: “Vậy là hoàn cảnh trong “quan
niệm nghệ thuật về hoàn cảnh”, tức là xét trên phương diện nghệ thuật của
nó, một “cấu trúc nghệ thuật” cho nó, là một thành tố quan trọng của thế giới
nghệ thuật, là sản phẩm của một chủ thể sáng tạo, in đậm dấu ấn riêng của
mỗi nhà văn, đồng thời cũng in dấu trào lưu sáng tác mà nhà văn phụ thuộc,
và thời đại mà nhà văn sống” [18. 359].
Công trình nghiên cứu của PGS. TS Phạm Mạnh Hùng là cơ sở lí thuyết
cơ bản để chúng tôi triển khai đề tài nghiên cứu của mình.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
1.1.4. Cấu trúc nghệ thụât của hoàn cảnh trong văn học
Có thể nói đóng góp lớn nhất của tác giả Phạm Mạnh Hùng chính là việc
chỉ ra cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh trong văn học. Hệ thống cấu trúc ấy
bao gồm những yếu tố sau:
- Hệ thống nhân vật tạo hoàn cảnh.
- Mâu thuẫn xung đột tạo hoàn cảnh.
- Cơ chế tạo hoàn cảnh.
- Không khí tạo hoàn cảnh.
Nhân vật văn học là yếu tố cơ bản nhất cấu thành lên một tác phẩm. Về
hình thức, nhân vật là “Phương diện có tính thứ nhất trong hình thức tác
phẩm, quyết định phần lớn vừa cốt truyện, vừa lựa chọn chi tiết vừa phương
diện ngôn ngữ và thậm chí cả kết cấu nữa” [41. 18]. Về nội dung, nó chính là
phương tiện để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng, gửi gắm chủ
đề tư tưởng của tác phẩm. Mỗi nhân vật như là một công cụ để nhà văn khám
phá, miêu tả đời sống (ví dụ qua những nhân vật như Chí Phèo, lão Khúng,
Quỳ, Giang Minh Sài... ta thấy được cuộc sống con người đầy rẫy những
phức tạp, đa dạng trong tương quan với môi trường xung quanh cũng như với
chính bản thân ...). Nhân vật còn là hiện thân cho những quan niệm về tính
cách và những tư tưởng chủ đề mà nhà văn muốn thể hiện, trong một thời đại
lịch sử nhất định. “Với mỗi nhân vật là thêm một lần được sắm vai mới, mỗi
hoàn cảnh tạo dựng cho nhân vật là thêm một lần người viết được trải
nghiệm, được phiêu lưu” [53. 251]. Nhân vật, nhất là khi đã trở thành hình
tượng nghệ thuật, chính là chìa khóa để chúng ta đi vào thế giới tư tưởng nghệ
thuật của tác phẩm. “Chức năng của nhân vật là khái quát những quy luật về
cuộc sống con người thể hiện những hiểu biết những ước ao, kì vọng về con
người. Nhà văn sáng tạo nhân vật là để thể hiện những cá nhân xã hội nhất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
22
định và quan niệm về các cá nhân đó. Nói cách khác, nhân vật là phương tiện
khái quát các tính cách số phận con người và các quan niệm về chúng” [33. 279].
Trong thực tế tìm hiểu nhân vật văn học, người ta nhận ra “Nhân vật văn
học là hiện tượng hết sức đa dạng” [33. 282]. Tùy theo những tiêu chí khác
nhau, người ta phân loại nhân vật thành những kiểu loại nhân vật khác nhau.
Từ tiêu chí vai trò của nhân vật trong tác phẩm, có thể nói tới nhân vật
chính, nhân vật trung tâm và nhân vật phụ.
Từ góc độ nội dung tư tưởng, có nhân vật chính diện (nhân vật tích cực),
nhân vật phản diện (nhân vật tiêu cực).
Châu là nhân vật động.
Nhân vật tĩnh: là loại nhân vật có số phận dường như không biến đổi.
Chính hệ thống nhân vật này góp phần quan trọng tạo dệt nên hoàn cảnh. Loại
nhân vật này gắn liền với quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của nhà
văn.Thường thấy trong một tác phẩm cụ thể, loại nhân vật này chiếm tỉ lệ
nhiều hơn so với nhân vật động, nhưng chúng đều có quan hệ trực tiếp hoặc
gián tiếp với nhân vật động, sự xuất hiện của nhân vật này nhiều khi tưởng
như ngẫu nhiên nhưng thực chất vẫn là sự cố ý sáng tạo của tác giả. (Hưng,
Hường trong Bên đường chiến tranh, bà mẹ, người vợ của người thợ cắt tóc
trong Bức tranh của Nguyễn Minh Châu...).
Trong hệ thống nhân vật tạo hoàn cảnh, có thể phân làm hai loại.
- Loại nhân vật có tác dụng tạo không khí cho hoàn cảnh. Loại nhân vật
này thường không có quan hệ trực tiếp với nhân vật động nó chỉ được nhà văn
nhắc đến nên thường mờ nhạt.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
24
- Loại nhân vật có chức năng tác động tới nhân vật xung quanh với
những mối quan hệ trực tiếp. Những tác động trực tiếp đó ảnh hưởng tới số
phận, tính cách các nhân vật xung quanh và dẫn tới những thay đổi về số phận
và tính cách của những nhân vật này. Cấu trúc của hoàn cảnh được đan dệt
nên bởi sự tác động qua lại giữa các nhân vật. “Nhân vật này là hoàn cảnh
của nhân vật kia và”tạo điều kiện” để nhân vật kia bộc lộ tính cách” [17. 84].
Chẳng hạn, trong mối quan hệ với Quang (Cơn Giông - Nguyễn Minh Châu),
Thăng bộc lộ lòng vị tha, thẳng thắn, còn Quang lại bộc lộ bản chất hèn mọn,
thực dụng. Quỳ trong quan hệ với Hòa (Người đàn bà trên chuyến tàu tốc
hành - Nguyễn Minh Châu) bộc lộ khát vọng tình yêu thánh thiện của một
thánh nhân. Và Hòa, trong mối quan hệ này lại bộc lộ một tình yêu rất trần
thế, chân thành, cảm động với tư cách một người lính...
Như vậy là khi tìm hiểu cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh, chúng ta cần
tính cách nhân vật, trong thế giới tâm hồn nhân vật....” [17. 88].
Khi những mâu thuẫn, xung đột được đẩy lên đến mức độ căng thẳng
giàu kịch tính, nó trở thành một yếu tố nghệ thuật trong cấu trúc của hoàn
cảnh. Trong các tác phẩm (có thể cùng một khuynh hướng sáng tác, cùng một
tác giả) có sự khai thác, thể hiện những mâu thuẫn, xung đột không giống
nhau. Chẳng hạn, trong nhiều truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, tác giả
thường chú ý những mâu thuẫn, xung đột giữa tính cách và hoàn cảnh, tính
cách và tính cách (Loại mâu thuẫn, xung đột thứ nhất và thứ hai). Hoàn cảnh
trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp thường được đan dệt chủ yếu trên cơ
sở sự “va chạm” giữa con người với thiên nhiên (Những ngọn gió Hua Tát),
giữa các tính cách (Mưa Nhã Nam, Tướng về hưu, Con gái thủy thần...).
Xung đột trong truyện ngắn Nguyễn Khải thường được thể hiện trên sự va