ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Nguyễn Thị Kim Phượng
SỰ TIẾP BIẾN NHO GIÁO Ở VIỆT NAM QUA TỤC NGỮ, CA DAO –
DÂN CA NGƯỜI VIỆT
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 62.22.34.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2014
1
Công trình đã được hoàn thành tại: trường Đại học Khoa Học Xã hội &
Nhân Văn TPHCM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Lê Giang
Phản biện:
1………………………………………………………………………
2……………………………………………………………………….
3………………………………………………………………………
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp cơ sở đào tạo
họp tại
………………………………………………………………………………
Vào hồi ……… giờ……….ngày….………tháng… ……….năm……………
Phản biện độc lập 1………………………………………………………
Phản biện độc lập 2…………………………………………………………
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:…………
2
DẪN NHẬP
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nhìn vào diện mạo văn hóa truyền thống người Việt, chúng ta thấy
có một sự khác biệt rất lớn so với các dân tộc trong khu vực. Sự khác
truyền thống của người Việt.
(3)Phác họa một bức tranh tổng thể về thực tế biến đổi diện mạo
văn hóa của dân tộc Việt do những đường nét tiếp biến Nho giáo khắc
họa trên nền tư liệu tục ngữ, ca dao – dân ca.
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Chúng tôi tập trung vào những phạm trù Nho giáo sau khi được
tiếp biến ở Việt Nam, xuất hiện rõ nét trong hai công trình (đều do
Nguyễn Xuân Kính chủ biên): Kho tàng ca dao người Việt, gồm hai
1
tập với 12.487 bài, nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin ấn hành năm
2001 và 15.331 (con số còn lại sau khi đã lược bỏ những câu trùng với
một số câu có hình thức 6 – 8 trong Kho tàng ca dao người Việt) câu
tục ngữ trong bộ Kho tàng tục ngữ người Việt, nhà xuất bản Văn hóa –
Thông tin ấn hành năm 2002.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bao gồm các phương pháp: liên ngành, phân tích, so sánh đối
chiếu, thống kê và lịch sử.
V. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Đây là công trình nghiên cứu bao quát, hệ thống đầu tiên về Nho
giáo trong tục ngữ, ca dao – dân ca người Việt. Tập trung vào những
phạm trù Nho giáo xuất hiện nổi bật trong mảng văn vần dân gian,
chúng tôi xác định nội hàm của từng phạm trù, chỉ ra đâu là tiếp, đâu
là biến, qua đó xác định cụ thể giá trị tích cực và tiêu cực mà tư tưởng
Nho giáo tác động vào đời sống văn hóa người Việt, đồng thời làm rõ
thái độ của người Việt đối với tư tưởng Nho giáo nói riêng, văn hóa
ngoại lai nói chung.
Mặt khác, với phạm vi nghiên cứu mảng văn vần dân gian, luận án
đưa ra cái nhìn tổng quan về sự ảnh hưởng của Nho giáo trong tục
ngữ, ca dao – dân ca người Việt, góp phần vào việc nghiên cứu nội
dung tư tưởng của tục ngữ, ca dao – dân ca nói riêng và văn học dân
tiếp biến Nho giáo ở Việt Nam là một quá trình tiếp xúc, biến đổi văn
hóa, diễn ra trong cả hai điều kiện “cưỡng bức” và “tự nguyện”.
Thành quả có được sau quá trình tiếp biến Nho giáo chủ yếu xảy ra
trong điều kiện “tự nguyện”. Khi đó, một số nhà cầm quyền và tầng
lớp Nho sĩ cấp tiến Việt Nam thời phong kiến đã chủ động tiếp nhận,
vận dụng học thuyết Nho giáo vào mục đích chính trị một cách linh
động và sáng tạo.
1.2. Nguyên nhân dẫn đến sự thâm nhập của Nho giáo vào
đời sống văn hóa tầng lớp bình dân Việt
Chủ yếu và có tính quyết định thuộc vào giai đoạn Hậu Lê và
Nguyễn, biểu hiện rõ nét qua các lĩnh vực: tổ chức nhà nước, pháp
luật, giáo dục, văn học – nghệ thuật.
1.2.1. Tổ chức nhà nước
Từ thời Lý đã manh nha một chủ trương trí thức hóa bộ máy quan
lại nên đã tạo điều kiện cho nho sĩ bước vào chính trường. Đến hậu
Trần, nho sĩ, nho sinh thay thế dần tầng lớp sư tăng và đạo sĩ ở những
cương vị trọng yếu. Tiến trình nho sĩ hóa bộ máy nhà nước được thúc
đẩy mạnh mẽ vào thời Hậu Lê, sau đó được các vua nhà Nguyễn kế
thừa. Bên cạnh, phát triển mạnh về lược, sự thúc đẩy biến đổi về chất
đối với nhân sự phục vụ cho triều đình phong kiến còn được xúc tiến
mạnh mẽ và kiên quyết qua các quy định tuyển chọn, trọng dụng
những quan lại phải tu thân theo đạo đức Nho giáo của những người
đứng đầu nhà nước. Ngược lại, các vua cũng tỏ thái độ kiên quyết
trừng phạt nghiêm khắc những quan lại đi chệch ra ngoài những chuẩn
mực đạo đức do Nho giáo thiết lập để làm gương cho dân chúng.
1.2.2. Luật pháp
Với phương pháp cai trị dùng “pháp trị” kết hợp “đức trị”, các nhà
cầm quyền phong kiến hai triều Hậu Lê, Nguyễn đã biến luật pháp
thành phương tiện và chọn triết lý Nho giáo làm “cơ sở lý luận” để
xây dựng cũng như phổ biến các điều luật nhằm vừa thực hiện ý chí
bài “Bảo kính cảnh giới” của Nguyễn Trãi. Ngoài ra, Nguyễn Trãi còn
có thêm một số bài với mục đích rõ ràng là răn dạy những người xung
quanh, đặc biệt là con cái trong gia đình như “Giới sắc”, “Giới nộ”,
“Huấn nam tử”. Nhà nho Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng có một chùm thơ
răn dạy đạo lý như “Giới đệ tử sự sư”, “Tử sự phụ mẫu”, “Khuyến
phu đãi thê”…
Hình thức biểu diễn nghệ thuật cũng được các nhà nho khai thác
trong việc phổ biến “đạo thánh hiền”. Hình thức này đã thu được một
số kết quả tích cực khi trực tiếp tác động vào tâm thức người dân. Nó
định hướng cho quan niệm đạo đức xã hội và dần thay đổi hành vi ứng
xử của từng cá nhân theo những hình mẫu đạo đức trong sách truyện,
tuồng, chèo…
Một cô gái đã chọn sống theo gương các nhân vật trong sách,
truyện:
Chẳng thà em chịu đói chịu rách
Học theo cách bà Mạnh, bà Khương
Không thèm như chị Võ Hậu đời Đường
Làm cho bại hoại cang thường hư danh.
1.3. Nho giáo và tục ngữ ca dao – dân ca người Việt
Tục ngữ, ca dao – dân ca phản ánh tâm thức dân tộc, được các nhà
nho trân trọng lưu giữ bằng các hình thức:
(1) Tục ngữ, ca dao – dân ca được vận dụng vào sáng tác như
trong các tác phẩm thơ Nôm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương…
(2) Các nhà nho xem tục ngữ, ca dao – dân ca như là đối tượng
thẩm mỹ cần giới thiệu để cộng đồng thưởng thức.
4
(3) Tầng lớp trí thức chủ trương sưu tầm, tập hợp tục ngữ, ca dao –
dân ca nhằm phác họa một bức tranh tư tưởng dân tộc. Những văn bản
sưu tầm sơ khai này là nguồn tài liệu quan trọng để các nhà nghiên
Trang trở thành một phạm trù triết học thuộc về vũ trụ luận; còn Nho
giáo thì biến Đạo thành một triết lý đạo đức, nghiêng hẳn về nhân sinh
luận, phục vụ cho chính trị.
2.1.2. Đạo Nho giáo
Bên cạnh việc vận dụng Đạo theo nghĩa đen là đường đi, cách làm,
Nho giáo tập trung khai thác và phát triển nét nghĩa bóng của Đạo,
vận dụng vào giải thích cho những vấn đề thuộc về chính trị và mục
đích, lý tưởng của cá nhân thuộc về nhân sinh luận.
5
2.1.3. Đạo trong tục ngữ, ca dao – dân ca người Việt
Người dân Việt đã tiếp nhận nội dung và hình thức Đạo của Nho
giáo: Thiên đạo (Đạo Trời), Nhân đạo, Đạo hiếu, Đạo cang thường,
Đạo tào khang…
Muối mặn ba năm muối hãy còn mặn
Gừng cay chín tháng gừng hãy còn cay
Đạo nghĩa cang thường chớ đổi đừng thay
Dẫu có làm nên danh vọng, hay rủi có ăn mày ta cùng
theo nhau
Theo nhau cho trọn đạo trời
Dầu rằng không chiếu, trải tơi mà nằm.
Điều đáng chú ý là phần lớn Đạo trong tục ngữ, ca dao – dân
ca được vận dụng tập trung vào việc xác định tính bắt buộc của phép
tắc hành xử, là chuẩn mực đạo đức của xã hội, chi phối hành vi ứng
xử của mỗi cá nhân. Nó được cụ thể hóa trong các cụm từ nói về quan
hệ nhân luân và chuẩn mực đạo đức Nho giáo: Đạo quân thần, Đạo vợ
chồng, Đạo mẹ cha, Đạo con, Đạo cang thường, Đạo nghĩa… Tục ngữ
có câu “Đạo vợ, nghĩa chồng”. Người dân đã tiếp nhận ý nghĩa Đạo
luân lý và nâng lên thành những chuẩn tắc đạo đức mang tính bắt buộc
cho từng cá nhân. Sự tiếp biến tích cực này thể hiện rõ nét và mang
tính tự giác khi được vận dụng vào lời ăn tiếng nói của họ. Chúng tôi
hành xử thiên về Trí.
2.2. Phạm trù Thiên mệnh
2.2.1. Thiên mệnh trong kinh điển
Truyền thống dân gian Trung Quốc cho rằng Thiên là Trời, là ông
tổ của vạn vật. Còn Mệnh, theo Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê, có ba
nghĩa:
(1)Cái lẽ vô hình, linh diệu của trời đất mà con người có khi hiểu
được, có khi không hiểu được; theo nghĩa đó thì mệnh (mạng) gần như
luật tự nhiên của hóa công.
(2)Những nguyên do nào đó ta không rõ, ảnh hưởng một cách bất
ngờ tới những hoạt động của ta, khiến cho có kẻ tận lực mà không
thành việc, lại có kẻ không làm mà thành việc.
(3) Một sự tiền định, sức người không thể đổi được, như có người
sinh ra vốn thông minh, có kẻ vốn ngu độn, quốc gia có thời thịnh,
thời suy, theo nghĩa này, mạng thường được gọi là định mạng, số
mạng.
Nho giáo kế thừa những ý nghĩa trên giải thích sự tồn tại của vạn
vật và biến chuyển của xã hội theo một trật tự do Trời định sẵn, trong
đó con người đóng vai trò trung tâm nhưng chịu sự chi phối trực tiếp
của Trời. Quyền lực của Trời được hiện thực hóa qua “con” của Trời
là vua . Đổng Trọng Thư cho rằng: “Con người nhận lãnh sinh mệnh
từ Trời, cho nên vượt trên tự nhiên và khác với mọi sinh vật khác.
Trong gia đình thì người có tình thân của cha con, anh em; ngoài xã
hội thì có nghĩa vụ vua tôi và kẻ trên người dưới, quây quần gặp gỡ thì
có sự cư xử đối với bậc già cả, người lớn và trẻ nhỏ”. Sự áp đặt và
ràng buộc theo cách cư xử này đã được Trương Hoành Cừ tiếp nối
nhưng vận dụng dịch lý để củng cố. Trong đó vua là con Trời, ngôi
vua là do Trời sắp đặt, mọi việc được mất ở đời đều do Trời quyết
định , con người chỉ biết tận lực làm theo. Từ đây, xuất hiện các khái
niệm: Mệnh số, Định phận.
hơn trong ca dao:
Trời sinh Trời chẳng phụ nào
Phong vân gặp hội anh hào ra tay
Trí khôn xếp để dạ này
Có công mài sắt có ngày nên kim.
Người dân phân biệt rõ ràng: kết quả của một quá trình lao động cần
cù là do “nhân định”. Nó thể hiện ý chí và nỗ lực của một cá nhân, còn
sự ngẫu nhiên tạo nên sức bật, vượt ra ngoài suy tính của con người
mới là “thiên định”. Tinh thần này chưa hẳn mang tính cách mạng
nhưng nó thể hiện sự tiếp biến linh động, tích cực của người dân từ
triết lý Thiên mệnh của Nho giáo. Người dân đã dùng Thiên mệnh,
Mệnh số để lập luận với mục đích điều hòa những xung đột trái chiều,
về lẽ sống chết, giàu sang, được mất, mang đến một sự tĩnh tại an
nhiên về tinh thần.
Hướng tiêu cực, khi Trời của người dân mở rộng tầm ảnh hưởng
đến cả sự sinh tử, được mất của con người như những câu tục ngữ:
“Tử sinh hữu mạng”; “Giàu sang tại số”; “Chữ rằng: phú quý tại thiên/
Giàu sang tại số hiển nhiên tại Trời”; “Khó giàu muôn sự tại Trời/
Nhân sinh ai cũng kiếp người mà thôi” Những câu tục ngữ, ca dao
này trên toát lên sự buông xuôi, chấp nhận sự xếp đặt của Định số.
Đáng tiếc là suy nghĩ và quan niệm ứng xử với hoàn cảnh khách quan
tiêu cực này lại phổ biến, thể hiện qua con số mà chúng tôi thống kê
được. Trong tục ngữ 93 câu/ 101 câu số câu nói về Định số; ca dao –
dân ca thì có 210 bài/ 238 bài. Chưa nói đến số câu có sự xuất hiện
của từ Phận, một khái niệm thể hiện rõ nét xu hướng tiếp nhận tiêu
cực của người dân.
Phận
Phận là “danh vị” của từng cá nhân được Trời xếp đặt. Ứng với
“danh vị” đó là trách nhiệm với gia đình, xã hội mà một cá nhân phải
thực hiện đúng để hợp với “danh”. Trong ý nghĩa này người dân đã
NGƯỜI VIỆT
3.1. Cặp phạm trù Trung – Hiếu
3.1.1. Trung
Nghĩa cơ bản của Trung là chỉ tính ngay thật.
Theo cách biện luận của Nho giáo nguyên thủy chúng ta hiểu chữ
Trung luôn có sự tương tác hai chiều. Mạnh Tử từng cho rằng: “Vua
mà coi bề tôi như tay chân, ắt tôi sẽ coi vua như bụng dạ. Vua mà coi
tôi như chó ngựa, ắt tôi sẽ coi vua như kẻ qua đường. Vua mà coi tôi
như bùn rác, ắt tôi coi vua như kẻ cướp người thù” (Quân chi thị thần
như thủ túc, tắc thần thị quân như phúc tâm. Quân chi thị thần như
khuyển mã, tắc thần thị quân như quốc nhân. Quân chi thị thần như
thổ giái, tắc thần thị quân như khấu thù).
Thế nhưng đến Hậu Nho, Trung trở nên cực đoan, thiếu nhân văn.
Danh nho Đổng Trọng Thư cho rằng: “Đất thuận theo trời, giống như
vợ thuận theo chồng và bầy tôi thuận theo vua”. Cứng nhắc hơn khi
ông vận dụng thuyết Âm – Dương để quy các mối quan hệ xã hội
thành ba giềng mối mang tính rường cột: “Vua là giềng mối của bề
tôi, cha là giềng mối của con, chồng là giềng mối của vợ”. “Âm là cái
hợp với Dương. Vợ là cái hợp với chồng. Con là cái hợp với cha. Bầy
9
tôi là cái hợp với vua”. Trong đó vua là Dương, bầy tôi là Âm; cha là
Dương, con là Âm; chồng là Dương, vợ là Âm. Âm – Dương hòa hợp
là bản chất của tự nhiên. Vì là bản chất của tự nhiên nên con người
phải tuân theo để giữ cho đời sống xã hội cân bằng và thịnh trị.
Trung theo Nho giáo vào Việt Nam đã được khai thác, định hướng
một cách phức tạp.
Đối với giai cấp cầm quyền, Trung xoáy vào mối quan hệ vua tôi,
có xu hướng cực đoan, nhằm vào mục đích bảo vệ quyền lợi và uy thế
của các nhà cầm quyền. Điều đó thể hiện rõ qua các điều khoản của
luật pháp. Trong khi đó đối với người dân, Trung thiên về luân lý, đạo
số lượng câu ít ỏi (8 câu) không bộc lộ rõ, nhưng ca dao – dân ca thì
điều đó thể hiện rất rõ: 26 bài so với 2 bài đề cập đến Trung lứa đôi và
1 bài Trung hướng đến mẹ, 1 bài hướng đến cha. Xét về bản chất, đối
với người dân, chữ Trung thể hiện một nhân cách trọng Đạo lý hơn là
việc thực thi bổn phận, vì vậy, chữ Trung của họ linh động theo nhận
thức lẽ đúng sai, thể hiện sự quý trọng, tri ân đôi khi gần nghĩa với
Hiếu nếu hướng đến hai bậc sinh thành.
3.1.2. Hiếu
Có thể tóm lược nghĩa của Hiếu Nho giáo trong các nội dung sau:
10
- Đó là phẩm hạnh cơ bản nhất vì nó dựa trên cơ sở tình thâm. Từ
đây nó quyết định nhân cách, uy tín của một cá nhân trong quan niệm
xã hội.
- Hiếu thể hiện ý thức ân trả ân, nghĩa trả nghĩa mà cha mẹ đã
dành cho con cái.
- Nó được biểu hiện cụ thể qua Lễ trong cách cư xử với cha mẹ.
- Hiếu tổng hòa các đức tính: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín.
- Hiếu có vai trò quan trọng trong sự thịnh trị của quốc gia, dân
tộc vì nó cảm đến Trời.
Đối với người dân Việt lòng hiếu thảo xuất phát từ tình yêu thương
cha mẹ là sự bộc phát tự nhiên theo bản năng, như cách họ tâm sự:
Gió đưa cây cửu lý hương,
Xa cha xa mẹ thất thường bữa ăn,
Sầu riêng, cơm chẳng muốn ăn
Đã bưng lấy bát, lại dằn xuống mâm.
Khi tiếp xúc với khái niệm Hiếu của Nho giáo, chữ Hiếu của người
dân đã có những chuyển biến rõ nét theo hướng tự giác. Người con
nhận thức đầy đủ lý do, mục đích và cách hành xử đối với hai đấng
sinh thành. Nội dung này được đúc kết trong bài ca dao mà người Việt
nào cũng thuộc nằm lòng:
con gái thì bị gả bán, ép duyên, cấm ngăn như lời cô gái tâm tình với
chàng trai: “Chàng thương thiếp thì thiếp thương trả/ Biết thầy mẹ ở
nhà gả bán nơi nao”. Còn các anh con trai thì luôn bị dằn vặt khi đứng
trước hai chữ Hiếu, Tình. Các anh thổ lộ:
Bây giờ buôn bán theo ai
Nặng đầu chữ hiếu, nhẹ vai chữ tình
Hiếu tình buồn bực trong mình
Sợ thầy hãi mẹ làm thinh vui cười.
Đứng trước Hiếu, Tình người con thường chọn hy sinh Tình nếu
Hiếu, Tình đối lập: “Chỉ Kim tương cha mẹ không thương/ Dứt đạo
cang thường, anh cam bụng chịu/ Thôi thôi buông áo anh ra về, em
bận bịu làm chi”. Hoặc họ tìm cách dung hợp: “Ơn thầy tày núi, nghĩa
mẹ tày non/ Hai ta là đạo làm con/ Muốn duyên vừa đẹp ý phải cúi
luồn mẹ cha”.
Qua diễn biến tâm trạng của các chàng trai, cô gái khi đứng trước
sự chọn lựa Hiếu – Tình, chúng ta nhận ra rằng: trong truyền thống,
chữ Hiếu đã có một vai trò quan trọng trong hệ tư tưởng của người
dân Việt. Nó chiếm lĩnh ý thức hành xử và là thước đo phẩm hạnh của
một người trong quan niệm xã hội. Chữ Hiếu thiên về Trí đã định
hướng cho lòng hiếu thảo xuất phát từ bản năng của người con.
Như vậy, đối với Nho giáo, quan hệ huyết thống (phụ tử hữu thân)
là cơ sở để xây dựng và đánh giá nhân phẩm của một người thông qua
hành vi hiếu thảo với cha mẹ. Động lực chính để người con tỏ sự hiếu
kính với cha mẹ là vì bổn phận (phụ tử chủ ân), bị chi phối bởi Lễ và
mục đích cuối cùng là tạo dựng uy tín cá nhân để tiến đến công cuộc
“bình thiên hạ”. Trong khi đó, đối với người dân Việt, Hiếu nảy sinh
từ tình cảm và được nuôi dưỡng bởi Đạo lý. Tình yêu thương và nhu
cầu được yêu thương cha mẹ là mục đích và là động lực thúc đẩy
người con xem việc kính trọng, phụng dưỡng cha mẹ là lẽ sống.
Người Việt mượn vỏ ngôn ngữ chữ Hán là Hiếu và một phần nội dung
họ bảo rằng: “Làm người phải biết cương thường”. “Cương thường” ở
đây không nhằm vào mục đích phục vụ chính trị mà thuộc phạm vi
đạo đức nhân luân, ai cũng cần phải tu rèn nên không có sự phân biệt
trai gái.
3.1.4. Trung, Hiếu đối sánh với Tình
Một bài ca dao giới thiệu vị thế của ba chữ Trung, Hiếu, Tình:
Mình về ta chẳng cho về
Ta nắm lấy áo ta đề câu thơ
Câu thơ ba chữ rành rành,
Chữ “trung”, chữ “hiếu”, chữ “tình” là ba.
Đối với những người con dân quê, đời sống tinh thần và tình cảm
của họ không chỉ có lý trí của Trung, Hiếu mà còn có cả ham muốn
dục vọng là Tình. Chữ Trung biểu hiện trách nhiệm công dân, vì
nước; chữ Hiếu là đạo làm con trong gia đình; chữ Tình là nghĩa tào
khang, sự đòi hỏi thỏa mãn tình cảm giới tính. Đây là ba bổn phận mà
Nho giáo đã từng đề cập dưới quan điểm đạo đức chính trị gọi là “tam
cương”. Người dân diễn giải lại thành hai câu thơ lục bát: “Làm trai
giữ trọn ba giềng/ Thảo thân, ngay chúa, vợ hiền chớ vong”. Tuy
nhiên, chưa có sự cân bằng, thường vẫn thiên về Trung hay Hiếu, còn
Tình – tình cảm vợ chồng bị giới hạn bởi Lễ nên có sự phòng ngừa
theo nguyên tắc: “phu thê chủ biệt”, không được phép say đắm, thiết
tha theo bản năng. Trong ca dao – dân ca, cả ba nhiều lần được đặt đối
sánh, tạo nên một thế đứng kiềng ba chân, một thế đứng lý tưởng bởi
sự vững chắc của nó.
Nho giáo tập trung vào con người, thấy được vai trò của con người
trong quá trình tiến hóa chung của tự nhiên và xã hội. Con người là
những sinh vật có lý trí, hiểu biết nên có thể tự chủ trong việc gây
dựng cuộc sống xã hội. Cái Trí chủ đạo cho mọi hoạt động, chi phối
cả cái Tình của con người. Mọi hành vi, ngay cả cảm xúc hỉ nộ ái ố…
đều phải đặt dưới sự kiểm soát của Trí. Nho gia luôn tin vào sự ảnh
Mạnh Tử xác lập vị trí duy nhất cho phương pháp chính trị này khi
bảo rằng: “Dân chúng kéo nhau theo bậc nhân đức, như nước chảy về
chỗ thấp, thú chạy về chỗ hoang” (Dân chi qui nhân dã, du thủy chi
tựu hạ, thú chi tẩu khoáng dã).
Chữ Nhân của người dân Việt đơn giản là tình thương và sự cảm
thông giữa người với người trong cộng đồng như cách họ thường
khuyên bảo nhau : “Bầu ơi thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống
nhưng chung một giàn”.
Khi tiếp xúc với chữ Nhân Nho giáo, người Việt đã có một chữ
Nhân mang tính tự giác, có sự định hướng về hành vi, đối tượng và
kết quả.
Trước hết chúng ta thấy về mặt hình thức :
Hữu bằng tự viễn phương lai
Lạc hồ quân tử lấy ai bạn cùng
Chữ hiếu, chữ trung là trung với mẹ
Chữ nhân, chữ nghĩa là ái với ân
Yêu nhau bao quản xa gần.
Cách vận dụng này đã làm cho chữ Nhân của người dân không còn
sự giản dị gần gũi, nó trở thành một khái niệm mang tính triết lý rút ra
từ kinh sách. Khi cần trau chuốt cho câu từ, người dân vẫn thường
mượn dùng hình thức này.
Về nội dung, chữ Nhân của người đã có thiên hướng duy tâm:
“Phụ người Trời phụ, thương người Trời thương”. Ca dao có bài:
Hễ muốn ra con người tử tế
Phải dễ dàng chớ để ai hờn
14
Làm ơn ắt hẳn nên ơn
Trời nào phụ kẻ có nhơn bao giờ.
Bài ca dao đã cho thấy một sự “suy tính”, có mục đích rõ ràng của
việc làm Nhân. Đồng thời ở đây cũng chỉ rõ cho mọi người cách thức
Nghĩa gốc của Nghĩa là lẽ phải, điều đúng. Nho giáo giải thích
Nghĩa theo các ý sau:
- Động cơ của Nghĩa xuất phát từ ý thức vì người, vì cái lợi của
cộng đồng. Nghĩa có quan hệ chặt chẽ với Lợi (Vì công Lợi là hợp
Nghĩa, vì tư Lợi là trái với Nghĩa).
- Nghĩa bị chi phối bởi Lễ nhằm giữ vững kết cấu xã hội tôn ti.
- Nghĩa đi liền với Nhân.
Khổng Tử đã đưa ra tiêu chí hành xử của người quân tử: “Quân tử
nghĩa lấy làm cơ bản, lễ lấy làm khuôn phép, hành xử thì cốt giữ cho
khiêm tốn, trong chữ Tín cốt phải ngay thẳng, mới là bậc quân tử”
(Quân tử, nghĩa dĩ vi chất, lễ dĩ vi hành, tốn dĩ xuất chi, tín dĩ thành
chi, quân tử tai). Cách nêu vấn đề mang tính mặc định của Khổng Tử
cho thấy dường như những khái niệm này đã được thông hiểu nên mọi
người chấp nhận một cách tự nhiên và đã được nâng lên thành chuẩn
mực trong hành xử. Cùng thời với Khổng Tử, Mặc Tử cũng không có
15
định nghĩa rõ ràng cho Nghĩa nhưng lại xem nó là vật báu của thiên hạ
dưới góc nhìn của Lợi. Vì theo Mặc Tử, kết quả của những hành xử
theo Nghĩa là mang đến công lợi cho cộng đồng. Nghĩa trong những
cách dẫn dụng của Khổng Tử, Mặc Tử thuộc về nhận thức. Xuất phát
từ nhận thức, Nghĩa trở thành lý lẽ, lý lẽ này dựa trên công lợi mà lập
luận nên Nghĩa chính là điều đúng, mọi người phải làm theo.
Nghĩa trong tâm thức dân gian Việt mang đậm tinh thần vì người,
vì cộng đồng. Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, Thạch Sanh giúp Lý
Thông, cứu công chúa là những bằng chứng cụ thể chứng minh cho
chữ Nghĩa của người dân Việt. Khi tiếp nhận chữ Nghĩa Nho giáo,
Nghĩa người dân có một chữ Nghĩa mới nổi bật yếu tố lý trí:
- Chữ Nghĩa của họ có sự cân nhắc rõ ràng: “Con kiến còn có vua
tôi/ Huống chi loài người chẳng có nghĩa dư?”
- Hành động của Nghĩa hướng đến từng đối tượng cụ thể:
Nghĩa được “định lượng” và xếp vào loại quý giá nhất: “Tiền là
gạch, ngãi là vàng.”; “Ơn nghĩa mắc hơn mua.”; ca dao có câu: “Trai
mà chi, gái mà chi/ Sinh ra có nghĩa có nghì thì hơn”. Câu ca dao là
một bằng chứng hùng hồn về sự tiếp biến Nho giáo linh động của
người dân. Họ đã chọn giá trị bản chất là Nghĩa nâng nó lên thành
16
biểu tượng đạo đức và hết mực trân trọng. Ngược lại, bỏ qua những
quan niệm hủ bại xem thường con gái của Nho giáo. Vì theo họ chỉ có
Nghĩa mới có giá trị trường tồn. Họ bảo rằng: “Đường mòn, nhân
nghĩa không mòn.”; ca dao có câu: “Sông sâu nước chảy đá mòn/ Của
kia ăn hết, nghĩa còn ghi xương”.
Một đặc điểm nổi bật là Nghĩa tập trung vào mối quan hệ vợ chồng
theo cách diễn đạt của câu tục ngữ: “Chim gà, cây cau, rau cải, nhân
ngãi vợ, đầy tớ con”. Chính sự bộc lộ tập trung này đã biến chữ Nghĩa
thành nhân vật trữ tình cùng được vận dụng với các từ ngữ khác như
qua, bậu, loan, phụng Chúng ta xem cách vận dụng trong câu ca dao
sau: “Chim quyên xuống đất tha mồi/ Tôi xa người nghĩa, đứng ngồi
không yên”. Nhân vật trữ tình “người nghĩa” bộc lộ đầy đủ quan niệm
về tình yêu, về hôn nhân của ông bà ta xưa. Nét đẹp của Tình cảm lứa
đôi bộc lộ qua Nghĩa: “Đã rằng là nghĩa vợ chồng/ Dầu cho nghiêng
núi cạn sông chẳng rời”. Nghĩa đã giúp cho Tình bền chặt. Ngược lại,
Tình giúp cho Nghĩa dịu ngọt hơn. Tình Nghĩa hỗ trợ cho nhau để mối
tình lứa đôi không những sâu đậm mà con bền chặt, trường tồn, khiến
những người trong cuộc luôn sống và cư xử có trước có sau, như cách
các nhân vật tâm sự: “Thương tình nhớ ngãi cố tri/ Tình thâm ngãi
nặng ra đi tìm nường”. Một bài ca dao khác chứng minh sự đóng góp
không nhỏ của Nghĩa vào sự bền chặt của tình cảm lứa đôi:
Nghĩa đa mang thề nguyền đã nặng
Mối tình này kết đặng chớ xa
Chạnh đau lòng như thiết như tha
nghĩa, anh vì nghĩa nhân”.
Đạo đức Nho giáo là đạo đức chính trị, đối tượng hướng đến là
những người đàn ông thuộc tầng lớp trên. Tiếp nhận Nho giáo, triều
đình phong kiến Việt Nam vẫn duy trì phương pháp chính trị bằng đạo
đức kết hợp với pháp trị đã biến hệ thống triết lý Nho giáo thành
chuẩn mực hành xử của xã hội, buộc mọi người phải tuân thủ. Các
phương tiện luật pháp, giáo dục, văn học – nghệ thuật được khai
thác vào công cuộc “Nho giáo hóa” xã hội một cách đồng bộ, nhất
quán, có tác dụng hỗ trợ nhau làm cho Nho giáo từng bước thấm dần
vào đời sống người dân. Đồng thời, với sự uyển chuyển vận dụng của
phần lớn nho sĩ qua nhiều hình thức đã biến hệ thống đạo đức Nho
giáo cứng nhắc thành “đạo làm người”, thay đổi sâu sắc nhãn quan
của người dân đối với Nho giáo. Từ đó các khái niệm: Trung, Hiếu,
Nhân, Nghĩa Nho giáo dung hợp với đạo đức truyền thống của dân tộc
để trở thành những biểu tượng văn hóa của người Việt. Trong đó chứa
đựng nội dung cơ bản là đạo đức truyền thống của người Việt kết hợp
với tính triết lý của đạo đức Nho giáo biến những hành xử Chân,
Thiện của người dân từ bản năng thành tự giác có định hướng với mục
tiêu rõ ràng: vì người, vì cộng đồng là trên hết. Triết lý làm người này
không còn phân biệt trên dưới, sang hèn, nam nữ, tất cả mọi người
trong xã hội đều phải cố gắng tu rèn, ngay cả các cô gái vốn bị Nho
giáo xem là những người “khó dạy” không đủ khả năng tiếp thu được
những lý lẽ Trung, Hiếu, Nhân, Nghĩa của Nho giáo. Họ là đối tượng
mà trước đây Nho giáo đã vạch riêng cho họ những tiêu chuẩn đạo
đức khác: Tiết trinh, Tam tòng, Tứ đức để bình xét nhân phẩm của họ.
Chương 4
SỰ TIẾP BIẾN CÁC PHẠM TRÙ TIẾT TRINH, TAM TÒNG
TRONG TỤC NGỮ, CA DAO – DÂN CA NGƯỜI VIỆT
4.1. Phạm trù Tiết trinh
Mục tiêu hướng đến của việc giáo hóa phẩm hạnh Tiết trinh cho
hội, người đàn ông có thể bỏ vợ nếu người vợ có những hành vi không
chính đính. Điều này được phản ánh qua tình huống đối đáp của đôi
vợ chồng:
Chồng trách vợ:
- Ai làm cho ngược lái chiếc thuyền tình
Sao em chẳng biết giữ gìn tiết trinh.
Người vợ phản ứng:
- Thôi anh đừng có đem dạ đổi dời
Anh nghe chi thế sự, rã rời gia cang.
Người chồng biện minh:
- Chẳng phải anh kiếm điều đặng dứt nghĩa lìa
tình
Bởi anh thấy em lắm sự bất bình nên phải xa.
Đối với các cô gái Tiết trinh là nhân phẩm, lòng tự trọng và sự
trọng thị của xã hội dành cho cá nhân cũng như gia đình, dòng họ cô
nên các cô cũng phải ép mình tuân theo. Các cô tuyên bố: “Mặc ai ép
nghĩa nài tình/ Phận mình là gái chữ trinh làm đầu”.
Các chàng trai thì cho rằng: “Phận anh quân tử bất quý ngàn vàng/
Chữ Trinh em giữ, anh chẳng màng vàng cân”. Về mặt bản chất, giữ
gìn Tiết trinh và theo đạo Tòng phu có quan hệ hỗ tương. Thúy Kiều
đã khẳng định: “Đã cho vào bậc bố kinh/ Đạo tòng phu, lấy chữ trinh
là đầu”. Giữ gìn Tiết trinh là trông giữ “tài sản” của chồng một cách
cẩn trọng. Đó là một trong những biểu hiện của ý thức phục tùng, tôn
trọng chồng của người vợ. Một người vợ sống theo đạo Tòng phu
không ai dám làm tổn hao đến “tài sản” của chồng bằng hành vi thất
Tiết.
4.2. Phạm trù Tam tòng
Đạo lý này buộc người phụ nữ cả đời phụ thuộc vào ba người đàn
ông: cha, chồng và con, trải qua ba giai đoạn làm con, làm vợ, làm
mẹ. Mỗi giai đoạn người phụ nữ phải thực hiện đúng danh phận của
Một lời thề không duyên thì nợ
Hai lời thề không vợ thì chồng
Ba lời thề khở (khởi) núi lấp sông
Em quyết theo anh đi cho trọn đạo kẻo luống công anh
đợi chờ.
Đây cũng là lý do thứ hai khiến các cô xem thuận theo chồng là
một lẽ tất nhiên.
Một lý do khác nữa, xét về mặt quyền lợi, nếu sống theo đạo Tòng
phu các cô giữ được chữ Hòa và đôi khi có thể được cả sự chia sẻ,
cảm thông của gia đình chồng:
Lúc bé còn mẹ còn cha
Lấy chồng con gái hóa ra dâu người
Gái khôn, gái phải nghe lời
Thờ chung bác mẹ ắt thời chở che.
Nhường nhịn chồng, tôn kính cha mẹ chồng để được không khí gia
đình ấm êm hạnh phúc thì đó là một điều hay, lẽ phải mà ai cũng nên
theo. Hơn nữa, quan hệ vợ chồng lại mang tính rường cột đối với việc
giữ hòa khí, nề nếp gia đình như người dân khẳng định: “Phu phụ hòa,
gia đạo thành” thì hành xử thuận tùng của người vợ càng trở nên quan
trọng. Người dân thường răn dạy, nhắc nhở cách cư xử của người vợ
luôn phải ở thế nhún nhường chồng, chủ động giải quyết mâu thuẫn:
“Chồng giận thì vợ làm lành”.
20
Ngoài những lý do về mặt nhận thức, thái độ ứng xử tôn trọng và
sự trân trọng vai trò, công lao của vợ từ phía người chồng là động lực
để người phụ nữ bền chí làm tròn bổn phận. Người chồng nhún
nhường nhờ cậy: “Đường gia trung nội trợ anh khẩn cầu đến em”.
Cũng chính câu nói này nó làm cho đạo Tòng phu của người phụ nữ
Việt đậm tính nhân văn bởi nó hàm chứa ý nghĩa “bình đẳng” trong
quan hệ vợ chồng. Cá nhân người chồng, cũng như xã hội luôn đánh
Mục đích này đã dẫn đến một hệ lụy, định cho người phụ nữ một thân
phận suốt đời làm nô lệ cho người đàn ông. Nương theo lý lẽ Tòng
phu, người Việt đã phát huy vai trò “nội tướng” của người vợ. Mặc dù
không tham gia vào những việc trọng đại nhưng những gì mang tính
thiết yếu liên quan đến kinh tế gia đình thì người chồng gần như trông
cậy vào vợ.
Khách quan mà nhận xét, trong kết quả này chúng ta không thể phủ
nhận sự đóng góp của triết lý Tòng phu vào việc xây dựng nên phẩm
hạnh và nhân cách của người phụ nữ Việt Nam. Chính sự chặt chẽ của
triết lý Tòng phu: “Ghe bầu trở lái về đông/ Làm thân con gái thờ
chồng nuôi con”, sau đó lại được tiếp tục trong vai trò người mẹ,
người con dâu: “Có con gây dựng cho con/ Có chồng gánh vác nước
non nhà chồng”, đã tạo nên tính cách chịu thương, chịu khó, hy sinh
21
cho gia đình, chồng, con và một khả năng đảm đang, dẻo dai của
người phụ nữ Việt. Phụ nữ Việt truyền thống không những giỏi việc
nước mà còn đảm việc nhà, một khả năng chu toàn khiến phụ nữ ở các
quốc gia khác khó lòng mà theo kịp.
KẾT LUẬN
I. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐÃ ĐƯỢC GIẢI QUYẾT
(1)Qua việc vận dụng linh hoạt của các Nho sĩ cấp tiến một số triết
lý Nho giáo phức tạp hay không nổi bật đã được cụ thể hóa hoặc
không tập trung phổ biến. Ngược lại những triết lý có ảnh hưởng quan
trọng đến nhân luân, sự ổn định của xã hội và quyền lợi của giai cấp
phong kiến thống trị rất được nhấn mạnh. Đạo đức Nho giáo khi đến
với người dân đã tách khỏi ý nghĩa chính trị, trở thành những quy định
về cách tu thân, ứng xử giữa người với người cụ thể và rõ ràng trong
mọi hành vi. Vì thế, một số triết lý siêu hình như Đạo trở thành những
quy tắc ứng xử và là lý lẽ của lương tâm gắn chặt với đời sống hiện
thực. Đạo với ý nghĩa nguyên lý đã được vận dụng để chuyển tải
tộc Việt Nam vượt qua nhiều giai đoạn lịch sử khó khăn.
22
(4)Bản thân các yếu tố Nho giáo với những giá trị nhân văn
nguyên thủy, kết hợp với sự vận dụng linh hoạt của những người
mang nặng trách nhiệm “giáo hóa”, theo thời gian Nho giáo đã làm
thay đổi diện mạo văn hóa người Việt, trở thành bản sắc văn hóa
truyền thống của dân tộc, một số cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
(5) Trong điều kiện lịch sử nhất định, cùng nhận thức giới hạn của
một số nho sĩ, dưới sự bảo trợ của triều đình phong kiến đã xảy ra tình
trạng “bắt chước máy móc”, buộc người dân vào thế “tiếp nhận cưỡng
bức”, dẫn đến hệ lụy những định lệ phong kiến hủ bại được xây trên
nền tảng triết lý Nho giáo trở thành những thành phần không mong
muốn, tồn tại cùng với hệ thống biểu tượng văn hóa tiến bộ trong
phong tục truyền thống của người dân Việt. Đồng thời, tình trạng tiếp
biến thiếu linh động đã biến một số phong tục trở thành hủ tục khiến
cho đời sống người dân trở nên nặng nề, gây ra những cái nhìn thiếu
thiện cảm đối với một số nội dung Nho giáo, dồn ép người dân đến
tình huống phản kháng, chống đối, bộc phát thành những lời ca, câu
hát. Nội dung chống đối thể hiện trong tục ngữ, ca dao – dân ca cho
thấy sự thẳng thắn, trung thực, không chấp nhận những lề thói bất
nhân, bất công âm ỉ trong tâm thức của người Việt, khi có điều kiện
chúng biến thành những hành động thực tế không một chút khoan
nhượng với cái xấu. Hiện tượng này trong một thời gian dài trở thành
điểm nổi bật, đại diện cho thái độ của người dân đối với tư tưởng
thống trị Nho giáo. Trên quan điểm giai cấp chúng được nâng lên
thành thái độ tẩy chay, chống đối mà người dân lao động dành cho tư
tưởng thống trị, Nho giáo. Đồng thời sự tiếp biến tiêu cực trở thành
“điểm đen” trong quá trình nhìn nhận sự ảnh hưởng của Nho giáo, tư
tưởng phong kiến vào đời sống người dân và đã bị các nhà nghiên cứu
phê phán gay gắt.