Luận văn
Thi pháp hoàn cảnh trong tác
phẩm của Ngô Tất Tố, Vũ
Trọng Phụng,
Nam Cao Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Là một nhà văn suốt đời khao khát khám phá cái đẹp và sự chân thật
của cuộc sống, Nguyễn Minh Châu đã cống hiến hết mình cho nghệ thuật và ông
có một vị trí đặc biệt quan trọng - người “tiền trạm đổi mới” (GS. Phong Lê)
trong nền văn học hiện đại Việt Nam.
Trước 1975, Nguyễn Minh Châu đã viết nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn
đậm chất sử thi và cảm hứng lãng mạn. Đó là những bản anh hùng ca chói
ngời phẩm chất anh dũng, kiên cường, lí tưởng của con người Việt Nam trong
một giai đoạn lịch sử đặc biệt.
Sau 1975, cả nước sống trong một bầu không khí tinh thần mới, Nguyễn
Minh Châu đã có sự chuyển hướng về tư duy nghệ thuật. Những tác phẩm của
ông giai đoạn này - đặc biệt là truyện ngắn - hấp dẫn người đọc bởi sự giản dị
gần gũi mà chứa đựng chiều sâu nhân bản… Chính tác giả cũng từng nhận
thấy “Mình viết văn suốt đời tràng giang đại hải, có khi chỉ còn lại được vài
cái truyện ngắn” [42. 430].
Khi tìm hiểu những tác phẩm của Nguyễn Minh Châu trong giai đoạn
sau 1975, tác giả Nguyễn Trọng Hoàn phát hiện “Vẫn là một Nguyễn Minh
Nguyễn Minh Châu, chúng tôi muốn vận dụng lí thuyết thi pháp hoàn cảnh
vào khám phá quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của nhà văn trong tập
truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa (Nxb Tác phẩm mới, H.1987 - in trong
toàn tập Nguyễn Minh Châu, tập III, 2001, Nxb Hội nhà văn), để từ đó góp
thêm cái nhìn đầy đủ hơn về tài năng sáng tạo của nhà văn Nguyễn Minh Châu.
Đồng thời, việc tìm hiểu vấn đề này còn góp phần thiết thực cho việc giảng
dạy một số tác phẩm của Nguyễn Minh Châu trong nhà trường phổ thông.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Vấn đề quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong văn học, chúng tôi sẽ đề
cập trong phần Mấy vấn đề lí luận về hoàn cảnh (chương 1), vì vậy ở đây
chúng tôi chỉ điểm lại lịch sử vấn đề quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong
15 truyện ngắn thuộc tập truyện Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu.
Từ những năm 80 của thế kỉ XX, bắt đầu bằng truyện ngắn Bức tranh
như là một dấu mốc, các sáng tác của Nguyễn Minh Châu thực sự trở thành
một hiện tượng văn học có sức hút rất lớn đối với giới nghiên cứu và phê
bình. Trong những công trình nghiên cứu về các tác phẩm ở tập truyện trên
của Nguyễn Minh Châu, đa số đề cập tới phương diện nội dung, những cách
tân nghệ thuật như nhân vật, giọng điệu Rải rác trong các bài viết có những
nhận định tới các yếu tố thuộc cấu trúc của hoàn cảnh nghệ thuật.
2.1. Có những nhà nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa tính cách và
hoàn cảnh và khẳng định sự thành công trong việc xây dựng hoàn cảnh của
nhà văn Nguyễn Minh Châu. Ngô Thảo trong bài “Đọc những tác phẩm mới
của Nguyễn Minh Châu” đã nhận định về tác phẩm Người đàn bà trên
chuyến tàu tốc hành, trong đó có đoạn nói về mối quan hệ giữa nhân vật và
hoàn cảnh “Ngay trong một hoàn cảnh sống giàu lí tưởng, sự lí tưởng hoá
chính mình cũng như mọi người xung quanh, sớm muộn cũng dẫn tới những
bi kịch không cần thiết” [15. 304]. Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử trong bài
trước những bước đi mới mẻ, khác lạ, những nhân vật “dị thường” do nhà văn
sáng tạo: “Đọc truyện của anh ta bị hấp dẫn bởi những chi tiết độc đáo,
những đoạn miêu tả cuộc sống bình thường thật sắc sảo, nhưng toàn cục câu
chuyện lại thiếu một cái gì đó để người ta đủ tin. Truyện của anh mang màu
vẻ ước lệ ấy. Cái vẻ ước lệ thể hiện trong tính cách khác thường của một số
nhân vật. Nó còn thể hiện ở một vài hoàn cảnh khác thường, chi tiết khác
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
thường nữa ” (Xuân Thiều) [15. 248]. Tác giả Nguyễn Kiên nhận xét: “Anh
Châu có những truyện có những chỗ dị thường mà dị thường thật. Cuộc phiêu
lưu tình cảm ở truyện Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành là một dị
thường” [15. 250]. Các nhà văn Vũ Tú Nam, Triều Dương, Đào Vũ có cảm
nhận truyện của Nguyễn Minh Châu “rối”, “bàng bạc”
Luồng ý kiến thứ hai đánh giá cao sự tìm tòi đổi mới của Nguyễn Minh
Châu: “Trong truyện của anh mọi cái đang vỡ ra tạo nên những khoảng trống
phải nghi ngờ, phải nghĩ. Tại sao nhân vật Khúng này lại lạ thế? Đúng là có
những khoảng trống như vậy. Nguyễn Minh Châu dần dần tạo ra thế giới
nghệ thuật của anh” (Phong Lê) [15. 249]. Xuân Trường cũng khẳng định
“Nguyễn Minh Châu muốn soi rọi vào từng con người, để phân biệt, để so
sánh, để nhận chân, và cuối cùng để đấu tranh cho cái mới anh muốn từ cái
hằng ngày, cái thường ngày, vượt ra khỏi cái gì đã khô cứng, cái gì như đã
thành định kiến, kể cả bản thân mình để đi tìm điều anh mong ước, đi tìm vấn
đề và cách thể hiện mới ” [15. 258]. Có thể thấy trong cuộc trao đổi này, vấn
đề nhân vật được soi chiếu khá nhiều, nhưng nhìn nhận nó như một phương
diện của hoàn cảnh nghệ thuật chưa được đặt ra. Võ Hồng Ngọc qua bài viết
“Mảnh đất tình yêu - sự tiếp nôí những câu chuyện tình đời”, đã có những
nhận xét khá tinh tế về hai tập: Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành và
Bến quê (Sau này in chung thành tập Chiếc thuyền ngoài xa (1987)): “Con
người hiện thực là một thực thể sống động, không ngừng vận động, phát triển,
nhiều đánh giá khá sắc sảo, hấp dẫn về một số tác phẩm cụ thể ở cả hai
phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật. Trong đó có một số phát hiện
về không khí: “Bức tranh lôi cuốn người đọc không chỉ vì tác giả xoáy sâu
vào tâm lí con người, mà còn vì nghệ thuật tạo căng thẳng dần: từ cảm giác
ân hận bị dìm xuống đến lòng hối hận bùng lên, rồi một niềm ăn năn cắn rứt
mãi không thôi” [15. 152]. Khi nói về không khí của truyện Người đàn bà
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
trên chuyến tàu tốc hành, tác giả khẳng định “Và hành trình của chị mãi mãi
vẫn là một hành trình mang âm hưởng cô đơn đã không tránh khỏi không
khí ảm đạm là vì vậy” [15. 153]. Kết luận chung về tập truyện, Huỳnh Như
Phương khẳng định “Tác giả đã cố gắng đưa nhân vật đến cùng sự phân tích
bên trong để nhìn rõ chính nó. Sự kết hợp giữa các mảng thời gian, và các
khoảng không gian xa cách nhau, sự đan xen giữa ý thức và tiềm thức, hồi ức
và tưởng tượng, sự hoà quyện của các giọng văn khác nhau tất cả đã tạo ra
một số truyện đạt đến chiều sâu nhất định cả về phương diện tự sự lẫn về
phương diện tâm lí ” [15. 154]. Trong bài “Trở lại “Chuyến tàu tốc hành”
của Nguyễn Minh Châu”, Nguyễn Trung Hiếu cảm nhận “Một trong những
cái lạ của Nguyễn Minh Châu là “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành”.
Lạ về nhân vật, lạ về kết cấu và lạ về cả logic của chuyện. Nó gây cảm giác
nửa tin nửa ngờ, nhưng nó quả có một sức hấp dẫn bàng hoàng” [15. 163].
Tác giả Tôn Phương Lan trong cuốn sách “Phong cách nghệ thuật Nguyễn
Minh Châu”, đã phát hiện về không khí của một số tác phẩm “Từ một không
khí thiêng liêng, huyền nhiệm bao trùm lên thiên nhiên tạo vật, Nguyễn Minh
Châu đặt con người trong cùng một lúc sống ở hai thế giới khác nhau nhưng
vẫn là một: thế giới hiện thực cụ thể và thế giới tâm linh ” [23. 150].
Xung đột và mâu thuẫn cũng nằm trong cấu trúc hoàn cảnh nghệ thụât.
Nhiều ý kiến nhận xét về yếu tố này. Báo Văn nghệ, số 7-1990 có bài “Về
những yếu tố tiểu thuyết trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu” của
những nghịch lí của cuộc đời. Những tình thế chứa đựng nghịch lí giữa cái
hữu hạn và vô hạn của khả năng con người; có xung đột gay gắt giữa cái
thiện và cái ác, giữa khát vọng cá nhân (thậm chí chỉ trong tiềm thức) với
thực tế khắc nghiệt của hoàn cảnh” [15. 319] Song, trong bài viết đó tác giả
cũng không đề cập tới vai trò tạo dệt hoàn cảnh của những mâu thuẫn ấy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
Như vậy, trong các bài nghiên cứu, phê bình, các tác giả đã điểm, nhắc
đến hoàn cảnh ở một số phương diện, nhưng những nhận định trên chủ yếu
vẫn là những phát hiện còn phân tán lẻ tẻ, chưa có minh chứng thật cụ thể và
chưa được hệ thống hoá (vì những bài viết đó không đặt vấn đề hoàn cảnh
nghệ thuật làm đối tượng nghiên cứu chính). Chưa có công trình nào nghiên
cứu một cách hệ thống về quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong tập truyện
Chiếc thuyền ngoài xa.
Trên cơ sở tiếp thu những thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước,
chúng tôi sẽ đi vào bước đầu tìm hiểu một cách hệ thống quan niệm nghệ
thuật về hoàn cảnh của Nguyễn Minh Châu trong tập truyện trên.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
3.1. Về mặt thực tiễn
Đề tài nghiên cứu có mục đích dùng ánh sáng của lí thuyết thi pháp
hoàn cảnh vào việc tìm hiểu tập truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, để phát
hiện ra cấu trúc nghệ thuật về hoàn cảnh, từ đó khám phá ra quan niệm nghệ
thuật về hoàn cảnh của nhà văn Nguyễn Minh Châu.
3.2. Về mặt lí luận
Củng cố thêm sự hiểu biết những vấn đề lý luận về thi pháp, để làm cho
nhận thức của mình được sâu sắc và phong phú hơn trong việc nghiên cứu tác
phẩm văn chương.
3.3.Về mặt phƣơng pháp luận
Rút ra những bài học có tính chất phương pháp luận cho bản thân về một
5.3. Chúng tôi cũng sử dụng phương pháp so sánh để thấy sự khác biệt
về quan niệm nghệ thuật về hòan cảnh của Nguyễn Minh Châu trong truyện
ngắn trước 1975 và trong tập truyện này.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
6. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
Nhà nghiên cứu Phong Lê đã nói: “Sáng tác của Nam Cao là cả một trữ
lượng bên trong, một kho của dư đầy có thể đào xới vào rất nhiều tầng vỉa,
và vẫn còn hứa hẹn nhiều vỉa mới” [29. 110], chúng ta cũng có thể nói như
vậy về văn nghiệp Nguyễn Minh Châu. Với tinh thần đó, đồng thời kế thừa
thành tựu nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi muốn đưa ra những
dẫn chứng, nhận định có ý nghĩa thiết thực về quan niệm nghệ thuật về hoàn
cảnh của Nguyễn Minh Châu trong tập truyện ngắn nổi tiếng trên qua cái nhìn
thi pháp, nhằm thêm một lần nữa khẳng định chiều sâu tư tưởng, cá tính sáng
tạo của nhà văn Nguyễn Minh Châu.
7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần “Mở đầu” và “Kết luận”, luận văn gồm ba chương:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lí luận về hoàn cảnh và vài nét về Nguyễn Minh
Châu - người “tiền trạm” đổi mới.
1.1. Một số vấn đề lí luận về hoàn cảnh trong văn học.
1.2. Vài nét về tư duy nghệ thụât có ý nghĩa “tiền trạm” đổi mới của Nguyễn Minh Châu.
Chƣơng 2: Hệ thống nhân vật và mâu thuẫn xung đột tạo hoàn cảnh trong
tập truyện “Chiếc thuyền ngoài xa”
2.1. Hệ thống nhân vật tạo hoàn cảnh.
2.2. Mâu thuẫn, xung đột tạo hoàn cảnh.
Chƣơng 3: Cơ chế và không khí của hoàn cảnh trong tập truyện “Chiếc
thuyền ngoài xa”
3.1. Những cơ chế chủ đạo tạo hoàn cảnh trong tập truyện “Chiếc thuyền
ngoài xa”.
nghiên cứu văn học hiện thực) thường hay nhắc tới ý kiến của Ăngghen: “Chủ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
nghĩa hiện thực đòi hỏi, ngoài tính cách chân thực của chi tiết ra, sự tái hiện
chân thực những tính cách điển hình trong những hoàn cảnh điển hình” [34.
384]. Mặc dù, ý kiến của Ăngghen về chủ nghĩa hiện thực có phần nghiêng về
phương diện xã hội nhiều hơn là phương diện nghệ thuật khi nghiên cứu hoàn
cảnh trong tác phẩm văn học, song, từ ý kiến của Ăngghen có thể suy rộng ra
hoàn cảnh nghệ thuật là môi trường cần phải có để xây dựng những tính cách
trong nghệ thuật.
Từ đầu thế kỉ XX, những nhà lí luận Nga đã rất quan tâm tới vấn đề hoàn
cảnh trong mối quan hệ với tính cách thuộc các tác phẩm văn học hiện thực.
L.I.Timôpheep có ý kiến “Hoàn cảnh mà ta hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ
môi trường xã hội xung quanh con người đó. Cái vốn có của hoàn cảnh ấy là
những mối quan hệ nhất định giữa người và người, thể hiện trong những biến
cố xung đột này hay những biến cố xung đột khác những biến cố xung đột
trong đó bộc lộ rõ thái độ của con người đối với hoàn cảnh ấy” [51. 297].
Nhưng, có thể thấy rằng ý kiến này chưa chý ý tới một phương diện khác của
hoàn cảnh, đó là toàn bộ môi trường tự nhiên. Đồng thời, tác giả cũng chỉ xem
xét hoàn cảnh ở khía cạnh xã hội, mà không thấy hoàn cảnh là một phương
diện hình thức, có ý nghĩa thẩm mỹ, thể hiện cá tính nghệ thuật của nhà văn.
Cùng khẳng định bản chất xã hội của hoàn cảnh còn có nhận định của nhà
nghiên cứu G.N.Pospelov trong cuốn Dẫn luận nghiên cứu văn học: “Ngay
tư tưởng lý luận văn học dân chủ đã khám phá bản chất xã hội của các hoàn
cảnh tạo nên tính cách và đó là chìa khóa có tính chất phương pháp luận
quan trọng để hiểu văn học hiện thực. Các hoàn cảnh đã được hiểu như các
đặc điểm bên ngoài của môi trường, hoàn cảnh tương tự mà như những quan
hệ xã hội và cuộc đấu tranh xã hội qui định sự vận động lịch sử của xã hội và
do đấy quy định cả từng cá nhân riêng lẻ” [46. 248]. Có thể thấy sự nhận
quát và nêu lên ý nghĩa bản chất của cuộc đấu tranh xã hội bằng hình thức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
15
thẩm mỹ cá bịêt hóa. Hoàn cảnh điển hình do nhà văn xây dựng trên cơ sở
tưởng tượng hư cấu và nhờ vậy họ làm cho sự xung đột giữa các mâu thuẫn
xã hội cơ bản trở nên gay gắt hơn, sự phát triển của hành động trở nên dồn
dập căng thẳng hơn” [11. 305]. Khi nhà nghiên cứu khẳng định hoàn cảnh
“là một hình thức thẩm mỹ cá biệt hóa” và “xây dựng trên cơ sở tưởng tượng
hư cấu”, có nghĩa là đã công nhận hoàn cảnh là kết quả sáng tạo riêng của nhà
văn và có ý nghĩa thẩm mỹ nhất định, độc lập với hoàn cảnh lịch sử Nhưng,
tác giả cũng chưa chỉ ra cấu trúc nghệ thuật của khái niệm hoàn cảnh. Có
nhiều điểm thống nhất với ý kiến của tác giả Phan Cự Đệ còn có nhận định
của nhà nghiên cứu Hà Minh Đức: “Hoàn cảnh trong tác phẩm văn học
không phải là sự phản ánh một cách máy móc hoàn cảnh trong thực tế, mà nó
cũng chịu sự tác động của quy luật sáng tạo văn học, nghĩa là nó cũng được
nhà văn tiến hành khái quát hóa và cá biệt hóa khi đưa vào tác phẩm khái
quát là ý nghĩa tiêu biểu của hoàn cảnh trong tác phẩm cho nhiều hoàn cảnh
khác cùng một thời đại với nó cùng với tính khái quát hoàn cảnh trong tác
phẩm phải có tính các biệt. Đó chính là những đặc điểm riêng biệt, độc đáo,
những chi tiết cụ thể, sinh động về địa điểm hoạt động và mối quan hệ của
con người sống trên địa điểm ấy” [13. 131]. Từ đó, hoàn cảnh trong tác phẩm
này sẽ được phân biệt với hoàn cảnh trong tác phẩm khác, mặc dù chúng cùng
miêu tả một phạm vi hiện thực nhất định. Mặc dù đã lưu ý phân biệt hòan
cảnh nghệ thuật và hoàn cảnh ngoài đời, nhưng tác giả vẫn chưa nói tới cấu
trúc nghệ thuật của hoàn cảnh. Khi bàn tới vấn đề hoàn cảnh điển hình, tác giả
đã có những khám phá “Hòan cảnh điển hình phải bao gồm những sự kiện,
những quan hệ do chính những tính cách tạo nên”. Nhận xét này gợi mở cho
chúng ta về một số yếu tố thuộc cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh; đó là
những mâu thuẫn và hệ thống nhân vật tạo hoàn cảnh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
17
1.1.2 Khái niệm “Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh”
Trong cuốn Lí luận và phê bình văn học, GS Trần Đình Sử viết: “Có thể
xem quan niệm nghệ thuật là khái niệm lí luận quan trọng bậc nhất trong mấy
thập niên qua, có ý nghĩa trả về cho văn học bản chất nhân học” [50. 93]
Nhưng thực tế là “Cho đến nay khái niệm này vẫn chưa có cách hiểu thống
nhất”. Mặc dù vậy, GS Trần Đình Sử cũng đưa ra cách hiểu của mình về khái
niệm quan niệm: “quan niệm không phải là khái niệm về đối tượng, về hiện
thực mà là khái niệm về sự cắt nghĩa đối với đối tượng và hiện thực quan
niệm xét về bản chất là một khái niệm về chủ thể, khái niệm về hệ quy chiếu,
thể hiện tầm lí giải, tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm
cảm, nói tổng quát là tầm hoạt động của chủ thể. Quan niệm cung cấp một
mặt bằng để trên đó diễn ra một sự lựa chọn, khái quát, nhào nặn, tạo ra hình
tượng nghệ thuật ” [50. 98]. Về quan niệm nghệ thuật, ông cho rằng “Trong
nghệ thuật thế giới được quan niệm hóa trên cơ sở sự cảm thụ cá nhân về một
thế giới, thỏa mãn nhu cầu tồn tại của nó. Nghệ thuật nâng sự cảm thụ thế
giới lên tầm quan niệm về thế giới, ứng với một quan niệm nghệ thuật là một
thế giới nghệ thuật. Với ý nghĩa này, quan niệm nghệ thuật là phạm trù về các
chỉnh thể nghệ thuật, là công cụ để tư duy về các hiện tượng nghệ thuật như
những chỉnh thể” [50. 99-100]. Đồng thời, ông cũng khẳng định quan niệm
nghệ thuật là “cơ sở chắc chắn nhất để nghiên cứu tính độc đáo của các sáng
tác nghệ thuật cũng như sự tiến bộ nghệ thuật” [50. 100]. Như vậy, có thể
thấy quan niệm nghệ thuật chi phối các hệ thống thi pháp văn học rất sâu sắc
(trong thi pháp học, quan niệm nghệ thuật về con người đã được nghiên cứu
một cách hệ thống với các biểu hiện cụ thể trong tác phẩm văn học ).
Kế thừa và phát triển những quan điểm lí luận của các nhà nghiên cứu đi
trước, PGS.TS Phạm Mạnh Hùng đã chỉ ra: “Hoàn cảnh trong văn học là
hoàn cảnh nghệ thuật. Nó có cấu trúc, có ý nghĩa riêng và chịu sự chi phối
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
19
tạo của từng tác giả, tức là phụ thuộc vào cái nhìn nghệ thuật độc đáo, vào
cách cảm, cách nghĩ của nhà văn, thể hiện ở những nguyên tắc biện pháp
nghệ thuật nhằm biểu hiện những hoàn cảnh nghệ thuật” [18. 60]. Như vậy,
đương nhiên là cùng trong một hiện thực xã hội, nhưng quan niệm nghệ thuật
về hoàn cảnh ở mỗi nhà văn lại khác nhau. Điều đó tạo nên bức tranh văn học
đa sắc, phong phú mà độc đáo, hấp dẫn. Trong chuyên luận, tác giả Phạm
Mạnh Hùng đã minh chứng cho luận điểm khoa học của mình bằng những
dẫn chứng cụ thể từ các tác phẩm tiêu biểu của ba cây bút lớn trong làng văn
học hiện thực Việt Nam giai đoạn 1930-1945 (Nam Cao, Ngô Tất Tố, Vũ
Trọng Phụng). Các chuyên gia đầu ngành nghiên cứu văn học Việt Nam đã
đánh giá cao những đóng góp của tác giả. GS Trần Đình Sử nhận xét: “Công
trình nghiên cứu của Phạm Mạnh Hùng về thi pháp hoàn cảnh trong tác
phẩm của Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố và Nam Cao vừa là bổ sung lí thuyết
về hoàn cảnh trong lí luận văn học, vừa là một tìm tòi về tính đa dạng của
văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn 1930-1945. Với những đề xuất táo bạo
về cấu trúc hoàn cảnh, với ngòi bút phân tích tinh tế, công phu, lần đầu tiên
tác giả cho ta cảm nhận được một cách mới mẻ, thú vị, sự miêu tả hoàn cảnh
trong các tác phẩm vốn đã rất quen thuộc đối với đông đảo người đọc. Và
cũng từ đây ta sẽ hình dung cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn được rõ nét
hơn” [18. 6]. Còn GS Phong Lê nhận xét: “Vậy là hoàn cảnh trong “quan
niệm nghệ thuật về hoàn cảnh”, tức là xét trên phương diện nghệ thuật của
nó, một “cấu trúc nghệ thuật” cho nó, là một thành tố quan trọng của thế giới
nghệ thuật, là sản phẩm của một chủ thể sáng tạo, in đậm dấu ấn riêng của
mỗi nhà văn, đồng thời cũng in dấu trào lưu sáng tác mà nhà văn phụ thuộc,
và thời đại mà nhà văn sống” [18. 359].
Công trình nghiên cứu của PGS. TS Phạm Mạnh Hùng là cơ sở lí thuyết
cơ bản để chúng tôi triển khai đề tài nghiên cứu của mình.
21
Thúy Kiều, Từ Hải, anh Pha, chị Dậu, Chí Phèo, Nguyệt, lão Khúng,
Đônkihôtê, Giăng Van Giăng, AQ hoặc không có tên như: thằng bán tơ
(Truyện Kiều - Nguyễn Du), lính lệ (Tắt Đèn - Ngô Tất Tố) anh (Biển cứu
rỗi - Võ Thị Hảo), một cái bào thai (Thiên thần sám hối - Tạ Duy Anh)… đó
là những con vật (mang nội dung và ý nghĩa con người) trong truyện cổ tích
Andecxen, truyện ngụ ngôn của Êzôp Cũng có khi khái niệm nhân vật được
sử dụng một cách ẩn dụ: thời gian trong sáng tác của Sêkhôp, nhân dân trong
Chiến tranh và hòa bình Nhưng chủ yếu vẫn là hình tượng con người trong
tác phẩm.
Nhân vật văn học là yếu tố cơ bản nhất cấu thành lên một tác phẩm. Về
hình thức, nhân vật là “Phương diện có tính thứ nhất trong hình thức tác
phẩm, quyết định phần lớn vừa cốt truyện, vừa lựa chọn chi tiết vừa phương
diện ngôn ngữ và thậm chí cả kết cấu nữa” [41. 18]. Về nội dung, nó chính là
phương tiện để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng, gửi gắm chủ
đề tư tưởng của tác phẩm. Mỗi nhân vật như là một công cụ để nhà văn khám
phá, miêu tả đời sống (ví dụ qua những nhân vật như Chí Phèo, lão Khúng,
Quỳ, Giang Minh Sài ta thấy được cuộc sống con người đầy rẫy những
phức tạp, đa dạng trong tương quan với môi trường xung quanh cũng như với
chính bản thân ). Nhân vật còn là hiện thân cho những quan niệm về tính
cách và những tư tưởng chủ đề mà nhà văn muốn thể hiện, trong một thời đại
lịch sử nhất định. “Với mỗi nhân vật là thêm một lần được sắm vai mới, mỗi
hoàn cảnh tạo dựng cho nhân vật là thêm một lần người viết được trải
nghiệm, được phiêu lưu” [53. 251]. Nhân vật, nhất là khi đã trở thành hình
tượng nghệ thuật, chính là chìa khóa để chúng ta đi vào thế giới tư tưởng nghệ
thuật của tác phẩm. “Chức năng của nhân vật là khái quát những quy luật về
cuộc sống con người thể hiện những hiểu biết những ước ao, kì vọng về con
người. Nhà văn sáng tạo nhân vật là để thể hiện những cá nhân xã hội nhất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tác giả Phạm Mạnh Hùng đã nhận thấy nhân vật trong văn học, bên
cạnh vai trò là phương tiện khái quát hiện thực và thể hiện tính cách, nó còn là
yếu tố quan trọng trong việc tạo dựng hoàn cảnh. Theo tác giả, nhìn từ góc độ
cấu trúc nghệ thuật của hoàn cảnh, có thể chia làm hai loại nhân vật: nhân vật
tĩnh và nhân vật động.
Nhân vật động: là loại nhân vật có sự biến đổi về số phận. Nhân vật động
thường phản ánh tư tưởng của nhà văn và có vai trò, tác dụng thể hiện hòan
cảnh. Chẳng hạn trong tác phẩm Thời xa vắng (Lê Lựu), Giang Minh Sài là
nhân vật động, Kiên (Thân phận tình yêu - Bảo Ninh), Quỳ (Người đàn bà
trên chuyến tàu tốc hành), lão Khúng (Khách ở quê ra) của Nguyễn Minh
Châu là nhân vật động.
Nhân vật tĩnh: là loại nhân vật có số phận dường như không biến đổi.
Chính hệ thống nhân vật này góp phần quan trọng tạo dệt nên hoàn cảnh. Loại
nhân vật này gắn liền với quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh của nhà
văn.Thường thấy trong một tác phẩm cụ thể, loại nhân vật này chiếm tỉ lệ
nhiều hơn so với nhân vật động, nhưng chúng đều có quan hệ trực tiếp hoặc
gián tiếp với nhân vật động, sự xuất hiện của nhân vật này nhiều khi tưởng
như ngẫu nhiên nhưng thực chất vẫn là sự cố ý sáng tạo của tác giả. (Hưng,
Hường trong Bên đường chiến tranh, bà mẹ, người vợ của người thợ cắt tóc
trong Bức tranh của Nguyễn Minh Châu ).
Trong hệ thống nhân vật tạo hoàn cảnh, có thể phân làm hai loại.
- Loại nhân vật có tác dụng tạo không khí cho hoàn cảnh. Loại nhân vật
này thường không có quan hệ trực tiếp với nhân vật động nó chỉ được nhà văn
nhắc đến nên thường mờ nhạt.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
24
- Loại nhân vật có chức năng tác động tới nhân vật xung quanh với
những mối quan hệ trực tiếp. Những tác động trực tiếp đó ảnh hưởng tới số
phận, tính cách các nhân vật xung quanh và dẫn tới những thay đổi về số phận