TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN THƠ TRẺ VIỆT NAM THỜI KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ: CẢM HỨNG VÀ GIỌNG ĐIỆU - Pdf 24

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
  
NGUYỄN BÁ LONG
THƠ TRẺ VIỆT NAM THỜI KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ:
CẢM HỨNG VÀ GIỌNG ĐIỆU
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 62 22 34 01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2014
Công trình được hình thành tại:
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Phùng Quý Nhâm
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp nhà nước
tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Vào hồi ……, giờ ……, ngày…… tháng …… năm 2014
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Khoa học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh
- Thư viện Khoa học Xã hội TP. Hồ Chí Minh
- Thư viện Trường ĐH KHXH &NVTP. Hồ Chí Minh
DẪN NHẬP
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Thơ trẻ Việt Nam thời kháng chiến chống Mỹ (gọi tắt “thơ trẻ thời chống Mỹ”),
qua độ lắng thời gian, nay trở thành hiện tượng văn hóa tinh thần rất đáng trân trọng.
Chúng tôi cho rằng tiếp cận thơ trẻ thời chống Mỹ từ cảm hứng và giọng điệu là
khám phá tư tưởng và nghệ thuật của một dòng thơ nảy sinh trong bối cảnh chiến tranh,
nhiệm vụ cứu nước được đặt lên trên hết. Độ giãn gần bốn mươi năm kể từ khi chiến tranh

Quần Phương nhận ra “Thơ Nguyễn Khoa Điềm khỏe mà thấm”; Hoàng Trung Thông có
những nhận xét tinh tế về Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Ý Nhi, Lâm Thị Mỹ Dạ,
1
Trong từng bài viết, các nhà phê bình uy tín đã rất chú ý đến ngôn ngữ, bút pháp, nhịp
thơ, tức những vấn đề không tách rời cảm hứng và giọng điệu.
Xét theo hướng nghiên cứu tổng thể, có thể nói, Chế Lan Viên là người khai mở
đầu tiên. Trong Lời tựa tập thơ Sức mới (1965), ông đã nhận ra thế mạnh của thơ trẻ chính
ở sự “nồng ấm cái hơi thở của cuộc sống”. Đến tiểu luận “Thơ đánh Mỹ cứu nước”, Chế
Lan Viên chỉ rõ sự lớn mạnh nhanh chóng đội ngũ nhà thơ trẻ, tiếp tục khẳng định ưu thế
nổi trội của họ.
Sau Chế Lan Viên, khi cuộc chiến cận kề kết thúc, những Bùi Công Hùng, Nguyễn
Văn Long, Bằng Việt đều có bài viết về thơ trẻ thời chống Mỹ theo hướng nghiên cứu tổng
thể. Trong các bài viết ấy, ở mức độ này mức độ khác, vấn đề cảm hứng và giọng điệu đã
được đề cập, đóng góp của thế hệ thơ trẻ được chú ý.
● Chặng thứ hai: Mười năm đầu hậu chiến (1976 - 1986)
Chiến tranh kết thúc, đội ngũ nhà thơ trẻ đã không còn trẻ nữa; trong họ, một số
người dành thời gian nghiên cứu thơ của thế hệ mình, đưa ra những ý kiến đáng chú ý
(Nguyễn Trọng Tạo, Vũ Quần Phương, Phạm Tiến Duật, ).
Tập trung nhiều, có tính chuyên nghiệp vẫn là những nhà khoa học ở các viện
nghiên cứu, các trường đại học. Nhiều công trình nghiên cứu thơ chống Mỹ tầm quy mô ra
đời, thơ trẻ rất được chú ý. Đó là: Văn học Việt Nam chống Mỹ cứu nước (Viện Văn
học,1979), Nhà thơ Việt Nam hiện đại (Viện Văn học, 1984), Văn học giải phóng miền
Nam (Phạm Văn Sĩ, 1976), Điểm cần quan tâm là, đến Văn học Việt Nam chống Mỹ cứu
nước, lần đầu tiên mảng thơ trẻ yêu nước tiến bộ vùng đô thị miền Nam được nghiên cứu
theo hướng tổng thể, hé lộ cách nhìn mới.
Như vậy, trong những năm đất nước chiến tranh và vừa ra khỏi chiến tranh, các nhà
nghiên cứu chủ yếu tiếp cận thơ trẻ thời chống Mỹ theo hướng “phân đôi” nội dung và
hình thức (nội dung trên hết), chú trọng nhiều đến chủ thể sáng tạo; hướng nghiên cứu
phong cách, giọng điệu, thi pháp, thì phải sau 1986 mới được triển khai với tư cách là
những đề tài khoa học chuyên ngành.

chúng tôi khảo sát thơ trẻ thời chống Mỹ từ cảm hứng và giọng điệu bằng một công trình
khoa học hoàn chỉnh, chuyên biệt.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Là cảm hứng và giọng điệu nghệ thuật của thơ trẻ thời chống Mỹ; có so sánh, đối
chiếu với thơ chống Mỹ của các thế hệ trước.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Với dung lượng cho phép của một Luận án, để tăng chiều sâu, chúng tôi tập trung
khảo sát thơ trẻ miền Bắc và thơ trẻ vùng giải phóng, còn thơ trẻ yêu nước tiến bộ vùng đô
thị thì chọn một số cây bút tiêu biểu để nghiên cứu. Riêng thơ trẻ miền Bắc, những thi
phẩm vì lí do nào đó mà thời chống Mỹ chưa công bố, nay được lưu hành rộng rãi, đều
nằm trong phạm vi khảo sát của chúng tôi.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Luận án vận dụng, kết hợp các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp lịch sử,
phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh - đối chiếu, phương pháp loại hình, phương
pháp phân tích tổng hợp. Ngoài ra, để khảo sát hình ảnh, màu sắc có ý nghĩa biểu tượng;
khảo sát cách tổ chức lời văn nghệ thuật, chúng tôi còn sử dụng phương pháp thi pháp học.
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
● Về lí luận: Góp phần cụ thể hóa cảm hứng và giọng điệu nghệ thuật (qua khảo
sát thơ trẻ thời chống Mỹ); vận dụng vào nghiên cứu một dòng thơ nảy sinh trong giai
đoạn lịch sử đặc biệt.
● Về văn học sử: - Làm rõ biên độ thơ chống Mỹ, khái niệm “thơ trẻ”, mốc hình
thành và các chặng vận động của thơ trẻ thời chống Mỹ.
- Biện luận, chứng minh các dạng cảm hứng, các kiểu giọng điệu trong thơ trẻ thời
chống Mỹ; khẳng định những đóng góp và chỉ ra một số hạn chế của nó.
3
● Về thực tiễn: Góp một phần vào việc giảng dạy, học tập thơ chống Mỹ nói
chung, dòng thơ trẻ nói riêng theo định hướng mới, phù hợp thời đất nước hội nhập.
6. CẤU TRÚC LUẬN ÁN
Ngoài phần Dẫn nhập, Kết luận, Tài liệu tham khảo (199 đề mục), Các thi phẩm

Nam trong những năm chia cắt: “Rằng nước ta chung một sơn hà / Rằng Bắc Nam cũng là
ruột thịt / Ôm anh em nghe máu chảy vào tim” (Ta đi tới - Trần Quang Long).
Khác nhà thơ ở miền Bắc hay nhà thơ vùng giải phóng, các nhà thơ yêu nước tiến
bộ vùng đô thị miền Nam có thể được giác ngộ cách mạng ở một mức nào đó, nhưng chủ
4
yếu là họ sáng tác dưới ánh sáng của lòng yêu nước, của tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc,
của khát vọng độc lập tự do và sự tự nguyện xả thân - cống hiến.
Đúng là thời đại đã sản sinh ra con người và thơ ca. Thời chống Mỹ là thời cả nước
nhập trận. Tư tưởng, tình cảm trong thơ chống Mỹ là sự khúc xạ tư tưởng, tình cảm lớn của
dân tộc và thời đại. Nếu coi thơ chống Mỹ là dàn đồng ca thì trước hết, dàn đồng ca ấy hội
tụ ở tinh thần yêu nước, ở tình cảm cộng đồng.
1.1.2.2. Một số đặc điểm về hình thức nghệ thuật
Trong phạm vi một tiểu mục của luận án chúng tôi chỉ khảo sát một số đặc điểm
liên quan đến ngôn ngữ thơ và thể thơ. Đó là:
● Gia tăng chất khẩu ngữ, thu hẹp khoảng cách giữa ngôn ngữ thơ với ngôn
ngữ đời thường
Kế thừa những cách tân ngôn ngữ của thơ chống Pháp, thơ chống Mỹ tiếp tục gia
tăng chất khẩu ngữ, đưa thơ về sát cuộc sống thực tại, khoảng cách giữa thơ và lời nói
thường được rút ngắn mà tiên phong là những nhà thơ trẻ. Nhìn chung, ngôn ngữ thơ
chống Mỹ giàu chất hiện thực, hàm lượng khẩu ngữ cao, khoảng cách thơ và cuộc sống
được thu hẹp. Đây cũng là sự cách tân đáng kể của nền thơ này. Việc gia tăng khẩu ngữ
góp phần làm cho thơ điệu nói thêm khởi sắc, bên cạnh thơ điệu ngâm song hành tồn tại và
vẫn giữ nguyên hấp lực của nó.
● Đa dạng, tự do hóa các thể thơ
Đa dạng, tự do hóa thể thơ trong thơ chống Mỹ vận động theo quy luật biện chứng:
cách tân, hiện đại nhưng không loại trừ những giá trị truyền thống. Có ba thể mà chúng tôi
nhận thấy cần khảo sát sau đây:
- Thơ tự do:
Thơ tự do bùng phát từ Thơ mới nhưng nó đã nảy sinh trong thơ truyền thống, nhất
là ở sáng tác dân gian. Trong diễn trình vận động, thơ tự do có vần, không vần hoặc rất ít

giải, thể hiện những nội dung lớn về thời đại, lịch sử, nhân dân trong sự nghiệp chống
ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc. Nhìn vào diễn trình thơ chống Mỹ, thể trường ca có sự vận
động khá rõ. Ở chặng đầu, dạng thức chủ yếu vẫn là trường ca có cốt truyện. Đến chặng
cuối, kết cấu trường ca theo hướng tổng hợp tự sự - trữ tình - chính luận xuất hiện, tiêu
biểu là Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm. Đó là bước chuẩn bị để đến thập
niên đầu sau 1975 thể loại này thoát hẳn cách dựng cốt truyện truyền thống, mang tính
tổng hợp đúng nghĩa.
Đối với thơ vùng đô thị miền Nam, Ngô Kha là nhà thơ duy nhất sáng tác trường ca
theo khuynh hướng siêu thực. Ngụ ngôn của người đãng trí là cuộc hành trình dài trong
mộng ảo. Những vấn đề về nhân sinh, về thế cuộc cứ chập chờn trong cõi hư vô; nó không
chỉ ám thị nhà thơ mà còn ám ảnh chung cho cả thế hệ thanh niên trí thức lúc bấy giờ.
Như vậy, sự biến đổi nội dung đòi hỏi phải biến đổi hình thức, hình thức phù hợp
nội dung. Trên nền tảng thành tựu đã gây dựng, thơ chống Mỹ có một số đặc điểm riêng,
tương hợp với bối cảnh lịch sử và diễn trình vận động của nó.
1.2. Thơ trẻ Việt Nam thời kháng chiến chống Mỹ: Khái niệm, diễn trình vận
động
1.2.1. Khái niệm
Theo chúng tôi, khái niệm “thơ trẻ” bao gồm trẻ về tuổi đời, trẻ về “tuổi” xuất hiện
trên thi đàn và “trẻ” về hồn thơ. Cụ thể, về tuổi tác, đó là thơ của những người bước vào
chặng thứ hai của cuộc kháng chiến (1965 - 1975), họ xê dịch ở độ tuổi đôi, ba mươi hoặc
trên đôi chút. Về tiêu chí “tuổi” xuất hiện trên thi đàn, thơ trẻ bao gồm sáng tác của những
người mà lần đầu, phải đến cuộc kháng chiến chống Mỹ mới ra mắt công chúng, được
công chúng nồng nhiệt đón nhận. Còn “trẻ” về hồn thơ, trước hết là “trẻ” trong cách nhìn,
cách cảm, cách nghĩ của cả một lớp nhà thơ. Nó phải được nhận diện và phân biệt bởi
những dấu hiệu riêng, khó lẫn. Trẻ về hồn thơ được phát lộ qua thi phẩm bằng các phương
thức biểu đạt thẩm mỹ.
Sau cùng, cũng cần phân biệt tên gọi “lớp” (hay thế hệ) nhà thơ chống Mỹ và “thơ
trẻ thời chống Mỹ”. Đối tượng của tên gọi thứ nhất rộng hơn đối tượng của tên gọi thứ hai;
6
trong lớp nhà thơ thời chống Mỹ có thế hệ thơ trẻ. Và cũng có nhiều tác giả thuộc lớp nhà

Thị Thanh Nhàn, Bế Kiến Quốc) góp phần khẳng định sự trưởng thành nhanh chóng của
đội ngũ thơ trẻ.
● Chặng thứ ba: Từ 1970
Đây là chặng cuối của thơ trẻ thời chống Mỹ. Đội ngũ sáng tác đã đông đảo vào
chặng thứ hai, nay được bổ sung thêm nhiều cây bút mới, trong đó xuất hiện không ít tài
năng: Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh, Hoàng Nhuận Cầm,
Lâm Thị Mỹ Dạ,… Nét đáng chú ý là, phần đa những nhà thơ trẻ bổ sung ở chặng cuối đều
là những nhà thơ - chiến sĩ. Họ là những người cầm súng và cầm bút, nếm trải cuộc đời
chinh chiến nơi tuyến đầu. Do vậy trong thơ họ, hiện thực được khám phá với tất cả những
gì bề bộn, nóng bỏng nhất. Cuộc thi thơ của Tuần báo Văn nghệ năm 1972 - 1973 và 1975
7
- 1976 đã góp phần nâng cao chất lượng thơ, phát hiện nhân tố mới, khẳng định vị trí của
thơ trẻ thời chống Mỹ trên thi đàn.
Qua ba chặng vận động của diễn trình thơ trẻ thời chống Mỹ, có thể khẳng định, đó
là dòng thơ như đường bay của viên đạn thẳng đầu, đủ sức trường tồn trong lịch sử thơ ca
dân tộc.
CHƯƠNG 2
CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT TRONG THƠ TRẺ VIỆT NAM THỜI KHÁNG
CHIẾN CHỐNG MỸ
2.1. Cảm hứng nghệ thuật: Khái niệm, hướng phân loại
2.1.1. Khái niệm:
Cảm hứng nghệ thuật có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp (pathos - tức tình cảm sâu sắc,
nồng nàn, quen gọi là “nhiệt hứng”). Nó bao giờ cũng đậm đà, lắng lọc hơn cảm hứng
thông thường, luôn gắn với tư tưởng, mang tính khuynh hướng rõ rệt.
2.1.2. Hướng phân loại cảm hứng nghệ thuật
Căn cứ vào khuynh hướng tư tưởng, tình cảm trong tác phẩm, các tác giả Giáo trình
Dẫn luận nghiên cứu văn học (G.N. Pôxpêlôp chủ biên) phân cảm hứng thành 7 biến thể,
và cho rằng, giữa các “biến thể” (tức “dạng thức” cảm hứng theo cách gọi của chúng tôi)
thường “gắn bó với nhau, có thể chuyển hóa lẫn nhau, thâm nhập vào nhau” (tr.143). Đó
là định hướng để chúng tôi nghiên cứu cảm hứng nghệ thuật trong thơ trẻ thời chống Mỹ.

ở chủ nghĩa anh hùng mà còn thấm đậm tinh thần nhân văn; không chỉ bất khuất kiên
cường mà còn hòa hiếu, bao dung. Theo chúng tôi, đó là cái mới, cái khác trong thơ trẻ
thời chống Mỹ khi viết về Tổ quốc. Xa hơn, có thể xem những sáng tác ấy như “tín hiệu”
bình thường hoá quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ ngay khi chiến tranh chưa kết thúc.
● Hình tượng nhân dân
Hình tượng nhân dân trong thơ trẻ thời chống Mỹ là một phần chân dung thế hệ họ.
Nếu những nhà thơ lớp trước có xu hướng liên tưởng, triết lí về cuộc hành trình về với
nhân dân; thì các nhà thơ trẻ lại viết theo cách khác: “Ta sống giữa nhân dân chết giữa
nhân dân/ rất yên ổn mầm cây thở chìm trong đất/ những định nghĩa cao xa xin dành cho
người khác” (Thanh Thảo). Một cuộc chiến tranh tổng lực, sức dân được huy động tối đa,
tất cả mọi người, đủ các tầng lớp, lứa tuổi, giới tính đều tham gia đánh giặc. Thơ trẻ thời
chống Mỹ tái hiện hình tượng nhân dân một cách sinh động, đầy ám gợi. Đối với thơ trẻ
yêu nước tiến bộ vùng đô thị, hình tượng nhân dân được tiếp cận từ phương diện nạn nhân
chiến tranh. Viết về họ, các nhà thơ muốn gửi thông điệp lên án chiến tranh; chiến tranh dù
nhìn phía nào, người dân cũng bất hạnh.
Ở góc độ nghiên cứu, có thể khẳng định, xây dựng thành công hình tượng Tổ quốc,
hình tượng nhân dân là những giá trị rất đáng ghi nhận của thơ trẻ thời chống Mỹ.
● Hình tượng Đảng và lãnh tụ
* Hình tượng Đảng trong thơ trẻ thời chống Mỹ không chệch ra ngoài “khung tư
tưởng” chung. Tuy vậy, thơ trẻ vẫn có dấu ấn riêng, cũng trong mạch cảm hứng ngợi ca,
nhưng khác nhà thơ lớp trước, thơ trẻ hầu như không ai triết luận về Đảng, ngợi ca Đảng
theo hướng thần thánh, tuyệt đối hóa. Có lẽ vị thế của những nhà thơ trẻ thời ấy đã không
cho phép họ viết về Đảng như các nhà thơ bậc “tiền bối” ở vị thế cấp cao.
* Hình tượng lãnh tụ: Nhìn chung, hầu hết các nhà thơ viết về Hồ Chí Minh đều
theo khuynh hướng lãng mạn - sử thi, ngợi ca tôn kính. So với một số nhà thơ lớp trước,
thơ trẻ thời chống Mỹ khắc họa hình tượng lãnh tụ nghiêng về biểu cảm hơn triết luận, lấy
biểu tượng từ cái cụ thể, có thực hơn là cái ảo, cái suy diễn.
2.2.2. Cảm hứng dấn thân - nhập cuộc
Thời chống Mỹ, dấn thân - nhập cuộc là cả một thế hệ nhà thơ trẻ “dàn hàng gánh
đất nước trên vai”, tràn đầy nhiệt hứng. Từ sự dấn thân ở ngoài đời (quan niệm/thái độ

nhạt trong sáng tác của những nhà thơ lớp trước thì lại nổi lên khá đậm trong thơ trẻ (phải
sau 1986 mới lưu hành rộng rãi).
Đáng lưu ý là, cảm hứng bi thương trong thơ trẻ còn mở rộng sang cả “phía bên
kia” - những con người chung cội nguồn Lạc Việt, đều là nạn nhân chiến tranh. Nguyễn
Duy viết Đứng lại, Hai lần chết của một người lính Cộng hòa như tín hiệu sớm về tinh
thần hòa giải, hòa hợp dân tộc. Riêng thơ trẻ yêu nước tiến bộ vùng đô thị, cảm hứng bi
thương được thể hiện đậm nét, với nhiều mức độ và bút pháp khác nhau, chủ yếu xoáy vào
nỗi đau chiến tranh hơn là lãng mạn, sử thi hóa chết chóc. Đây là “cái khác” của mảng thơ
này so với thơ trẻ miền Bắc và thơ trẻ vùng giải phóng.
3.2.4. Cảm hứng đời tư, thế sự
Xét phương diện hưng phấn cao độ (nhiệt hứng), rung cảm sâu sắc, thống thiết của
nhà văn trước những vấn đề về đời sống riêng tư, về thân phận con người và thực trạng xã
hội, nổi lên trong tác phẩm như một khuynh hướng tư tưởng rõ nét; chúng tôi gọi đó là
cảm hứng đời tư, thế sự. Chiết nghĩa, cảm hứng đời tư, thế sự là khái niệm ghép của hai
10
thành tố có nghĩa tự thân: “đời tư” và “thế sự”, giữa chúng liên quan gần chứ không nhập
làm một, cũng không phải thành tố này quy định thành tố kia.
* Cảm hứng đời tư được coi là dạng cảm hứng giàu tính nhân bản. Ngay từ khi mới
xuất hiện, thơ trẻ đã tạo được dấu ấn qua những sáng tác về tình yêu lứa đôi - bình diện
điển hình nhất của “cái tôi đời tư” (dĩ nhiên khác cái tôi đời tư trong Thơ mới): Ấy là Em
đẹp nhất- Ca Lê Hiến, Thuyền và biển- Xuân Quỳnh, Hoa cúc tím- Nguyễn Mỹ, Nhật kí
yêu đương - Phạm Tiến Duật,…Trong thơ trẻ yêu nước tiến bộ vùng đô thị, nhìn chung,
mấy năm đầu thập niên 60, tình lứa đôi có vẻ còn bình yên, êm ả (Mùa thu ở Huế - Lê
Nghiêm Vũ, Nghiêng nón - Trần Quang Long),…
Khi cuộc chiến chuyển sang giai đoạn khốc liệt, xã hội biến động dữ dội (từ 1965),
cảm hứng đời tư mức này mức khác đều nhuốm màu sắc sử thi, tình lứa đôi nhập sâu vào
tình đất nước. Và thời nào cũng vậy, tình yêu luôn đi liền với trăn trở; có cái trăn trở do
chính nó, có cái trăn trở do tác động của bối cảnh chiến tranh. Đó là sự trở lại của cái tôi
đời tư hướng nội trong thơ trẻ thời chống Mỹ xuất hiện vào những năm cuối cuộc chiến.
Rõ nhất là thơ Lưu Quang Vũ, thơ ông chạm đến tận cùng tâm trạng xót xa, hẫng hụt; cái

Thơ trẻ thời chống Mỹ nảy sinh trong lửa, dồi dào ngọn lửa. Biểu tượng lửa trong
thơ họ gắn với sáng tạo của từng chủ thể: Ấy là biểu tượng của tâm hồn, cốt cách Việt
Nam (Lửa đèn - Phạm Tiến Duật); biểu tượng của tinh thần cách mạng sục sôi, của đoàn
kết cộng đồng vùng lên chống giặc (Rông chiêng - Nguyễn Xuân Thâm); biểu tượng của
tấm lòng nhân hậu, thủy chung (Bếp lửa - Bằng Việt), Trong thơ trẻ yêu nước tiến bộ
vùng đô thị, “lửa” còn là biểu tượng của chiến tranh hủy diệt, của oán trách và hoài nghi
cuộc chiến: “Đất nước lầm than mẹ khóc bên đèn / Ánh lửa tương lai vẫn còn xa ngái”
(Chúng ta bước đi - Trần Quang Long)
Bên cạnh lửa, con sông trong thơ trẻ là con sông tinh thần, biểu tượng cho vẻ đẹp
vĩnh hằng của đất nước, cho nhuệ khí một thế hệ dấn thân: “đừng viết về chúng tôi như cốc
chén đứng trên bàn; xin hãy viết như dòng sông chảy xiết” (Hữu Thỉnh);…
Cùng dòng sông là đất. Đối với người dân Việt Nam, đất là vấn đề cốt tử, giữ nước
là giữ đất, mất đất là mất tất cả, mọi cuộc quật khởi cũng từ đất nổ ra: “Người của đất lại
bật lên từ đất” (Vương Trọng). Đất nước lớn lên từ bùn đất, tầm vóc của dân tộc cũng từ
bùn đất mà “đứng dậy sáng lòa”. Trong thơ trẻ thời chống Mỹ, đất trở thành biểu tượng
cho sức sống và tinh thần quật khởi của nhân dân.
2.3.2. Đa dạng các màu sắc nghệ thuật
Nghiên cứu thơ trẻ thời chống Mỹ, chúng tôi thấy các nhà thơ sử dụng đa dạng các
màu sắc, nhằm mục đích “mã hóa” các dạng thức cảm hứng, nhất là cảm hứng lãng mạn -
sử thi.
● Màu của sự sống, sức sống, tình yêu và khát vọng
Trong thơ trẻ, màu xanh xuất hiện với tần số cao nhất. Nhiều tác giả tỏ ra ưa sử
dụng màu sắc này (Hoa cúc xanh - Xuân Quỳnh, Kỉ niệm màu xanh - Quang Huy, Tháng
năm xanh - Hoàng Phủ Ngọc Tường, Đêm tình xanh - Trần Quang Long, ). Màu xanh
tương hợp tuổi xuân căng đầy khát vọng, biểu tượng cho sức sống của người Việt Nam, sự
tái sinh của quê hương đất nước: “Hàng dừa vẫn trổ lá xanh /Vết thương cũ đã lại lành
thịt da” (Lê Anh Xuân). Riêng Ngô Kha, nhà thơ sáng tác theo khuynh hướng siêu thực,
màu xanh vẫn hàm nghĩa tuổi trẻ, nhưng là tuổi trẻ đổ máu, tuổi trẻ bị cuốn vào cơn lốc
chiến tranh: “gió có về linh thiêng /như lòng ta hằng réo gọi / như tuổi đời ta chảy giọt
máu xanh” (Gió).

ấn riêng, khá nổi bật.
CHƯƠNG 3
GIỌNG ĐIỆU THƠ TRẺ VIỆT NAM THỜI KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
3.1. Giọng điệu và giọng điệu nghệ thuật
3.1.1. Giọng điệu trong đời sống
Giọng điệu trong đời sống là giọng điệu được thể hiện qua diễn ngôn hàng ngày,
ngoài nghệ thuật, dễ tan biến sau giao tiếp.
3.1.2. Giọng điệu nghệ thuật
Xét cấu trúc, chúng tôi hiểu “giọng điệu” là thuật ngữ hợp nhất về nghĩa, tức “Thái
độ, tình cảm, lập trường, tư tưởng của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả thể hiện
trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm,…” (Từ điển thuật
ngữ văn học, tr.134). Trong nghiên cứu, “giọng” được hiểu là giọng điệu - một yếu tố của
thi pháp học. Giọng điệu toát ra từ lời văn nghệ thuật nhưng không phải phép cộng giản
đơn các phương tiện ngôn ngữ. Nó bao giờ cũng thống nhất trong chỉnh thể tác phẩm, gắn
với sắc thái biểu cảm, quan niệm thẩm mỹ của chủ thể.
Thực tế đời sống văn học cho thấy tính đa dạng và phức tạp của giọng điệu. Trong
một thời đại thơ ca (chẳng hạn thơ ca thời chống Mỹ), hiện tượng phổ biến là, các dạng
13
thức cảm hứng thường đan xen, thâm nhập vào nhau, dẫn đến giọng điệu cũng có sự “pha
trộn”, thống nhất trong đa dạng, bên cạnh giọng điệu chính còn có nhiều giọng điệu khác.
3.2. Những kiểu giọng điệu trong thơ trẻ Việt Nam thời kháng chiến chống Mỹ
Từ cơ sở lí luận trên, coi giọng điệu tự nó là một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố;
dựa vào tiêu chí “cùng mang một âm hưởng, chung một khuynh hướng” (Lê Ngọc Trà),
chúng tôi nghiên cứu thơ giọng điệu trẻ thời chống Mỹ theo hướng quy về từng kiểu giọng.
3.2.1. Giọng hào sảng, lạc quan
Thơ trẻ thời chống Mỹ lấy cảm hứng lãng mạn - sử thi làm chủ đạo. Nó là sản
phẩm tất yếu của thời đại cả nước ra trận. Tương ứng với khuynh hướng cảm hứng này là
giọng điệu hào, sảng lạc quan, giàu âm hưởng hùng ca.
Trong thơ trẻ, kiểu giọng hào sảng, lạc quan vừa có sự dội vào của âm hưởng thời
đại, vừa là sự tiếp nối và chịu ảnh hưởng từ giọng điệu các nhà thơ lớp trước. Khởi đầu là

cô đơn và có cả bế tắc, tuyệt vọng; nhà thơ cảm thấy tha hương ngay trên đất nước mình
(Ám ảnh - Trần Quang Long, Gió - Ngô Kha, ).
Chúng tôi thấy kiểu giọng trữ tình thống thiết hiển thị trong thơ trẻ không hề thưa
vắng. Chất giọng này góp phần gia tăng tính hướng nội, tạo thêm hấp lực cho một dòng thơ
sinh thành trong những năm tháng đất nước không yên, tuổi trẻ dấn thân ra trận.
3.2.3. Giọng triết lý, suy tưởng
Sự gia tăng chất giọng triết lý, suy tưởng vừa đáp ứng yêu cầu của thời đại vừa là
xu hướng vận động chung của cả nền thơ chống Mỹ. Mặt khác, chính cảm hứng lãng mạn -
sử thi, ngoài giọng hào sảng lạc quan tất phải nảy sinh thêm giọng triết lí suy tưởng; có
như vậy thì mới đưa thơ vào chiều sâu, nâng thơ lên tầm khái quát. Kiểu giọng này, ưu thế
thuộc về các nhà thơ lớp trước. Tuy nhiên, có thể do quá chú trọng vào khái quát những
vấn đề lớn, mang tầm vóc sử thi, nên giọng triết luận trong thơ thế hệ trước ít đề cập đến số
phận đất nước và con người trong chiến tranh.
Các nhà thơ trẻ chọn cho mình một cách nói khác. Giọng triết lí của họ ít khi đanh
thép, hùng hồn mà thường tự nhiên, dịu nhẹ; chất suy luận không nghiêng về tư duy phân
tích mà chủ yếu được liên tưởng từ những sự vật, hiện tượng nảy sinh trong thực tế đời
sống, nhất là đời sống chiến trường. Đối với thơ trẻ yêu nước tiến bộ vùng đô thị, giọng
triết lí thường hướng về thân phận con người, về chiến tranh và hòa bình, về cội nguồn và
hòa giải - hòa hợp dân tộc. Nhiều nhà thơ mượn hình tượng “Mẹ” để triết lí nỗi đau chung
của đất nước, của giống nòi (Trần Vàng Sao, Trần Quang Long, Tần Hoài Dạ Vũ, Thái
Ngọc San, ). Giọng triết lí suy tưởng kết hợp giọng trữ tình thống thiết tạo sự hài hòa giữa
tình cảm và lí trí, giúp thơ trẻ thời chống Mỹ thoát ra khỏi sự đơn điệu, tẻ nhạt; phần đa
trong đó đủ sức trường tồn với thời gian.
3.2.4. Giọng day dứt, tự vấn
Giọng day dứt, tự vấn như “bè đệm” nhỏ, khuất lấp trong dàn “đại hợp xướng” thơ
ca chống Mỹ. Là sản phẩm của cảm hứng đời tư, thế sự, kiểu giọng này xuất hiện trong
sáng tác của một số nhà thơ trẻ, chủ yếu là từ đầu thập niên 70. Tức, cuộc chiến kéo dài, tự
nó phơi ra tất cả bộ mặt tàn bạo và khủng khiếp nhất. Đau thương, tang tóc chồng chất, đã
đến lúc nhà thơ phải day dứt, tự vấn trước những vấn đề liên quan đến thế cuộc, đến số
phận nhân dân và đất nước; họ có quyền hoài nghi, oán trách chiến tranh.

ngôn ngữ thơ chiến tranh”. Nhiều tổ hợp từ không chỉ có hiệu năng biểu thị giọng điệu thơ,
mà qua độ lắng thời gian, nay trở thành những diễn ngôn mang dấu tích một thời đánh
giặc.
3.3.2. Khai thác lợi thế của phép điệp và so sánh tu từ
Sáng tạo thơ là sáng tạo thẩm mỹ, nói như Valéry: “Thơ đi giữa nhạc và ý”. Để đạt
được điều đó, nhà thơ phải sử dụng thành thục, hiệu quả các thủ pháp nghệ thuật, trong đó
có phép điệp và so sánh tu từ.
- Điệp là luân phiên, lặp lại một số đơn vị ngôn từ nhằm mục đích nghệ thuật. Gieo
vần, luyến láy, phối thanh đều sinh ra từ phép điệp. Cùng các thể thơ, phép điệp có tác
dụng tạo nhịp, gia tăng nhạc tính. Hay nói cách khác, điệp, ngắt nhịp, luyến láy, như
những thủ pháp làm nên vỏ vật chất giọng điệu. Các nhà thơ trẻ thời chống Mỹ tỏ ra tinh
xảo, độc đáo trong việc tạo dựng những câu thơ, đoạn thơ điệp thanh, điệp vần, điệp từ
ngữ, gây độ rung cảm xúc, ngân lên nhiều âm hưởng.
- So sánh tu từ là phương thức diễn đạt ngữ nghĩa, trong đó người ta đối chiếu hai
hay nhiều đối tượng khác loại nhưng giống nhau ở một thuộc tính nào đó, gợi xúc cảm mới
về đối tượng. Đối với thơ trẻ, để thể hiện các cung bậc trữ tình, nhất là tạo dựng khúc tráng
ca thời đại, các tác giả luôn phải tìm tòi, vận dụng nhiều kiểu so sánh khác nhau. Với giọng
hào sảng lạc quan, đối tượng đưa ra so sánh thường mang tầm vóc kỳ vĩ, oai hùng; với
giọng trữ tình thống thiết, đối tượng so sánh lại thường gắn với cái da diết, yếu đuối, chứa
chan tâm trạng. Rõ rằng, đa dạng các phép điệp và so sánh tu từ như thủ pháp hữu hiệu để
kiến tạo giọng điệu. Năng lực sáng tạo của nhà thơ một phần được “phát lộ” ở đây.
3.3.3. Biến đổi cấu trúc câu thơ, gia tăng nhịp điệu
16
* Biến đổi cấu trúc câu thơ: Để kiến tạo giọng điệu nghệ thuật, nhà thơ tất phải
biến đổi linh hoạt cấu trúc câu thơ, làm cho nó “co duỗi” uyển chuyển, gần với câu văn
xuôi nhưng vẫn là thơ. Khi chất văn xuôi trong thơ được tăng cường, dạng câu kể được các
nhà thơ sử dụng ở tần số cao, thì số tiếng trong câu thơ có xu hướng kéo dài ra, nhất là đối
với những bài nghiêng về giọng triết lí, suy tưởng. Theo M. Bakhtin, thơ ca là loại hình
đơn thanh, ngôn ngữ thơ thuộc ngôn ngữ độc thoại. Nhưng khi cấu trúc câu thơ và kiểu
diễn đạt xích gần văn xuôi thì khả năng đối thoại sẽ được hé mở, câu thơ “mấp mé” câu

KẾT LUẬN
Biên độ thơ chống Mỹ trùng với cuộc kháng chiến chống Mỹ (1955 - 1975). Nền
thơ ấy có đỉnh của nó như một phong trào: Phong trào thơ chống Mỹ (1965 - 1975). Lực
lượng chủ lực của phong trào thơ chống Mỹ là đội ngũ nhà thơ trẻ.
Khởi phát từ những năm đầu thập niên 60, lớn mạnh nhanh chóng, trở thành lực
lượng chủ lực, thơ trẻ thời chống Mỹ là hiện tượng nghệ thuật đa dạng mà thống nhất về
cảm hứng và giọng điệu, đậm dấu ấn thế hệ. Nảy sinh và vận động trong hoàn cảnh chiến
tranh, nhập sâu vào cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thơ trẻ lấy cảm hứng lãng mạn -
sử thi làm chủ đạo, giọng hào sảng - lạc quan làm chủ âm. Xung quanh cảm hứng chủ đạo
và giọng chủ âm, dòng thơ này còn xuất hiện một số dạng cảm hứng, một số kiểu giọng
điệu khác, tồn tại như những phụ lưu, những bè đệm. Trong đó, cảm hứng đời tư, thế sự và
giọng day dứt - tự vấn có tác dụng gia tăng tính hướng nội và nhân bản cho cả dòng thơ.
Xét về chủ thể, thơ trẻ thời chống Mỹ là hòa âm của nhiều giọng điệu nổi bật:
Phạm Tiến Duật tinh nghịch; Bằng Việt tinh tế, lịch lãm; Thanh Thảo đằm thắm, sâu sắc;
Hữu Thỉnh sôi nổi, chân tình; Lưu Quang Vũ tài hoa; Dương Hương Ly da diết; Nguyễn
Khoa Điềm trầm lắng, suy tư; Lê Anh Xuân tươi tắn; Xuân Quỳnh khát khao; Lâm Thị Mỹ
Dạ dịu dàng; Nguyễn Duy chân chất, dân dã mà sâu xa; Trần Quang Long nhiệt thành,
nhiều thổn thức; Ngô Kha ám ảnh những bi kịch chiến tranh;
Tuy nhiên, do nảy sinh trong hoàn cảnh phải “ứng chiến” kịp thời, thơ chống Mỹ
nói chung, dòng thơ trẻ thời ấy nói riêng khó tránh khỏi hạn chế. Nhiều bài thơ do quá
nặng mục đích tuyên truyền nên chất lượng nghệ thuật chưa cao. Tuy nhiên, bỏ ra một số
sáng tác mắc “lỗi kĩ thuật”, lỗi “minh họa dễ dãi”; còn lại đích thực, đó là dòng thơ đỉnh
cao, có giá trị cả nội dung và hình thức. Thời gian là thước đo chuẩn xác để khẳng định
điều đó./.
18
CÁC CÔNG TRÌNH, BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1. Cái tôi trữ tình trong thơ chống Mỹ, Tạp chí Khoa học Xã hội, Viện Khoa
học Xã hội Vùng Nam Bộ, số 9 - 2009, tr. 45 - 54.
2. Biên độ thơ chống Mỹ, Tạp chí Khoa học Xã hội, Viện Khoa học Xã hội
Vùng Nam Bộ, số 5 - 2012, tr. 32 - 38.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status