(Tóm tắt luận án tiến sĩ Ngữ văn) PHẢN TRINH THÁM TRONG BỘ BA NEW YORK CỦA PAUL AUSTER - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

ĐẶNG THỊ BÍCH HỒNG

PHẢN TRINH THÁM
TRONG BỘ BA NEW YORK CỦA PAUL AUSTER
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 62.22.01.20

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

HÀ NỘI - 2016


Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. LÊ HUY BẮC

Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Đức Hạnh
Trường Đại học Thái Nguyên
Phản biện 2: PGS.TS. Hoàng Minh Lường
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Phản biện 3: PGS.TS. Lê Nguyên Cẩn
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường,
họp tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
vào hồi …..giờ … ngày … tháng… năm 2016


này với tư cách một tác giả văn học trinh thám hậu hiện đại. Vì thế,
chúng tôi lựa chọn đề tài “Phản trinh thám trong Bộ ba New York của
Paul Auster”.
v. Thực hiện đề tài này, chúng tôi hướng đến xác lập cơ sở lý thuyết
để phân tích những độc đáo trong nghệ thuật tự sự phản trinh thám của
Paul Auster, từ đó khẳng định xu thế vận động của văn học trinh thám
trong thời kỳ hậu hiện đại. Bên cạnh đó, chúng tôi hy vọng đề tài sẽ góp
phần đưa tác phẩm của Paul Auster cũng như khuynh hướng sáng tác phản
trinh thám đến gần hơn với đời sống văn chương Việt.


2

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những khía cạnh, biểu hiện phản
trinh thám trong Bộ ba New York của Paul Auster.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tiểu thuyết Bộ ba New York.
Những trích dẫn tác phẩm đưa vào luận án được chúng tôi trực tiếp dịch
từ cuốn The New York Trilogy của Paul Auster (Penguin Books, 2006),
tham khảo bản dịch Trần trụi với văn chương của Trịnh Lữ (NXB Phụ
nữ, 2007). Ngoài ra, đề tài mở rộng phạm vi tư liệu khảo sát đến những
tác phẩm khác trong trường hợp cần thiết.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi khẳng định phản trinh thám là một
bước nối tiếp, phát triển của thể loại văn học trinh thám. Đặt vấn đề
“phản trinh thám trong Bộ ba New York”, chúng tôi hướng đến làm rõ
những đặc trưng độc đáo trong nghệ thuật phản trinh thám của Paul
Auster. So sánh với những tiểu thuyết được viết sau đó, luận án đồng thời
cho thấy vai trò của Bộ ba New York trong việc định hình phong cách
sáng tạo của nhà văn.

học trinh thám trong tiến trình vận động từ truyện trinh thám đến phản
trinh thám. Đặc biệt, trước luận án này, bộ phận văn học phản trinh thám
hầu như chưa được dịch thuật, nghiên cứu ở Việt Nam. Nỗ lực khái quát
diện mạo văn học trinh thám có thể trở thành tài liệu tham khảo cho những
đối tượng quan tâm đến thể loại văn học này.
Trên cơ sở lý thuyết, luận án thể nghiệm nghiên cứu một hiện tượng
văn học đương đại tiêu biểu và đa trị: tiểu thuyết phản trinh thám của Paul
Auster. Chúng tôi đưa ra một góc nhìn khác khi tiếp cận tính chất phản
trinh thám trong Bộ ba New York, đó là những phương diện cơ bản của tự
sự học với các thủ pháp thuộc về hư cấu hậu hiện đại, từ đó chỉ ra thế giới
nghệ thuật đặc thù trong sáng tác phản trinh thám của Paul Auster.
Qua sự khái quát lý thuyết và liên hệ mở rộng trong quá trình thể
nghiệm lý thuyết, chúng tôi khẳng định sự chuyển dịch vị thế của văn học
phản trinh thám từ khu vực văn chương đại chúng sang khu vực văn
chương bác học đồng thời chỉ ra khả năng phát triển của thể loại văn học
này trong bối cảnh hậu hiện đại.
6. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận án được cấu
trúc thành bốn chương:
Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2. Truyện phản trinh thám trong tiến trình thể loại
Chương 3. Hình tượng thám tử đa diện trong Bộ ba New York
Chương 4. Cốt truyện phản trinh thám trong Bộ ba New York


4

Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Những nghiên cứu về truyện phản trinh thám



5

1.2. Những nghiên cứu về tiểu thuyết Paul Auster
Cũng như cách tiếp cận tổng quan về truyện phản trinh thám, ở đây,
chúng tôi tổng thuật tình hình nghiên cứu về Paul Auster từ hai nguồn : tư
liệu tiếng Việt và tư liệu tiếng Anh.
1.2.1. Tư liệu tiếng Việt
Đời sống văn học Việt đang ngày một tiệm cận với sự nghiệp của
Paul Auster. Tuy nhiên, đến thời điểm này, tình hình nghiên cứu về Paul
Auster ở Việt Nam nhìn chung vẫn chưa xứng tầm với tài năng, đóng góp
của nhà văn. Tổng quan tình hình nghiên cứu về Paul Auster ở Việt Nam,
chúng tôi chú ý tới một số ý kiến của Lê Huy Bắc, Nguyễn Thị Thanh
Hiếu thông qua những bài báo và công trình luận án đã được bảo vệ.
1.2.2. Tư liệu tiếng Anh
Trên văn đàn thế giới, Paul Auster đã khẳng định được vị thế của
mình từ những năm 80 của thế kỷ XX và những công trình nghiên cứu về
tác phẩm của ông cũng đã tạo thành một hệ thống khá phong phú. Sáng tác
của Paul Auster đã trở thành đối tượng của những cuốn sách chuyên khảo,
luận án, luận văn, tiểu luận, bài báo khoa học… Ở đây, chúng tôi không
tiếp cận tư liệu nghiên cứu về Paul Auster theo chủ đề mà tiếp cận theo
nhóm tư liệu bởi mỗi tư liệu gần như đặt ra một khía cạnh khác nhau
trong việc “đọc” Paul Auster.
Theo đó, chúng tôi phân loại các tư liệu thu thập được thành 2
nhóm: sách chuyên khảo và các bài báo, luận văn, luận án đã công bố.
Chúng tôi đặc biệt chú ý đến ba cuốn chuyên khảo của Bernd
Herzogenzath, Aliki Varvogli, Brendan Martin và các nghiên cứu của
Dragana, Stephen E.Alford…
1.3. Những nghiên cứu về Bộ ba New York

con đường riêng: nhấn mạnh vào những thủ pháp nghệ thuật thuộc về hư
cấu hậu hiện đại mà nhà văn sử dụng để kiến tạo nên tiểu thuyết phản
trinh thám.
Chương 2
TRUYỆN PHẢN TRINH THÁM TRONG TIẾN TRÌNH THỂ LOẠI
Yếu tố trinh thám manh nha rất sớm trong lịch sử văn hóa, văn học
phương Tây, từ câu chuyện về Cain và Albert trong Kinh Thánh, từ huyền
thoại Oedipus trong bi kịch Hy Lạp, từ câu chuyện về ba quả táo được
nàng Scheherazade thuật lại trong Nghìn lẻ một đêm… Tuy nhiên, đến
1841, với những sáng tác của Edgar Poe, truyện trinh thám mới thực sự trở
thành một thể loại văn học. Từ đó đến nay, văn học trinh thám phát triển
qua nhiều hình thái khác nhau.


7

2.1. Các hình thái truyện trinh thám
Truyện trinh thám là tập hợp những tác phẩm văn học xoay quanh
một vụ án, một hành trình điều tra. Câu chuyện được tổ chức theo sự vận
động tuyến tính, trong đó, thám tử, tội phạm cũng như tất cả các nhân vật
liên quan đến hành trình kiếm tìm không nằm ngoài định hướng làm sáng
tỏ điều bí ẩn.
2.1.1. Truyện trinh thám cổ điển (The Classic Detective Fiction)
Truyện trinh thám cổ điển chính thức bắt đầu từ tháng 4 năm 1841
với sự kiện Edgar Poe công bố truyện ngắn Vụ án đường Morgue. Khởi đi
từ Mỹ nhưng những tên tuổi được biết đến nhiều nhất ở hình thái văn học
này chủ yếu lại là các nhà văn Anh. Từ nửa cuối thế kỷ XIX đến 1945 là
quãng thời gian truyện trinh thám cổ điển phát triển rực rỡ nhất, thậm chí,
khoảng giữa hai cuộc thế chiến được định danh là “thời đại hoàng kim của
truyện trinh thám”. Nối tiếp những tiêu chuẩn mà Edgar Poe khai mở, Van

công an, của xã hội chống lại những lực lượng phi nghĩa trong đời sống.
2.1.3. Truyện trinh thám chính trị (The Political Detective Fiction)
Truyện trinh thám chính trị bắt nguồn ở nước Anh từ những năm đầu
thế kỷ XX. Gắn chặt với các sự kiện chính trị lớn của thế giới, hình thái
văn học này chủ yếu khai thác nguồn chất liệu thực tế. Những tác phẩm
của Ian Fleming, John Le Carre, Graham Greene (Anh), Xemionov,
Bogomolov (Nga), Charles McCarry, Tom Clancy (Mỹ)… hấp dẫn đông
đảo độc giả phương Tây. Ngày nay, với sự trỗi dậy của chủ nghĩa khủng
bố, các cây bút trinh thám như Forsythe, Tom Clancy đã chuyển hướng
khai thác hoạt động gián điệp trong cuộc chiến đầy khốc liệt này.
Ở Việt Nam, tiểu thuyết tình báo – phản gián là thuật ngữ được sử
dụng quen thuộc, tương đương với thuật ngữ tiểu thuyết trinh thám chính
trị ở phương Tây. Hình thái văn học này bắt đầu xuất hiện từ những năm
60 của thế kỷ XX. Nó hé lộ cuộc chiến thầm lặng của những chiến sĩ tình
báo, trinh sát bên cạnh cuộc chiến thần thánh của toàn dân tộc trong sự
nghiệp đấu tranh chống đế quốc. Sau ngày đất nước thống nhất, tiểu thuyết
tình báo – phản gián phát triển ở Việt Nam với các sáng tác của Đặng
Thanh, Nguyễn Trường Thiên Lý, Hữu Mai...
2.1.4. Truyện trinh thám tâm lý (The Psychological Detective Fiction)
Truyện trinh thám hiện đại coi yếu tố thuộc về tâm lý là cơ sở để truy tìm
căn nguyên hành vi con người. Tiểu thuyết trinh thám, vì thế, nhấn mạnh vai trò
của bác sĩ, của nhà tâm lý, nhà khoa học… Tác phẩm có thể coi là nghệ thuật
nghiên cứu tâm lý tội phạm. Những nhà văn nổi bật trong lĩnh vực tiểu thuyết
trinh thám ngày nay như Georges Simenon (Pháp), Patricia Cornwell (Mỹ), Rut
Rendell (Anh), Ingrid Noll (Đức), Alecxandra Marinina (Nga), Lôi Mễ (Trung
Quốc)… đồng thời cũng là những cây bút sành sỏi về khai thác tâm lý.


9


thám là một hình thái trong tiến trình vận động của thể loại văn học
trinh thám, ra đời và phát triển từ nửa sau thế kỷ XX. Truyện phản
trinh thám thường xuyên gợi nhắc những hình thức, nguyên tắc của


10

truyện trinh thám nhằm mục đích phỏng nhại chúng. Hạt nhân của
truyện phản trinh thám là sự phủ định kiểu nhân vật thám tử ưu
việt với khả năng suy lý, hành động; là sự phá vỡ mô hình cốt
truyện về cuộc điều tra với cấu trúc dramatic. Qua đó, câu chuyện
phản trinh thám vượt ra ngoài khuôn khổ một hành trình khám phá
điều bí ẩn để thể nghiệm cái nhìn của nhà văn về các vấn đề đời
sống, nghệ thuật…
2.2.2. Một số tác gia phản trinh thám tiêu biểu
Nếu như ở truyện trinh thám, người đọc dễ dàng tìm được một tác
giả mà tên tuổi của họ gần như gắn liền với danh tính một nhà thám tử thì
đến văn học phản trinh thám, nhà văn không phải là người chuyên chú với
thể loại này. Tuy nhiên, những nhà văn như Samuel Beckett, Louis
Borges, Umberto Eco, Paul Auster… đã tạo ra được những tác phẩm phản
trinh thám nổi tiếng thế giới. Mỗi nhà văn lại thể hiện một dấu ấn văn hóa
đặc thù trong tác phẩm của mình.
Samuel Beckett (1906 – 1989) là nhà văn Ireland đã đoạt giải Nobel
Văn học năm 1969. Với việc xây dựng kiểu nhân vật thám tử – nhà văn,
Bộ ba của Beckett trở thành sự trải nghiệm quá trình kiếm tìm nhân dạng
cũng như bộc lộ những trăn trở về hoạt động viết lách. Cấu trúc truyện kể
và những chủ đề nổi bật trong Bộ ba của Beckett gần gũi với Bộ ba New
York của Paul Auster.
Jorge Louis Borges (1899 – 1986) là nhà văn, nhà thơ, dịch giả nổi
tiếng của Argentina. Ông được coi là cha đẻ của chủ nghĩa hiện thực

Tiểu thuyết phản trinh thám kế thừa đặc điểm của tiểu thuyết trinh
thám đen ở sự phủ nhận vai trò của lý trí. Trong những tác phẩm trinh
thám hậu hiện đại, nhân vật thám tử thậm chí không phải là một thám tử
đích thực mà có thể là một nhà văn, một nhà báo, một tu sĩ, một nhà khảo
cổ, một chuyên gia chế tác bản đồ… Hành trình điều tra của anh ta chỉ còn
là một mã biểu đạt. Độc giả ít quan tâm đến việc tay thám tử sẽ thành công
hay thất bại mà dõi theo hành trình ấy để tìm ra những cái được biểu đạt
khác nhau.
2.3.2. Những vận động trong bình diện cốt truyện
Cấu trúc của truyện trinh thám truyền thống được nhấn mạnh ở tính
chất hợp lý, logic của các sự kiện với những quy tắc rõ ràng.
Về tình huống truyện, tác phẩm bắt đầu với một tội ác bí ẩn mà hầu
hết các tình tiết của câu chuyện đã thuộc về quá khứ.
Về mô hình hành động, truyện trinh thám vận động qua sáu giai đoạn
chính liên quan đến mô hình được thiết lập từ những tác phẩm trinh thám của
Edgar Poe, đó là: giới thiệu nhân vật thám tử; tội ác và các manh mối; quá
trình điều tra; công bố giải pháp; giải thích về giải pháp; kết cục câu chuyện.


12

Tiểu thuyết phản trinh thám giễu nhại và lật đổ nguyên tắc vận động
tuyến tính của cốt truyện. Kết lại hành trình truy tìm sự thật trong tiểu
thuyết phản trinh thám là một cái kết không trọn vẹn. Xét cho cùng, sự
khác biệt trong vận động cốt truyện giữa truyện trinh thám và phản trinh
thám nằm ở cách nhà văn thiết kế các giải pháp.
Khác với yêu cầu về tính nhị nguyên truyện mà Todorov từng tổng
kết, tiểu thuyết phản trinh thám không chia thành hai tầng truyện rành
mạch. Ranh giới giữa sự thật và giả tạo, hiện thực và tưởng tượng, hiện tại
và quá khứ dần bị xóa nhòa. Spanos, người đầu tiên đề xuất thuật ngữ phản

cùng lúc nhiều vai và thậm chí bất lực khi tri nhận vai diễn của chính
mình. Trên cơ sở khái quát những khác biệt của hình tượng thám tử giữa
truyện trinh thám và phản trinh thám, chúng tôi sẽ làm rõ tính chất đa diện
của hình tượng thám tử trong Bộ ba New York qua sự chuyển hóa hành
trình từ giải mã điều bí ẩn sang kiếm tìm bản ngã.
3.1. Thám tử trên hành trình giải mã điều bí ẩn
3.1.1. Thám tử và các mối quan hệ đặc thù
Trong thế giới trinh thám, nhà văn bao giờ cũng đặt hình tượng thám
tử vào một tình huống bí ẩn để thử thách tài năng của anh ta. Truyện trinh
thám cổ điển thậm chí trở thành cuộc đấu trí căng thẳng giữa hai kẻ ngang
tài là thám tử và tội phạm. Bộ ba New York sử dụng những “phụ tùng”
trinh thám, mở đầu, người ta tưởng chừng như cũng có một thám tử, một
tội phạm, hoặc ít nhất, một điều bí ẩn. Tuy nhiên, diễn biến câu chuyện lại
phá vỡ mối quan hệ đặc thù của nhân vật được gọi là thám tử.
Với cái vỏ của một cuốn tiểu tuyết trinh thám, Thành phố thủy tinh
đặt bạn đọc vào một tình huống đặc trưng – tình huống về khả năng của tội
ác. Quinn vào vai thám tử nhưng bản thân Quinn lại chẳng phải là một
thám tử thực sự. Hắn chỉ là một nhà văn viết truyện trinh thám. Khác với
Quinn vốn chẳng liên quan gì đến nghề thám tử, Blue trong Những bóng
ma được White lựa chọn đúng với công việc của hắn ngay từ đầu. Càng
lún sâu vào các sự kiện, Blue càng thấm thía rằng mối quan hệ bộ ba
White – Blue – Black không thuần túy là quan hệ thân chủ – thám tử – đối
tượng. Người kể chuyện xưng “tôi” trong Căn phòng khóa kín không phải
là nhà văn viết truyện trinh thám cũng chẳng phải là một thám tử tư nhưng
sự biến mất của Fanshawe đã đẩy anh ta vào một cuộc kiếm tìm. Rốt cuộc,
hành trình viết một cuốn sách, hành trình điều tra danh tính, số phận một
con người cũng chính là một hành trinh thám.
Một điểm chung trong bộ ba tiểu thuyết của Paul Auster, đó là hầu
hết các nhân vật đã không có gì để đảm bảo cho việc làm của mình trong


chất phức tạp của nó. Dưới tác động của chuỗi sự kiện ngẫu nhiên, tính
thống nhất trong sự phát triển cá tính của nhân vật bị phá vỡ.
Bằng những con đường khác nhau, các thám tử của Paul Auster đều
tình cờ bước vào một không gian giống nhau: không gian căn phòng kín.
Đây vốn là motif phổ biến trong truyện trinh thám mà Edgar Poe mở màn từ
Vụ giết người ở phố Morgue. Tuy nhiên, nếu trong truyền thống trinh thám,


15

motif này gắn liền với tội ác bí ẩn thì đến Bộ ba New York, nó lại trở thành
không gian để nhân vật được phiêu lưu trong thế giới nội tâm của chính
mình. Trong căn phòng ấy, nhân vật có điều kiện trải nghiệm nỗi cô đơn
phận người. Đó là nơi họ nhìn thấy chính mình, cũng là nơi họ được tái sinh
trên hành trình cô độc. Căn phòng khép kín đồng thời là một ẩn dụ về việc
viết lách. Trong không gian riêng tư và kín đáo này, các thám tử viết nên
những câu chuyện và tìm thấy cái tôi của mình trong sự viết lách ấy.
Hình tượng thám tử trong tiểu thuyết Paul Auster trở thành ẩn dụ của
quy luật sự lựa chọn ngẫu nhiên đem lại những ngã rẽ cho số phận, là biểu
tượng của nỗi mong manh bản thể, phận người. Nhà văn hướng con người
đến việc chấp nhận nó như một tất yếu. Đó là cách chúng ta thích nghi với
thực tế hiện tồn nhiều dâu bể, thậm chí bất trắc.
3.2.2. Bản ngã qua gương chiếu tha nhân
Trong thế giới vô thường, nhân vật của Paul Auster chỉ có thể trải
nghiệm sự tồn tại của mình thông qua một người khác. Ở Bộ ba New York,
tình huống gặp gỡ xuất hiện theo dạng thức cái ngẫu nhiên. Quá trình
khám phá bản ngã của hình tượng thám tử không tách khỏi gương chiếu
của những nhân vật song trùng.
Bản chất của gương chiếu tha nhân trong tiểu thuyết Paul Auster lại
phản ánh nỗi cô đơn phận người. Mối liên hệ giữa một người với một

CỐT TRUYỆN PHẢN TRINH THÁM
TRONG BỘ BA NEW YORK
Cốt truyện, theo định nghĩa của từ điển Oxford, là dàn ý hay phác họa
các sự kiện trong một cuốn tiểu thuyết hoặc một vở kịch. Khi bàn về truyện
trinh thám, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, thể loại văn học này đứng bên
ngoài xu hướng đổi mới cốt truyện của văn học đương đại. Nó vẫn diễn
biến tuần tự qua các chặng mở đầu, phát triển, kết thúc. Song chúng tôi cho
rằng, quan điểm này không còn phù hợp với những sáng tác phản trinh
thám. Ở truyện phản trinh thám, mô hình ba phần truyện kể bị vi phạm.
Cái đích tác phẩm hướng tới không phải là giải mã điều bí ẩn. Đến chung
cục, bạn đọc có khi lại đối mặt với vô vàn bí ẩn mới mà nhà văn mở ngỏ
trong truyện kể.
Điểm đặc biệt ở đây là, nếu như truyện trinh thám có một mô hình
cốt truyện chung để nhà văn xây dựng nên những câu chuyện trinh thám
riêng thì ở truyện phản trinh thám, mỗi nhà văn lựa chọn một mô hình cốt
truyện khác nhau. Với Paul Auster, chúng tôi nhận thấy hai điểm nhấn mà
nhà văn sử dụng để xây dựng cốt truyện phản trinh thám là siêu hư cấu và
liên văn bản. Nguyễn Thị Thanh Hiếu trong luận án Đặc trưng bút pháp


17

hậu hiện đại trong tiểu thuyết Paul Auster nhận định siêu hư cấu và liên
văn bản là hai chiến lược tổ chức nghệ thuật quan trọng nhất trong sáng
tác của Paul Auster. Có thể nói, siêu hư cấu và liên văn bản trở thành
xuất phát điểm cho những hướng nghiên cứu khác nhau. Nếu Nguyễn
Thị Thanh Hiếu coi siêu hư cấu và liên văn bản như là cách thức bộc lộ
cảm quan hậu hiện đại của nhà văn thì chúng tôi tiếp cận những thủ pháp
này trong Bộ ba New York để làm rõ nghệ thuật phản trinh thám của
Paul Auster trên bình diện cốt truyện. Ở đây, siêu hư cấu phá vỡ cấu trúc

thấy được. Giống Thành phố thủy tinh, Những bóng ma tồn tại hai người
kể chuyện. Gần như xuyên suốt tác phẩm, người kể chuyện ở vị trí ngôi
thứ ba số ít quan sát, kể lại câu chuyện của Blue. Căn phòng khóa kín được
trần thuật bởi người kể chuyện ngôi thứ nhất xưng “tôi” ngay từ đầu truyện
kể. Mạch truyện đan cài bởi hai câu chuyện chính, một là câu chuyện về
cuộc đời “tôi”, hai là câu chuyện của Fanshawe. Fanshawe không hiện
diện trực tiếp cho đến gần cuối tác phẩm, tuy nhiên, cuộc đời và những câu
chuyện của Fanshawe, về Fanshawe là cái cớ cho toàn bộ mạch truyện
được duy trì, phát triển.
Kiểu truyện lồng trong truyện tạo ra một truyện kể nhiều tầng bậc.
Hình thức này khá phổ biến trong văn học trinh thám, bắt nguồn từ truyện
của Edgar Poe và được kế thừa phát triển trong những sáng tác của Conan
Doyle, Christie… Mục đích của việc tạo dựng cấu trúc truyện trong
truyện là hướng đến khẳng định tính chân thực của sự việc được kể.
Đến Bộ ba New York, cách thức tổ chức truyện trong truyện đẩy cái
mục đích về tính chân thực ấy đi xa hơn, tạo ra ấn tượng cuộc sống tự nó
giống như một văn bản. Cuộc đời trở thành văn chương với tất cả sự trần
trụi, thô ráp của nó; không sắp xếp, không chỉnh sửa. Sự ghi chép của nhân
vật dừng lại ở đâu, người kể chuyện dừng lại ở đó; không có bàn tay can
thiệp của tác giả để đi tới điểm hoàn kết các sự kiện.
4.1.2. Cấu trúc mở trong truyện kể
Cấu trúc mở tạo ra một hệ thống những ký hiệu có thể được diễn
dịch ra đến vô tận. Cốt truyện Bộ ba New York đưa người đọc vào trạng
thái mơ hồ khi đứng trước lời giải của vấn đề, các sự kiện ngày càng tối
nghĩa, các nhân vật đi vào trang viết mà không được giải thích, và truyện
kể hóa ra lại không có chuyện.
Truyện phản trinh thám của Paul Auster bỏ lửng “nhiều cái để nói” trên
hành trình hướng đích của các nhân vật. Nhà văn không đem lại cho độc giả
một tác phẩm với một cốt truyện, một sự khởi đầu, một xung đột, một cách
giải quyết vấn đề và một kết thúc. Thay vào đó, con chữ cuối cùng đóng lại

độc giả.
Trong bộ tiểu thuyết phản trinh thám của mình, Paul Auster nối kết
các loại văn bản bằng nhiều hình thức khác nhau: trích dẫn văn bản, trích
dẫn sự kiện, trích dẫn giai thoại, thậm chí, sử dụng hình thức ký hiệu phi
ngôn ngữ… Với cấu trúc liên văn bản như vậy, câu chuyện của Paul
Auster tham chiếu tới nhiều vấn đề của xã hội hậu hiện đại. Ở đây, chúng
tôi đọc cấu trúc liên văn bản trong Bộ ba New York với những vấn đề mà
chúng tôi cho rằng đậm nét nhất, ám ảnh nhất, đó là câu chuyện ngôn ngữ
và câu chuyện văn hóa Mỹ.


20

4.2.1. “Bộ ba New York” và câu chuyện ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một trong những chủ đề xuyên suốt Bộ ba New York. Từ
biểu tượng tháp Babel, Paul Auster đặt ra vấn đề hoài nghi ngôn ngữ.
Không có cùng những nền tảng như nhau, mỗi người có thể bị khép kín
trong một ngôn ngữ riêng. Con người thậm chí bị đẩy ra ngoài ngôn ngữ
của chính mình.
Cách nhìn về ngôn ngữ liên quan mật thiết với quan niệm của Paul
Auster về hoạt động sáng tạo nghệ thuật. Viết một tiểu thuyết giống như
tạo ra một thế giới bằng ngôn ngữ. Cơ sở của thế giới không cố định, vậy
nên thế giới cũng không thể có một dạng cố định. Hiện thực là những hình
ảnh được tạo nên thông qua ngôn ngữ. Ngay cả ký ức cũng chỉ thuần túy là
trò chơi của các ký hiệu ngôn ngữ.
4.2.2. “Bộ ba New York” và câu chuyện văn hóa Mỹ
Tập hợp dưới cái tên The New York Trilogy, bộ ba tiểu thuyết của
Paul Auster chủ yếu xoay quanh không gian New York. Thành phố ấy
không chỉ là bối cảnh để nhân vật suy nghĩ, hành động mà còn là không
gian gợi nhắc những sự kiện văn hóa làm nên một nước Mỹ dù không dài

những giá trị văn hóa độc đáo của vùng đất Tân Anh quốc. Truyện kể tháo
dỡ tất thảy những gì được trình bày như một vĩ mô, một chỉnh thể, một siêu
truyện. Ở đó, câu chuyện được ghép lại từ những mảnh vỡ hiện thực.
KẾT LUẬN
1. Todorov khi bàn về truyện trinh thám đã đặt nó trong mối quan hệ
với vấn đề thể loại. Ông khẳng định, một kiệt tác lớn thường sáng tạo nên,
theo cách nào đấy, một thể loại mới, đồng thời cũng vi phạm các quy tắc
của thể loại vẫn lưu hành trước đó; tức một tác phẩm lớn xác định thực tế
của hai chuẩn mực: chuẩn mực của thể loại mà nó vi phạm và chuẩn mực
của thể loại do nó sáng tạo. Todorov xếp truyện trinh thám ra ngoài quy luật
chung ấy. Ông nhấn mạnh: kiệt tác của tiểu thuyết trinh thám là cuốn sách
tuân theo các quy tắc thể loại đã định hình. Chúng tôi cho rằng quan điểm
của Todorov đã không còn phù hợp với truyện phản trinh thám. Không gò
mình trong những quy tắc có sẵn của thể loại trinh thám, mỗi nhà văn phản
trinh thám lựa chọn một con đường khác nhau để kiến tạo tác phẩm. Bộ ba
New York của Paul Auster là biểu hiện sống động của sự không phù hợp
giữa những khái niệm đã định hình với thực tiễn sáng tác. Để minh chứng
sự “trật khớp” giữa những nguyên tắc vốn ổn định của truyện trinh thám và
sự phá vỡ những nguyên tắc đó trong tiểu thuyết Paul Auster, chúng tôi xác
định nền tảng lý thuyết thể loại văn học trinh thám, từ đó tập trung vào
những điểm nhấn độc đáo trong nghệ thuật tự sự của Paul Auster.


22

2. Bắt đầu từ Edgar Allan Poe, truyện trinh thám đã nâng lên tầm văn
học để từ đó đến nay, sau gần 200 năm tồn tại và phát triển, nó làm nên
lịch sử thể loại qua nhiều thế hệ nhà văn. Song hành với chặng đường gần
200 năm đó, truyện trinh thám cũng nhận nhiều luồng ý kiến đánh giá phê
bình, có thể nói là ngược chiều. Trải qua nhiều loại hình, truyện trinh thám

23

đôi thám tử – nạn nhân, cặp đôi thám tử – tội phạm, cặp đôi thám tử –
người đồng hành... Ở Bộ ba New York, chúng tôi nhấn mạnh sự giễu nhại
hình thức truyện trinh thám qua việc xây dựng kiểu nhân vật thám tử đa
diện. Tái hiện nhân vật qua các mối quan hệ đặc thù, hành trình khám phá
của thám tử trong tiểu thuyết Paul Auster đã không diễn ra theo những
nguyên tắc suy luận logic. Nhà văn đặt thám tử vào hành trình giải mã điều
bí ẩn, tuy nhiên, đó không phải là mục tiêu mà tác phẩm hướng tới. Hành
trình vọng ngoại của nhân vật chuyển hóa liên tục vào quá trình khám phá
bản thể. Vấn đề cái tôi và sự bất định của nó trong một thế giới đầy các
yếu tố ngẫu nhiên, trong sự soi chiếu không ngừng từ một cái tôi khác trở
thành điểm nhấn ở bộ tiểu thuyết phản trinh thám của Paul Auster.
4. Bàn về cốt truyện, nhiều ý kiến cho rằng văn học trinh thám nằm
ngoài xu thế đổi mới. Nó vẫn duy trì kiểu cốt truyện truyền thống với
những quan hệ nhân quả chặt chẽ giữa các sự kiện hướng tới điểm hoàn
kết. Chúng tôi khẳng định, truyện phản trinh thám đã hòa nhập vào xu thế
đổi mới cốt truyện của văn chương đương đại. Siêu hư cấu và liên văn bản
là hai lựa chọn quan trọng giúp Paul Auster phá vỡ thế độc tôn của hành
trình giải mã điều bí ẩn trong tổ chức cốt truyện. Bằng thủ pháp siêu hư
cấu, tác giả đã tráo đổi những khía cạnh thực, hư trong tác phẩm. Người kể
chuyện khẳng định câu chuyện men theo sự thật được chính người trong
cuộc ghi chép lại, các vai kể khác nhau lại hướng người đọc đến một kết
luận duy nhất: không có gì là thật ngoài sự hư cấu của chính nhà văn.
Cùng với sự thế vị ngôi kể, tạo dựng cấu trúc mở và tung hỏa mù về tác
quyền truyện kể, cấu trúc truyện trinh thám bị phân rã, hoạt động đọc trở
thành hoạt động đồng sáng tạo. Thủ pháp liên văn bản xuất hiện liên tục và
công khai trong Bộ ba New York tạo nên kiểu cốt truyện đa tuyến hướng
tới nhiều chủ đề khác nhau. Cũng như siêu hư cấu, liên văn bản không
phải là một thủ pháp kỹ thuật thuần túy. Chúng trở thành phương tiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status