BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
ĐẶNG THỊ BÍCH HỒNG
PHẢN TRINH THÁM
TRONG BỘ BA NEW YORK CỦA PAUL AUSTER
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 62.22.01.20
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn
GS.TS. LÊ HUY BẮC
HÀ NỘI - 2016
i
LỜI CAM ĐOAN
Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn
của GS.TS. Lê Huy Bắc và sự góp ý của các nhà khoa học.
Những vấn đề được trình bày trong luận án là trung thực và
chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào.
Tác giả luận án
Đặng Thị Bích Hồng
ii
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................................... 3
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................... 3
4. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................. 4
5. Những đóng góp mới của luận án ................................................................... 5
6. Cấu trúc của luận án ........................................................................................ 5
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ...................................... 6
1.1. Những nghiên cứu về truyện phản trinh thám .............................................. 6
1.1.1. Tư liệu tiếng Việt ................................................................................. 6
1.1.2. Tư liệu tiếng Anh .................................................................................. 8
1.2. Những nghiên cứu về tiểu thuyết Paul Auster ........................................... 12
1.2.1. Tư liệu tiếng Việt ............................................................................... 12
1.2.2. Tư liệu tiếng Anh ............................................................................... 14
1.3. Những nghiên cứu về Bộ ba New York ...................................................... 19
1.3.1. Tư liệu tiếng Việt ............................................................................... 20
1.3.2. Tư liệu tiếng Anh ............................................................................... 21
1.4. Những vấn đề đặt ra ................................................................................... 30
Chương 2. TRUYỆN PHẢN TRINH THÁM TRONG TIẾN TRÌNH THỂ LOẠI .. 32
2.1. Các hình thái truyện trinh thám .................................................................. 33
2.1.1. Truyện trinh thám cổ điển (The Classic Detective Fiction) .............. 33
2.1.2. Truyện trinh thám đen (The Hard– Boiled Detective Fiction) .......... 37
2.1.3. Truyện trinh thám chính trị (The Political Detective Fiction) .......... 40
2.1.4. Truyện trinh thám tâm lý (The Psychological Detective Fiction) ..... 43
2.2. Truyện phản trinh thám: bước phát triển mới của thể loại trinh thám ........ 45
2.2.1. Thuật ngữ phản trinh thám (anti–detective) ..................................... 45
2.2.2. Một số tác gia phản trinh thám tiêu biểu .......................................... 48
2.3. Từ trinh thám đến phản trinh thám: những vận động trong truyện kể ........ 56
iv
2.3.1. Những vận động trong bình diện nhân vật ....................................... 57
viết nên những tác phẩm phản trinh thám. Spanos, người đầu tiên đề xuất
thuật ngữ phản trinh thám, nhận thấy mối quan hệ rõ ràng giữa hình thái văn
học này với lối tư duy hậu hiện đại. Cả chủ nghĩa hậu hiện đại và tiểu thuyết
phản trinh thám đều không đủ cơ sở để lý giải những sự việc xảy ra trong
cuộc đời theo mối quan hệ nhân quả.
ii. Paul Auster là một trong những nhà văn đương đại tiêu biểu trên văn
đàn Âu – Mỹ. Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Paul Auster đã thử bút trên
nhiều thể loại. Tuy nhiên, ở lĩnh vực tiểu thuyết, nhà văn thu được nhiều
thành công hơn cả. Ông là tác giả của các cuốn tiểu thuyết Bộ ba New York
(The New York Trilogy – 1987), Xứ sở của những vật cuối cùng (In the
Country of Last Things –1987), Moon Palace (Moon Palace – 1989), Nhạc
đời may rủi (The Music of Chance – 1990), Levithan (Leviathan – 1992), Ông
Vertigo (Mr. Vertigo – 1994), Vùng xa (Timbuktu – 1999), Sách của những
ảo giác (The Book of Illusions – 2002), Đêm sấm truyền (Oracle Night –
2003), Những hành động điên rồ ở Brooklyn (The Brooklyn Follies – 2005),
Lang thang trong phòng viết (Travels in the Scriptorium – 2006), Người trong
bóng tối (Man in the Dark – 2008), Vô hình (Invisible – 2009) và Công viên
Sunset (Sunset Park – 2010). Trong 14 tiểu thuyết này thì tác phẩm đầu tay là
sự hội tụ của 3 tiểu thuyết riêng lẻ: Thành phố thủy tinh (City of Glass –
1985), Những bóng ma (Ghosts – 1986) và Căn phòng khóa kín (The Locked
2
Room – 1986). Cũng từ bộ ba tiểu thuyết này, tên tuổi Paul Auster ngay lập
tức trở nên quen thuộc với đông đảo bạn đọc Âu – Mỹ. Tác phẩm của Paul
Auster đã được dịch sang hơn 30 thứ tiếng khác nhau và thế giới vinh danh
ông bằng nhiều giải thưởng uy tín, trong đó giải thưởng văn học Price Asturia
mà Paul Auster đón nhận năm 2006 trước đó từng được trao cho Gunter Grass
(1999), Doris Lessing (2001), Arthur Miller (2002)... Riêng Bộ ba New York,
thám trong Bộ ba New York của Paul Auster.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tiểu thuyết Bộ ba New York. Những
trích dẫn tác phẩm đưa vào luận án được chúng tôi trực tiếp dịch từ cuốn The
New York Trilogy của Paul Auster (Penguin Books, 2006), tham khảo bản
dịch Trần trụi với văn chương của Trịnh Lữ (NXB Phụ nữ, 2007). Ngoài ra,
đề tài mở rộng phạm vi tư liệu khảo sát đến những tác phẩm khác trong
trường hợp cần thiết.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Đặt vấn đề “phản trinh thám trong Bộ ba New York”, chúng tôi khẳng
định truyện phản trinh thám là một bước nối tiếp, phát triển của thể loại văn
học trinh thám và hướng đến làm rõ những đặc trưng độc đáo trong nghệ
thuật phản trinh thám của Paul Auster. So sánh với những tiểu thuyết được
viết sau đó, luận án đồng thời cho thấy vai trò của Bộ ba New York trong việc
định hình phong cách sáng tạo của nhà văn.
Để đạt được mục tiêu này, luận án xác định ba nhiệm vụ cơ bản:
Thứ nhất, hệ thống hóa, giới thiệu tiến trình vận động, phát triển của thể
loại văn học trinh thám. Xuất phát từ thực tế bộ phận văn học phản trinh thám
hầu như chưa được dịch thuật, nghiên cứu ở Việt Nam, chúng tôi nỗ lực khái
quát diện mạo văn học trinh thám, nhấn mạnh sự khác biệt giữa trinh thám và
phản trinh thám qua những tác gia, tác phẩm tiêu biểu.
Thứ hai, khẳng định cách thức xây dựng hình tượng nhân vật thám tử
trong Bộ ba New York là một minh chứng rõ ràng của nghệ thuật phản trinh
thám. Các thám tử của Paul Auster lần lượt làm đổ vỡ những ảo tưởng của
độc giả về một người hùng bất khả chiến bại. Thám tử dịch chuyển từ hành
4
trình kiếm tìm thủ phạm sang hành trình kiếm tìm chính cái tôi của mình
trong một thế giới đầy rẫy sự ngẫu nhiên và bất định. Đây cũng sẽ là những
5. Những đóng góp mới của luận án
Luận án giới thiệu, hệ thống hóa những nghiên cứu về thể loại văn học
trinh thám trong tiến trình vận động từ truyện trinh thám đến phản trinh thám.
Đặc biệt, trước luận án này, bộ phận văn học phản trinh thám hầu như chưa
được dịch thuật, nghiên cứu ở Việt Nam. Nỗ lực khái quát diện mạo văn học
trinh thám có thể trở thành tài liệu tham khảo cho những đối tượng quan tâm
đến thể loại văn học này.
Trên cơ sở lý thuyết, luận án thể nghiệm nghiên cứu một hiện tượng văn
học đương đại tiêu biểu và đa trị: tiểu thuyết phản trinh thám của Paul Auster.
Chúng tôi đưa ra một góc nhìn khác khi tiếp cận tính chất phản trinh thám
trong Bộ ba New York, đó là những phương diện cơ bản của tự sự học với các
thủ pháp thuộc về hư cấu hậu hiện đại, từ đó chỉ ra thế giới nghệ thuật đặc thù
trong sáng tác phản trinh thám của Paul Auster.
Qua sự khái quát lý thuyết và liên hệ mở rộng trong quá trình thể nghiệm
lý thuyết, chúng tôi khẳng định sự chuyển dịch vị thế của văn học phản trinh
thám từ khu vực văn chương đại chúng sang khu vực văn chương bác học
đồng thời chỉ ra khả năng phát triển của thể loại văn học này trong bối cảnh
hậu hiện đại.
6. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận án được cấu trúc
thành bốn chương:
Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2. Truyện phản trinh thám trong tiến trình thể loại
Chương 3. Hình tượng thám tử đa diện trong Bộ ba New York
Chương 4. Cốt truyện phản trinh thám trong Bộ ba New York
6
Chương 1
Bàn về giả trinh thám như một trong năm khuynh hướng chính của
văn chương hậu hiện đại, Lê Huy Bắc lập luận: các nhà văn hậu hiện đại nỗ
lực chống lại nguy cơ đại tự sự của những trạng thái tĩnh, vì vậy, họ
“thường đặt nhân vật của mình trên hành trình. Đối với con người hậu hiện
đại, mục đích của hành trình không bao giờ quan trọng bằng chính hành
trình. Do vậy, hành trình là tiêu chí tối thượng trong hành động nhân vật.
Nếu dừng lại, con người sẽ thỏa mãn và như thế ứng với mỗi chặng dừng
trên hành trình, rất có thể một đại tự sự được thiết lập. Do vậy, “đi” đồng
nghĩa với tạo lập những tiểu tự sự trên đời” [13,89-90]. Trong khi đó,
“Truyện trinh thám đặt nền tảng trên “hành trình”, trên một tình huống một
sự việc li kì, bí ẩn nào đó, thường liên quan đến một vụ án” [13,90]. Khi
nhà văn hậu hiện đại sáng tạo bằng con đường giả trinh thám, theo Lê Huy
Bắc, “thực chất họ ‘giả cốt truyện’ hoặc ‘giả nhân vật trinh thám’. Họ giữ
nguyên mục đích truy tìm vốn là bản chất của truyện trinh thám, nhưng lại
thay đổi mục đích truy tìm bằng cách đan cài vào đó nhiều chủ đề, nhiều
tuyến cốt truyện. Mục đích là tái hiện sự hỗn độn của cuộc sống, sự mù mịt
không có lối thoát khi thám tử tham gia vào cuộc truy tìm, và trong đa số
trường hợp, trinh thám hậu hiện đại đặt mục tiêu là trinh thám ngay chính
cái tôi bản thể con người” [13,90].
Không đặt vấn đề thuật ngữ nhưng trong bài viết của mình, Lê Huy Bắc
đã kiến giải sự gần nhau giữa truyện giả trinh thám và văn chương hậu hiện
đại. Tác giả nhấn mạnh các biểu hiện của giả trinh thám trong thực tiễn sáng
tạo. Về bản chất, “giả trinh thám” đồng nhất với “phản trinh thám”. Các học
giả phương Tây sử dụng đồng thời hai thuật ngữ này khi bàn về một xu hướng
vận động mới của văn học trinh thám. Ở đây, chúng tôi lựa chọn thuật ngữ
“phản trinh thám” vì nó đã được các nhà nghiên cứu sử dụng rộng rãi khi nói
về bộ ba tiểu thuyết đầu tay của Paul Auster.
8
9
hậu hiện đại (Postmodernist Fiction), Brian McHale cho rằng: tiểu thuyết hiện
đại chủ yếu liên quan đến những vấn đề nhận thức luận thông qua sự truy vấn
ráo riết các câu hỏi “Làm thế nào tôi có thể giải thích thế giới mà bản thân tôi
là một phần trong đó? Và tôi là gì trong chính cái thế giới ấy?” [93,195], tiểu
thuyết hậu hiện đại hướng sự quan tâm tới những vấn đề có tính chất bản thể
học và cái chủ đề gần như là duy nhất ấy xoay quanh các câu hỏi: “Đó là thế
giới nào? Những gì sẽ được thực hiện trong thế giới ấy? Cái tôi nào của tôi sẽ
tham dự vào đó?” [93,195]. Tác giả tuyên bố tiểu thuyết khoa học – thể loại
bản thể học tiêu biểu là đại diện của chủ nghĩa hậu hiện đại và tiểu thuyết
trinh thám – thể loại nhận thức luận tiêu biểu là đại diện của chủ nghĩa hiện
đại. Tuyên bố của McHale đồng thời hé lộ một phả hệ làm nên mối quan hệ
giữa tiểu thuyết trinh thám và chủ nghĩa hiện đại.
Năm 1971, Michael Holquist chỉ ra rằng, cái gọi là thời kỳ hoàng kim của
văn học trinh thám với nghĩa “những câu chuyện trò chơi thuần túy, suy luận
thuần túy, được nối tiếp bởi Edgar Poe, Conan Doyle, Agatha Christie”
[93,196] lại trùng khớp một cách kỳ lạ với thời kỳ cực thịnh của chủ nghĩa hiện
đại. Tuy nhiên, nếu McHale nhìn thấy mối quan hệ trực tiếp giữa tiểu thuyết
hiện đại và tiểu thuyết trinh thám thì Holquist lại tuyên bố một mối quan hệ
ngược: tiểu thuyết hiện đại thuộc về khu vực văn học bậc cao và ngược lại, tiểu
thuyết trinh thám thuộc về khu vực văn học bậc thấp. Trong bối cảnh chủ nghĩa
duy lý đứng trước những đe dọa nghiêm trọng, người trí thức – đối tượng trải
nghiệm đầu tiên và sâu sắc nhất những đổ vỡ của thế giới – sử dụng thời gian
của mình cho các tác phẩm của cả James Joyce lẫn Agatha Christie. Lập luận
của Holquist hướng tới mục đích lật đổ sự hợp lý ưu việt và vị trí tối thượng
của thể loại văn học trinh thám. Ông đưa ra thuật ngữ truyện trinh thám siêu
hình (metaphysical detective story) và nhận diện điểm khác biệt của tiểu thuyết
trinh thám hậu hiện đại là sự giảm thiểu khả năng nhận thức luận của thể loại
11
ra công thức quen thuộc: “Có một tội ác, có vô số những manh mối, có một
thám tử với năng lực suy luận logic và lý trí để làm sáng tỏ các manh mối và
cuối cùng, có một kết cục tất yếu là sáng rõ con đường tội ác và lý giải động
cơ của nó” [131,39], trong đó, “vai trò quan trọng thuộc về cả bạn đọc và tác
giả – vai trò nhận thức hiện thực, nhận thức bản chất bắt chước của hư cấu và
quan trọng hơn, nhận thức quy luật vận động tự thân của hiện thực” [131,39].
Mô hình này được tạo thành từ các nhà văn trinh thám thế kỷ XIX và tiếp tục
được kế thừa trong sáng tác của một số cây bút tên tuổi trong thế kỷ XX. Tuy
nhiên, thế kỷ XX với sự hoài nghi nhận thức, với nguyên tắc không xác định,
không chắc chắn và nguyên tắc tương đối, với sự xuyên tạc nhận thức về ranh
giới của suy luận diễn dịch và quy nạp đã thay đổi những cơ chế của truyện
trinh thám. Đến những năm 20, 30 của thế kỷ này, sự đổi thay đó dẫn tới xu
hướng vô cảm trong tiểu thuyết trinh thám – một biểu hiện mới của thể loại
được mô tả bởi sự thô bạo dữ dội, một sự pha trộn độc đáo giữa thuyết hoài
nghi và chủ nghĩa lãng mạn, và trên tất cả, một sự phủ nhận tính có lý do.
Khung cốt truyện về cuộc điều tra thậm chí trở thành mô hình yêu thích của
các nhà văn hậu hiện đại khi họ đưa nhân vật vào tình huống đối mặt với bản
chất của tồn tại. Phản trinh thám, theo đó, kế thừa những quy tắc cơ bản của
chủ nghĩa hoài nghi siêu hình để phát triển thành loại tiểu thuyết “vận dụng,
phỏng nhại những hình thức, nguyên tắc của tiểu thuyết trinh thám (…) và
khái niệm đầy đủ về nhân vật thám tử với tư cách là người siêu lí luận để phát
lộ mọi trật tự và ý nghĩa không những bị phủ nhận mà còn thường xuyên bị
giễu nhại” [131,39–40].
Có thể thấy, truyện trinh thám trong lịch sử nghiên cứu phê bình văn học
phương Tây vẫn liên tục phát triển, thậm chí, phản biện nhau theo sự vận
động của thực tiễn sáng tạo. Không ít công trình đã hướng sự quan tâm đến
đang ngày càng tiệm cận với sự nghiệp của một tác giả tầm vóc quốc tế.
Những tiểu thuyết của Paul Auster được dịch ra tiếng Việt không chỉ được
13
nhắc tới trong những trang điểm sách, những bài báo khoa học mà còn trở
thành đối tượng nghiên cứu của các công trình khoa học ở nhiều cấp khác
nhau. Tuy nhiên, đến thời điểm này, tình hình nghiên cứu về Paul Auster ở
Việt Nam nhìn chung vẫn chưa xứng tầm với tài năng, đóng góp của nhà văn.
Tổng quan tình hình nghiên cứu về Paul Auster ở Việt Nam, chúng tôi chú ý
tới một số ý kiến của Lê Huy Bắc, Nguyễn Thị Thanh Hiếu thông qua những
bài báo và công trình luận án đã được bảo vệ.
Lê Huy Bắc khi bàn về “Paul Auster và Nhạc đời may rủi” đã dành một
dung lượng tương đối lớn để khái quát tư tưởng nghệ thuật trong sáng tác của
Paul Auster. Tác giả khẳng định, dưới ảnh hưởng những học thuyết triết học của
Nathaniel Hawthorne, Ralph Waldo Emerson, Henry David Thoreau, Lacan,…
Auster đã thiết lập được một hệ đề tài riêng trong sự nghiệp sáng tác của mình,
đó là sự trùng hợp ngẫu nhiên (coincidence), cảm giác về thảm hoạ sắp xảy ra (a
sense of imminent disaster), sự đánh mất khả năng nhận thức (loss of the ability
to understand), đánh mất ngôn ngữ (loss of language), khai thác cuộc sống đời
thường (depiction of daily and ordinary life), tính liên văn bản (intertextuality)
và metafiction – một thể loại văn xuôi hư cấu hướng việc viết lách vào nội dung
viết lách, khiến người đọc bao giờ cũng ý thức về việc mình đang theo dõi cách
thức một cuốn tiểu thuyết được hình thành như thế nào… Xếp Paul Auster vào
vị thế bậc thầy trong những cây bút hậu hiện đại thế giới, tác giả chỉ ra “lối trần
thuật mang đậm tính triết học, chuyển tải cái nhìn hài hước, có lúc mỉa mai đầy
chua xót về cuộc đời và con người trong thời kỳ các giá trị vật chất lên ngôi, và
tinh thần của nhân loại cùng quẫn…” [11,74].
Tiếp tục minh chứng vị thế của Paul Auster trong bối cảnh văn chương
Paul Auster) của Bernd Herzogenzath, Thế giới như là cuốn sách – tiểu thuyết
của Paul Auster (The world that is the book – Paul Auster’s fiction) của Aliki
Varvogli và Tính chất hậu hiện đại của Paul Auster (Paul Auster’s
postmodenity) của Brendan Martin.
15
Ở nhóm thứ hai, chúng tôi chú ý tới luận án Tiểu thuyết hậu hiện đại của
Paul Auster: Giải cấu trúc “Thi pháp học” của Aristotle (Paul Auster's
Postmodernist Fiction: Deconstructing Aristotle's Poetics) của Dragana và bài
báo Cái ngẫu nhiên trong tự sự đương đại: Trường hợp Paul Auster (Chance in
Contemporary Narrative: The Example of Paul Auster) của Stephen E.Alford.
Năm 1999, Herzogenrath ra mắt cuốn sách Một nghệ thuật của ước
vọng: đọc Paul Auster. Với niềm tin thi pháp Paul Auster có sự gặp gỡ quan
trọng với lý thuyết hậu cấu trúc của Jacques Lacan và Jacques Derrida –
Lacan với thuyết phân tâm học chủ thể (psychoanalytical theory of the
subject) và Derrida với giải cấu trúc tính siêu hình của sự hiện diện
(deconstruction of the metaphysics of presence) – Herzogenrath đề xuất lối
đọc Lacanian/Derridean cho bốn tiểu thuyết của Paul Auster. Tác giả khám
phá mối quan hệ giữa Thành phố thủy tinh, Xứ sở của những vật cuối cùng,
Moon Palace và Nhạc đời may rủi với sự giải cấu trúc công thức thể loại cũng
như mối quan hệ giữa những tiểu thuyết này với các khái niệm: lý thuyết thảm
họa (catastrophy theory), đi vào cõi chết (death drive), nghĩa kép may rủi
(double meaning of chance), cái cao cả (the sublime), phép biện chứng chủ/tớ
(master/slave dialectics), hội chứng tự mê (narcissism), khải huyền
(apocalypse), ngôn ngữ trước/sau sa ngã (prelapsarian/postlapsarian
language). Tuy nhiên, trọng tâm của nghiên cứu tập trung ở khái niệm ước
vọng (desire) – jouissance – một khái niệm quan trọng trong tác phẩm của cả
Paul Auster và Lacan cùng những biểu hiện cụ thể của khái niệm này trong
học phi lí với Kafka, Beckett…, thứ hai: đặc tính Paul Auster (Austerities),
bàn về những đặc sắc trong sáng tạo mà trọng tâm là các chủ đề xuyên suốt
của tiểu thuyết Paul Auster và cuối cùng: tính hiện thực (realities), nhận diện
những vấn đề của đời sống hiện thực được tái hiện trong tiểu thuyết của ông.
Những tác phẩm của Paul Auster mà Aliki Varvogli sử dụng làm cứ liệu minh
chứng gồm: Bộ ba New York, Xứ sở của những vật cuối cùng, Moon Palace,
17
Nhạc đời may rủi và Levithan. Tác giả dẫn lại ý kiến của nhà phê bình Gérard
de Cortanze trong một bài báo đăng trên Tạp chí văn học của Pháp về 10 từ
khóa có thể sử dụng để nhận diện sự nghiệp sáng tác của Paul Auster gồm: sự
sa ngã (the fall), nước Mỹ (America), người cha (the father), Brooklyn
(Brooklyn), căn phòng (the room), biên giới (the frontier), con người mất
Chúa (man without God), trùng lặp ngẫu nhiên (coincidence), kế thừa
(inheritance) và bức tường (the wall). Bản thân Paul Auster thừa nhận rằng
“tất cả những cuốn sách của ông thực chất đều chỉ là một cuốn sách”
[148,88]. Và cuốn sách ấy dù hướng tới đa dạng những thể loại nhà văn đã
viết, những nhân vật nhà văn đã kiến tạo, những câu chuyện nhà văn đã kể thì
vẫn có những chủ đề nhất định bao quát toàn bộ sự nghiệp của Paul Auster,
chẳng hạn: cái đói (hunger), sự chết đói (starvation), cuộc khám phá
(discovery), bay lên cao (levitation)…
Cuốn chuyên khảo Tính chất hậu hiện đại của Paul Auster, như cái tiêu
đề của nó, là sự nghiên cứu công phu của Brendan Martin về tính chất hậu
hiện đại trong sáng tác Paul Auster. Tác giả cuốn sách tập trung vào một số
vấn đề vốn được nói tới nhiều trong kỷ nguyên hậu hiện đại như tính đa dạng
tập thể, sự ngẫu nhiên, sự tự nhận thức, tự khám phá, nỗi cô đơn… Ngay từ
lời tựa của cuốn sách, Brendan Martin đã xác định: “Auster thường xuyên mờ
hóa những yếu tố hiện thực và hư cấu trong truyện kể, và nhiều đặc điểm của
trật tự (ordering) hay giải thích nó mà là vấn đề kết hợp những thứ hỗn độn
(chaos) của thế giới không thể hiểu trong tiểu thuyết. Giống như Beckett đã
chỉ ra trong một cuộc phỏng vấn rằng: “Những gì mà tôi đang nói ở đây
không có nghĩa là nó sẽ không trở thành một hình thức trong nghệ thuật.
Nó chỉ có nghĩa rằng sẽ có một hình thức mới và cái hình thức mới ấy sẽ
chấp nhận sự hỗn độn và không cố gắng để nói rằng sự hỗn độn là một cái
gì đó khác. Tìm thấy một hình thức mới phù hợp với tình trạng lộn xộn (the
mess), đó là nhiệm vụ của người nghệ sĩ lúc này” [104].
19
Khai thác chủ đề cái ngẫu nhiên, Stephen E.Alford đặt vấn đề Cái ngẫu
nhiên trong tự sự đương đại: Trường hợp Paul Auster. Tác giả nhận định:
“Các tác phẩm của Paul Auster là những minh chứng về diễn trình của cái
ngẫu nhiên” [82,114]. Bài viết được cấu trúc bằng hai nội dung lớn, thứ nhất,
quan niệm của Paul Auster về cái ngẫu nhiên (Paul Auster on Chance), thứ
hai, cái ngẫu nhiên trong tiểu thuyết của Paul Auster (Chance in Auster’s
fiction). Luận điểm về cái ngẫu nhiên được Alford minh chứng qua một số
tiểu thuyết tiêu biểu của Paul Auster như Bộ ba New York, Moon Palace,
Nhạc đời may rủi và triển khai trên các khía cạnh: cái ngẫu nhiên như là sự
trùng hợp tình cờ phản ánh kinh nghiệm sống (Chance as Coincidence
reflecting lived experience), cái ngẫu nhiên như là sự đồng bộ siêu hình
(Chance as metaphysical synchronicity), sự trùng hợp tình cờ như là mối
quan hệ tương giao siêu hình (Coincidence as metaphysical correspondance),
cái ngẫu nhiên như là sự khẳng định tính vô nghĩa của vũ trụ (Chance as an
affirmation of the universe’s meaninglessness), trò chơi ngẫu nhiên như là sự
phản ánh cấu trúc của vũ trụ (Games of chance as reflections of the
universe’s tructure), Ngẫu nhiên và định mệnh (Chance and Fate), Thời gian
và mối quan hệ của nó với định mệnh, nguyên cớ và cái ngẫu nhiên (Time
trinh thám có thú vui chắp nối những mẩu nhỏ vô lý lại thành chuyện, những
mẩu thủy tinh thách đố của Paul Auster thật hấp dẫn. Cốt truyện của ông được
tô điểm với những đe dọa giết người, những người đàn bà “mắt huyền” và đủ
thứ phụ tùng trinh thám khác – lôi cuốn người ta chẳng khác gì một cuốn trinh
thám ly kì. Nhưng khi cửa đã đóng sập lại rồi, độc giả đang đánh hơi tìm đầu
mối sẽ thấy mình đang đứng trong một buồng thang máy chạy rất nhanh lên
một tầng cao chót vót hơn nhiều. Chẳng mấy chốc, độc giả sẽ được thả vào
những độ cao chóng mặt của giả tưởng siêu hình, nơi câu hỏi “Ai là thủ
phạm?” đã biến thành “Ai đang hỏi thế?” và rốt cuộc thì câu hỏi “Ai là thủ
phạm nghĩa là gì?” Paul Auster đã phát hiện ra một cái gì đó. Khi biến đổi bản