Mối Quan Hệ Giữa Chính Trị Và Kinh Tế Qua Một Số Tác Phẩm Của Lênin Trong Thời Kỳ Nep - Pdf 30



Tiểu luận: Mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế
qua một số tác phẩm của Lênin trong
thời kỳ NEP và ý nghĩa của nó đối với
công cuộc đổi mới hiện nay


- Lênin về thời kỳ quá độ lên CNXH, trong đó chính sách kinh tế mới là bộ phận
quan trọng, mà tư tưởng chủ đạo trong chính sách kinh tế mới là việc giải quyết
mối quan hệ biện chứng giữa chính trị và kinh tế.
Những bài học thành công và thất bại trong công cuộc cải tổ, đổi mới ở các
nước xã hội chủ nghĩa chứng tỏ rằng, để giữ vững được sự ổn định và phát triển
phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế. Những sai lầm
trong lĩnh vực này sẽ đưa đến những hậu quả nghiêm trọng. Công cuộc đổi mới ở
nước ta đã đạt được những thành tựu nhất định, trong đó một phần quan trọng là
nhờ Đảng và Nhà nước ta đã giải quyết thành công mối quan hệ này. Tuy nhiên đó
mới chỉ là những thành công bước đầu, sự nghiệp đổi mới đã và đang đặt ra những
khó khăn và thách thức. Để tiếp tục thúc đẩy công cuộc đổi mới đòi hỏi phải có sự
nghiêm túc nghiên cứu những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin về
thời kỳ quá độ, nhất là những luận đề cơ bản của V.I.Lênin trong chính sách kinh
tế mới.
Từ ý nghĩa trên, tiểu luận: " Mối quan hệ giữa chớnh trị và kinh tế trong
cỏc tỏc phẩm của Lờnin thời kỳ NEP và ý nghĩa của nú trong cụng cuộc đổi
mới ở nước ta hiện nay ".
Tập trung làm rõ một số luận điểm cơ bản của V.I.Lênin về mối quan hệ
giữa chính trị và kinh tế trong các tác phẩm thời kỳ chính sách kinh tế mới, từ đó
có cơ sở lý luận để xem xét thực tiễn những năm đổi mới vừa qua, tạo cơ sở khoa
học cho việc vận dụng nhằm đổi mới chính sách và cơ chế quản lý kinh tế - xã hội
thích hợp với thực trạng kinh tế ở bước đầu thời kỳ quá độ đi lên CNXH.
B. Phần nội dung


các thành phần kinh tế tư bản tư nhân, chuyển tất cả các tư liệu sản xuất và trao
đổi cơ bản vào tay người lao động, nhanh chóng đưa ra hệ thống quản lý chung,
toàn bộ lợi ích kinh tế phục tùng lợi ích dân tộc. Những công việc lớn phải làm là:
Quốc hữu hoá, thu hẹp thị trường; hình thành bộ máy quản lý tập trung tuyệt đối;
trưng thu lương thực thừa; tổ chức hợp tác xã, thủ tiêu quyền tự trị
Chính sách cộng sản thời chiến bắt đầu được thực hiện từ mùa hè năm
1918, nhưng thời gian triệt để nhất là từ cuối năm 1919 đến đầu năm 1921. Khi
nói về chính sách này, V.I.Lênin cho rằng đấy là đường lối tấn công trực diện
chống chủ nghĩa tư bản, là ý định "dùng con đường ngắn nhất, nhanh nhất trực
tiếp để thực hiện việc phân phối theo nguyên tắc xã hội chủ nghĩa" (Lênin, toàn
tập, t.44, tr.254).
Đánh giá về ý nghĩa cũng như những mặt tồn tại của chính sách cộng sản
thời chiến, cho tới nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau. Nhưng tựu chung lại,
không ai có thể phủ nhận vai trò của nó đối với việc kết thúc nhanh chiến tranh,
với việc củng cố chính quyền Xô - viết, với việc chiếm lĩnh những vị trí kinh tế -
xã hội và chính trị quan trọng nhất của Nhà nước Xô - viết một nước thù trong
giặc ngoài đã bị đẩy tới trạng thái cùng kiệt và ngày càng trở nên phức tạp, những
khó khăn bao trùm lên tất cả mọi mặt của đời sống xã hội.
Theo V.I.Lênin, chính sách kinh tế trong thời chiến "Đó không phải là một chế
độ kinh tế chặt chẽ. Đó không phải là những điều kiện kinh tế đề ra, mà phần lớn do
yêu cầu quân sự bắt buộc thi hành" (Lênin, toàn tập, t.43, tr.96).
Đây chính là sự khẳng định cần thiết phải xây dựng một đường lối, một
chính sách kinh tế mới để sớm đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng.
Tại Đại hội lần thứ V của Đảng Cộng sản Nga tháng 3 năm 1921 đã thông qua
quyết định thay đổi chính sách kinh tế. Sự thay đổi có tính chất tổng hợp: thay
biện pháp trưng thu lương thực thừa bằng thuế lương thực; xoá bỏ lệnh cấm buôn
bán, cho phép tự do lưu thông (trong khuôn khổ trao đổi ở địa phương); sử dụng
quan hệ trao đổi hàng hoá - tiền tệ; sử dụng hình thức tô nhượng; thay đổi điều lệ
hợp tác xã, mở rộng quyền hạn của nó như một tổ chức xã hội độc lập; có chính chúng ta tới ngày chiến thắng bọn bạch vệ đều chuyển dần trọng tâm đấu tanh vào
chính trị trong lĩnh vực kinh tế" (Lênin, toàn tập, t.41, tr.482).
Ông chỉ rõ: "Chính trị chủ yếu của chúng ta lúc này là xây dựng Nhà nước
về mặt kinh tế để tích góp được nhiều lúa mì hơn, để sản xuất được nhiều than
hơn, để sử dụng lúa mì và than đó hợp lý hơn, sao cho không còn có người đói
nữa" (tr.483).
Khi chính trị chuyển trọng tâm quân sự trong chiến tranh sang trọng tâm
kinh tế trong hoà bình, đây là một bước chuyển khó khăn, phức tạp, vấn đề trọng
yếu và khó khăn nhất của cách mạng xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ tổ chức: Phải
xây dựng một hệ thống tổ chức mới làm sao cho phù hợp với chính sách kinh tế
mới. "Một bộ máy vững mạnh phải thích ứng với mọi sự biến đổi" (Lênin, toàn
tập, tập 43, tr.87).
Nhìn nhận mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị trong điều kiện
giai cấp vô sản đã giành chính quyền, Lênin cho rằng: "Chính trị là biểu hiện tập
trung của kinh tế".
"Chính trị không thể không chiếm vị trí ưu tiên so với kinh tế" (Lênin, toàn
tập, t.42, tr.349).
* Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế hay chính trị là kinh tế cô
đọng lại, có nghĩa chính trị có căn nguyên từ kinh tế. Sự hình thành, tồn tại và
phát triển của chính trị là trên cơ sở những đòi hỏi khách quan của sự phát triển
kinh tế, của thực trạng kinh tế. Toàn bộ hệ thống chính trị của xã hội phải bảo vệ
được lợi ích của giai cấp thống trị mà trước hết là lợi ích kinh tế. Như vậy, xét đến
cùng lợi ích kinh tế là căn nguyên xã hội quy định những hoạt động chính trị.
Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế cũng có nghĩa kinh tế là nội
dung còn chính trị là hình thức phản ánh có tính chất tập trung của kinh tế. Thông
qua việc hình thành những tổ chức chính trị, những chính sách để từ đó giải quyết
những vấn đề quy định mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế, tạo điều

trong xã hội, nên giải quyết nó không được tuyệt đối hoá một lĩnh vực nào. Vì tất
cả các quan điểm, quyết định và hành vi chính trị nào cũng đều xuất phát từ nguồn
kinh tế và cơ sở xã hội của nó, cũng đều liên hệ bằng cách này hay cách khác với
những lợi ích kinh tế, những quan hệ kinh tế. Chính trị ở trong kinh tế và ngược
lại kinh tế thâm nhập vào chính trị.
Mối quan hệ này được Lênin giải quyết một cách đúng đắn trong thực tiễn
xã hội nước Nga vào thời kỳ thực hiện chính sách kinh tế mới. Như đã trình bày ở
chương I, nước Nga trong những năm đầu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội phải đương đầu với thù trong giặc ngoài, với nội chiến, bắt buộc phải thực
hiện "Chính sách cộng sản thời chiến" đã dẫn tới khủng hoảng kinh tế, chính trị,
trước tình hình đó, Lênin khẳng định cần phải chuyển sang Chính sách kinh tế
mới.
Vạch rõ thực trạng này, Lênin đánh giá rằng: "vào năm 1921 chúng ta vấp
phải một cuộc khủng hoảng chính trị bên trong nước Nga - Xô viết, đó là cuộc
khủng hoảng lớn nhất. Cuộc khủng hoảng đó không những làm cho một bộ phận
khá lớn trong nông dân mà ngay cả trong chúng ta cũng phải bất bình" (Lênin,
toàn tập, t.45, tr.327).
Theo Lênin trong những nhân tố thúc đẩy cuộc khủng hoảng, thì nhân tố
đầu tiên là các chính sách, chủ trương vi phạm lợi ích kinh tế của người lao động,
trước hết là nông dân, trong điều kiện họ đã mệt mỏi do chiến tranh, bị kiệt sức vì
nạn đói, thiếu công việc làm và thiếu điều kiện bình thường về an toàn xã hội.
Nhân tố quan trọng thứ hai là nạn quan liêu, thoái hoá trong bộ máy Nhà nước,
hiện tượng một bộ phận cán bộ nhân viên, kể cả những người lãnh đạo xa rời quản
lý, thiếu tôn trọng lợi ích quần chúng cũng phát triển thì càng gây thêm mất lòng
tin và bất mãn trong quần chúng
Xem xét toàn diện các nhân tố gây ra cuộc khủng hoảng, Lênin chỉ ra
nguyên nhân chủ yếu là sai lầm trong lãnh đạo quản lý trước hết và chủ yếu trong

Trong hợp tác xã thời kỳ chính sách kinh tế mới, hình ảnh trong những
người cộng sản đã tăng nhanh; hình thức hợp tác xã rất phong phú từ thấp tới cao:
Công xã, ác-len, hội liên hợp trong đó phát triển mạnh nhất là các Hội liên hiệp
đơn giản như: Hội máy móc, Hội cải tạo đất, Hội canh tác Trong tác phẩm " Bàn
về chế độ hợp tác xã" nhấn mạnh: "Kết hợp lợi ích tư nhân, lợi ích thương nghiệp
tư nhân với việc Nhà nước kiểm soát là kiểm tra lợi ích đó, mức độ làm cho lợi ích
tư nhân phục tùng lợi ích chung" (Lênin, toàn tập, t.45, tr.422).
+ Vấn đề thứ năm: Vấn đề sử dụng chuyên gia tư sản.
Khiđưa ra chính sách kinh tế mới là quá trình thực hiện ngoài việc sử dụng
hình thức tư bản Nhà nước để thu hút tư bản nước ngoài. Lênin rất chú trọng đến
việc sử dụng chuyên gia tư bản. Ông cho rằng, ở một nước công nghiệp lạc hậu,
trình độ dân trí thấp, rất cần những người giỏi về kiến thức chuyên môn nghiệp
vụ, giỏi về khâu quản lý tổ chức. Do vậy, việc sử dụng chuyên gia tư sản có lợi về
nhiều mặt, trước hết là nó tạo ra sản phẩm trực tiếp cho xã hội như cái quan trọng
hơn họ còn là những người thầy để cho người cộng sản học hỏi.
Khi bàn về quản lý Lênin cho rằng: Sẵn sàng đổi một tá cộng sản lấy một
chuyên gia tư sản, người khẳng định trong khi sử dụng các chuyên gia tư sản "chớ
nên suy tính về học phí, chớ có sợ phải trả đắt miễn là thu được kết quả tốt"
(Lênin, Sđd, t.43, tr.295).
Đồng thời Người cũng dạy những người cộng sản: "Một người cộng sản
thông minh không sợ phải học một nhà tư bản dẫu là một nhà tư bản được tô
nhượng hay một thương gia kinh tế, hay một nhà tư bản nhỏ tham gia hợp tác
xã " (Lênin, toàn tập, t.43, tr.293).
+ Vấn đề thứ sáu: Củng cố khối liên minh công nông chặt chẽ, coi đó là
nguyên tắc cao nhất của chuyên chính vô sản, là cơ sở chính quyền Xô viết, là
điều kiện quan trọng để xây dựng chủ nghĩa xã hội, tăng cường vai trò của Đảng
Cộng sản.

thống chuyên chính của giai cấp vô sản. Sự lãnh đạo của Đảng trở thành điều chủ
yếu nhất, thành nguyên tắc bắt buộc không chỉ đối với việc thực hiện chuyên
chính vô sản và dân chủ XHCN mà còn cả công cuộc cải tạo và phát triển kinh tế:
"Để làm cho giai cấp vô sản có thể thực hiện một cách đúng đắn vai trò tổ chức
của nó một cách có kết quả và thắng lợi thì chính đảng của giai cấp vô sản phải
được thực hiện trong nội bộ của mình, một chế độ tập trung chặt chẽ và một kỷ
luật nghiêm ngặt Biết nhận xét tâm trạng của quần chúng và biết cách tác động
vào tâm trạng của quần chúng" (Lênin: Sđd - tập 41, trang 34).
Chính đảng của giai cấp vô sản chỉ có khả năng thực hiện được vai trò tổ
chức đảng khi nó đem tất cả lực lượng của mình để không ngừng "cải tiến tổ chức
của Đảng, nâng cao chất lượng nội dung công tác của Đảng, tạo một sự liên hệ
chặt chẽ hơn nữa với quần chúng, thảo ra một sách lược và một chiến lược ngày
càng đúng đắn và chính xác của giai cấp công nhân". (Lênin: Sđd - tập 44,
trang120).
Xuất phát từ chỗ phân biệt rõ ràng dân chủ xã hội chủ nghĩa với tư cách là
nền dân chủ thể hiện lợi ích của tuyệt đại đa số với dân chủ tư sản - thứ dân chủ
đóng vai trò bình phong che đậy quyền lực của thiểu số bóc lột. Lênin coi tiền đề
chủ yếu nhất đối với đảng để lãnh đạo chính trị, lãnh đạo công cuộc khôi phục và
phát triển kinh tế theo tinh thần của NEP thành công là liên hệ hàng ngày, sinh
động, toàn diện với quần chúng nhân dân lao động. Ông coi đó là sự thể hiện tính
chất dân chủ sâu sắc của công tác Đảng. Lênin đưa ra quy tắc xử thế về chính trị
với những người lãnh đạo và đối với mọi đảng viên của Đảng là: Liên hệ với quần
chúng; sống trong lòng quần chúng, biết tâm trạng quần chúng; biết tất cả, hiểu
quần chúng, biết đến quần chúng giành được lòng tin tuyệt đối của quần chúng;
những người lãnh đạo không được tách rời khỏi quần chúng bị lãnh đạo. Đội tiên
phong không được tách rời khỏi toàn bộ đội quân lao động". (Lênin: Sđd - tập 44,
trang11).

duy nhất: Ban kiểm tra Trung ương - Bộ dân uỷ thanh tra công nông. Theo ông
việc xây dựng một hệ thống cân đối cơ quan kiểm tra duy nhất của Đảng và Nhà
nước bao quát tất cả, thường xuyên hoạt động sẽ có ý thức lớn lao đối với việc
giải quyết nhiệm vụ của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Theo Lênin, vấn đề quan trọng cần phải bàn đến đó là công tác tổ chức
cán bộ, phải có tổ chức mạnh và cán bộ giỏi đầy tài năng sáng tạo, tinh thần trách
nhiệm và bản lĩnh dám chịu trách nhiệm. Lênin đòi hỏi phải chú ý tìm cho ra và
thử thách một cách hết nhẫn lại và thận trọng những người thực sự có tài tổ chức,
những người có óc sáng suốt, có bản lĩnh trong thực tiễn. Họ là những con người
vừa trung thành CNXH lại vừa có khả năng tổ chức một cách vững chắc và nhịp
nhàng những công việc làm chuyển cả một khối người to lớn trong phạm vi tổ
chức Xô viết. Chỉ những người như vậy chúng ta mới đề bạt lên chức vụ lãnh đạo
và quản lý sau khi đã thử thách họ hàng chục lần bằng cách cho họ đảm nhận
những chức vụ đơn giản nhất đến khó khăn nhất, phải kiểm tra công việc và con
người chấp hành, tăng cường kiểm soát để công việc được thi hành và kỷ luật
được thực hiện một cách nghiêm ngặt nhất. Mấu chốt của vấn đề là chọn đúng
người, giao đúng việc, kết hợp giáo dục, tuyên truyền, thuyết phục với đôn đốc và
kiểm tra trong một tổ chức phân công hợp lý. Đó là điều đảm bảo cho thắng lợi
trong mọi hoạt động kinh tế chính trị thực tiễn.
Như vậy, từ thực tiễn nước Nga cho thấy, việc thực hiện Chính sách kinh
tế mới của Lênin tuy rằng trong một thời gian ngắn từ năm 1921-1924, nhưng đã
tạo nên một phát triển vượt bậc, khủng hoảng được giải quyết, nền kinh tế phát
triển mạnh, đời sống của nhân dân được cải thiện. Một trong những yếu tố quan
trọng làm nên thành tựu phát triển kinh tế - xã hội đó là do bộ máy Nhà nước đã
nắm vững các phương pháp mới trong lãnh đạo kinh tế, đã cải tiến cơ cấu kinh tế
nhiều thành phần, giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị.
II. ý nghĩa của nó trong công cuộc đổi mới ở nước ta

quả của việc làm đó không chỉ ở chỗ sản xuất nhỏ không phát triển mà còn ở chỗ
niềm tin của người nhân dân vào đường làm ăn tập thể phần nào bị giảm sút độc
lập tự do hạnh phúc lợi ích kinh tế của họ không được đáp ứng, đời sống của họ ít
được cải thiện. Trong lĩnh vực công nghiệp và các lĩnh vực khác cũng diễn ra như
vậy.
Thực tiễn cho thấy không thể giải quyết được những vấn đề cấp bách
trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế bằng các chủ trương biện pháp tư
duy kinh tế đã cũ mang đậm tính bị động và đối phó.
Đảng ta đã đặt sự nghiệp đổi mới trong một thể chế thống nhất của các
nhân tố ổn định và phát triển, đổi mới có nguyên tắc với mục đích xác định là
khắc phục các khuyết điểm, sai lầm để xây dựng CNXH cú hiệu quả mới kinh tế
làm trọng tâm, từng bước đổi mới hệ thống chính trị.
Vì kinh tế chúng ta tiến hành xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN. Về chính trị từng bước
xây dựng hệ thống chính trị XHCN theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Trong
những năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước bắt đầu từ đổi mới tư
duy. Chúng ta ngày càng có ý thức rõ rệt vị trí, vai trò và ý nghĩa quan trọng của
NEP trong từng giai đoạn. Có thể nói giờ đây những thành tựu chúng ta đặt được
nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị cho CNH đã
cơ bản hoàn thành và cho phép chúng ta chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ đẩy
mạnh CNH, HĐH.
Công cuộc đổi mới nước ta hiện nay với bối cảnh lịch sử thế giới và trong
nước khác xa với hoàn cảnh lịch sử quốc tế và nước Nga thời kỳ NEP. Do đó việc
vận dụng NEP của Lênin chỉ là sự vận dụng tinh thần của NEP.
Khẳng định quan điểm vận dụng một cách sáng tạo và phát triển hơn nữa
những tư tưởng cơ bản của Lênin và chính sách kinh tế mới nhằm mục đích sáng
tạo ra những hình thức quá độ những nấc thang trung gian đa dạng, phù hợp với

CNXH, từ một nước tiểu nông, sản xuất nhỏ như ở nước ta không chỉ là con
đường là phương tiện để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, CNH, HĐH, kinh tế
mà còn đưa nước ta nhanh chóng thoát khỏi tình trạng của nước nghèo chậm phát
triển, tránh nguy cơ tụt hậu xa hơn nữa so với các nước trong khu vực và trên thế
giới. Tạo công ăn việc làm cho lao động nước ta và góp phần cải thiện đời sống
của họ.
Theo tinh thần của những tư tưởng cơ bản của Lênin về NEP thì cần thiết
phải phát triển các hình thức kinh tế tư bản nhà nước với tư cách là những chiếc
cầu nhỏ vững chắc để xuyên qua nó đi lên CNXH. Rằng xây dựng và phát triển
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường. Nếu
không hướng TBNN đi theo con đường phát triển kinh tế TBNN chẳng những
chúng ta không hướng nó đi theo quỹ đạo của CNXH mà đôi khi làm cho nó tự
phát đi chệch hướng quỹ đạo của CNTB.
Vấn đề phát triển kinh tế HTX mà nòng cốt là các HTX trong bối cảnh
xây dựng và phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, Đảng ta đã khẳng định
"Kinh tế HTX là hình thức liên kết tự nguyện của những người lao động nhằm kết
hợp sức mạnh của từng thành viên với sức mạnh tập thể để giải quyết có hiệu quả
hơn những vấn đề sản xuất, kinh doanh và đời sống. Vì vậy Đảng chủ trương phát
triển kinh tế HTX với những hình thức đa dạng từ thấp tới cao. Được tổ chức theo
nguyên tắc tự nguyện bình đẳng cùng có lợi. Quản lý dân chủ trên cơ sở đóng góp
cổ phần và sự tham gia lao động trực tiếp các thành viên tham gia".
Thực tiễn của những năm đổi mới của nước ta cho thấy quá độ lên CNXH
từ nền sản xuất hàng hoá nhỏ lạc hậu, nông dân chiếm đại đa số bộ phận dân cư
chúng ta không thể không phát triển kinh tế HTX . Lênin coi kinh tế HTX như là
một tế bào của kinh tế thị trường.
Sự công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng XHCN chúng ta cần
chủ động giao lưu hội nhập đầu tư và thu hút vốn đầu tư của các thành phần kinh

và ngày một gia tăng. Phương thực lãnh đạo, nền lối làm việc của Đảng cũng phải
được đổi mới cả về trình độ lẫn hiệu quả.
Có thể nói công cuộc đổi mới đất nước với sự nhận thức hết sức rõ ràng
và đứng đắn về ý nghĩa quốc tế và tính thời sự của NEP. Đảng ta đã vận dụng
sáng tạo tư tưởng của Lênin về NEP nhất là tư tưởng về mối quan hệ giũa chính trị
và kinh tế, nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc sáng tạo ra những hình
thức quá độ, những nấc thang trung gian phù hợp với công cuộc đổi mới ở nước ta
hiện nay.

III. Kết luận

Chính sách kinh tế mới là một yếu tố khách quan là một quá trình lịch sử
tự nhiên quá trình chuyển từ một xã hội mà sản xuất nhỏ vẫn còn chiếm ưu thế lên
chủ nghĩa xã hội là sự phát triển hợp quy luật trong quá trình phát triển của xã hội.
Đó là sự vận động đi lên của chủ nghĩa xã hội không phải theo con đường thẳng
trực tiếp mà là sự vận động trải qua những hình thức trong gian, những "biện pháp
quá độ đặc biệt", "phải bắc những chiếc cầu nhỏ vững chắc đi xuyên qua chủ
nghĩa ta bản nhà nước", và ở các nước càng kém phát triển cảng phải trải qua
nhiều nấc trung gian quá độ ở các nước khác nhau những hình thức trung gian,
những biện pháp quá độ cũng khác nhau. Trong quá trình giải quyết các vấn đề
kinh tế xã hội phải giải quyết đúng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, có như
vậy mới đảm bảo được công cuộc đổi mới đi đến thành công.
Với nước ta trong bối cảnh của công cuộc đổi mới đất nước theo định
hướng xây dựng chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
nhằm mục tiêu "dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".
Những tư tưởng cơ bản của Lênin về NEP và việc thực hiện NEP ở nước Nga đầu
những năm 20 vừa là cơ sở lý luận là bài học kinh nghiệm giúp chúng ta từng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status