Mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
***
TRUNG TÂM ĐẠO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÍ LUẬN, CHÍNH TRỊ

NGUYỄN THỊ THU HIỀN

mèi quan hÖ gi÷a x©y dùng nÒn kinh tÕ
®éc lËp tù chñ vµ héi nhËp kinh tÕ quèc tÕ
ë n-íc ta hiÖn nay
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
hà nội - 2007 MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU
1
CHƢƠNG 1: TÍNH TẤT YẾU CỦA VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP TỰ
CHỦ VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở NƢỚC TA HIỆN NAY
1.1. Tính tất yếu của xây dựng nền kinh tế độc lập tự
chủ……….
1.2. Tính tất yếu hội nhập kinh tế quốc tế ở nƣớc ta hiện nay…
1.3. Quan hệ biện chứng giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
và hội nhập kinh tế quốc tế ở nƣớc ta hiện nay……………
CHƢƠNG 2: KẾT HỢP GIỮA XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ
VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở NƢỚC TA: THỰC TRẠNG
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
2.1. Mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và hội
nhập kinh tế quốc tế trong chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng
Cộng sản Việt Nam ………………………………………….
2.2. Kết hợp xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và hội nhập
kinh tế quốc tế: những thành tựu và hạn chế…………………
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP MANG TÍNH ĐỊNH HƢỚNG NHẰM KẾT

91
93
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

ADB Ngân hàng Phát triển Châu Á
AFTA Khu Mậu dịch tự do ASEAN
APEC Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương
ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á
ASEM Hội nghị Á - Âu
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNTB Chủ nghĩa tư bản
CNXH Chủ nghĩa xã hội
EU Liên minh châu Âu
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Tổng thu nhập trong nước
HNKTQT Hội nhập kinh tế quốc tế
IMF Quỹ tiền tệ Quốc tế
HDI Chỉ số phát triển con người
ODA Viện trợ phát triển chính thức
XHCN Xã hội chủ nghĩa
WB Ngân hàng Thế giới
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ những thập niên cuối của thế kỷ XX, trước tác động mạnh mẽ của

tìm cách ngăn cản, chống phá chủ nghĩa xã hội (CNXH). Nếu không tạo dựng
được một nền kinh tế độc lập tự chủ, thì rất dễ bị lệ thuộc, bị các thế lực thù
địch lợi dụng vấn đề kinh tế để lôi kéo, hoặc khống chế, ép buộc chúng ta
phải thay đổi chế độ chính trị, đi chệch quỹ đạo chủ nghĩa xã hội.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc kết hợp giữa xây dựng nền
kinh tế độc lập tự chủ và HNKTQT đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển
đất nước ta hiện nay, trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010,
Đảng ta đã nhấn mạnh nhiệm vụ: “gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập
tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế". Đây là hai nội dung có mối
quan hệ biện chứng với nhau, vừa là điều kiện, vừa là kết quả của nhau: “Độc
lập tự chủ về kinh tế tạo cơ sở cho hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả; hội
nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả tạo điều kiện cần thiết để xây dựng kinh tế
độc lập tự chủ” [22, tr.166]. Việc kết hợp hiệu quả hai nội dung này trong
thực tế là một bài toán không hề đơn giản đối với các nhà hoạch định chính
sách và cũng là mối quan tâm của nhiều người làm công tác nghiên cứu khoa
học ở nước ta hiện nay nhất là trong bối cảnh hiện nay khi nước ta đã trở
thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
Việc nghiên cứu và làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng nền
kinh tế độc lập tự chủ và HNKTQT không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có ý
nghĩa thực tiễn cấp bách đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo
định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta. Xuất phát từ nhận thức đó, tác giả
chọn vấn đề: “Mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và hội

3
nhập kinh tế quốc tế của nước ta hiện nay” làm đề tài Luận văn Thạc sỹ
Triết học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài
viết của các tác giả từ nhiều góc độ khác nhau nghiên cứu về những vấn đề
liên quan đến đề tài như: Bộ ngoại giao, Hội nhập quốc tế và giữ vững bản

chủ và hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta thời gian qua.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung phân tích mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế
độc lập tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta từ khi thực hiện đường
lối đổi mới đất nước (1986) đến nay.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích:
Trên cơ sở phân tích mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng nền kinh
tế độc lập tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế và phân tích thực trạng của việc
giải quyết mối quan hệ này ở nước ta thời gian qua, Luận văn đề xuất một số
giải pháp mang tính định hướng nhằm giải quyết hiệu quả mối quan hệ này ở
nước ta hiện nay.
4.2. Nhiệm vụ của luận văn:
- Làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự
chủ và hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta trong bối cảnh hiện nay.
- Tìm hiểu thực trạng và những vấn đề đặt ra trong việc giải quyết mối
mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và hội nhập kinh tế
quốc tế trong công cuộc đổi mới nước ta hiện nay.

5
- Đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng trong kết hợp giữa
xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta trong
giai đoạn hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận:
Trong quá trình giải quyết những nhiệm vụ đề ra trong luận văn, tác giả
quán triệt và tuân thủ quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam.
5.2. Phương pháp nghiên cứu:
- Luận văn sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng

thành xu thế tất yếu trong đó nền kinh tế của mỗi quốc gia là một bộ phận của
nền kinh tế thế giới thống nhất thì nền kinh tế độc lập tự chủ không thể là một
nền kinh tế khép kín, tự cung tự cấp, thực hiện đóng cửa, không cần hội nhập
với nền kinh tế thế giới. Độc lập tự chủ về kinh tế phải là độc lập tự chủ trong
phát triển nền kinh tế thị trường và chủ động mở cửa, hội nhập có hiệu quả
với nền kinh tế thế giới; tích cực tham gia vào giao lưu hợp tác, phân công lao
động quốc tế, trên cơ sở phát huy tốt nhất nội lực, lợi thế so sánh của quốc gia
để cạnh tranh có hiệu quả trên thương trường quốc tế.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, nền kinh tế độc lập tự chủ cần
được hiểu: đó là nền kinh tế không bị chi phối hay lệ thuộc vào nước khác,

7
người khác, hoặc vào một tổ chức kinh tế nào đó về đường lối, chính sách
phát triển kinh tế; có khả năng tận dụng được tối ưu các nguồn lực bên ngoài
và bên trong cho sự phát triển bền vững của đất nước đồng thời có khả năng
ứng phó một cách hiệu quả với những biến động của thị trường khu vực và
thế giới.
Thực tế cho thấy, muốn giữ được độc lập tự chủ về kinh tế, nhất thiết
phải có hai điều kiện: một là, có đường lối, chính sách độc lập tự chủ; hai là,
có thực lực kinh tế đủ mạnh ở mức cần thiết
*Độc lập tự chủ về đường lối, chính sách kinh tế có nghĩa là tự quyết
định lựa chọn định hướng phát triển, tự đưa ra chủ trương, chính sách và mô
hình kinh tế, các quyết sách để chủ động hội nhập, hội nhập có định hướng
theo lộ trình hợp lý, không bị động và lệ thuộc vào bên ngoài.
* Thực lực kinh tế đủ mạnh trong điều kiện hiện nay bao gồm những
yếu tố cơ bản sau:
Thứ nhất, toàn bộ giá trị sản xuất trong nước phải đáp ứng được đủ nhu
cầu tiêu dùng của nhân dân và có phần tích lũy cần thiết từ nội bộ nền kinh tế
quốc dân để tái sản xuất mở rộng.
Thứ hai, có thể chế kinh tế - xã hội bền vững, có cơ cấu kinh tế hợp lý,

đường lối chính trị của một quốc gia, mà còn là đòi hỏi của thực tiễn phát
triển. Có giữ được độc lập tự chủ, mới duy trì được phát triển bền vững,
không bị hòa tan, không đánh mất mình trong điều kiện mở cửa, hội nhập
kinh tế quốc tế. Đối với các nước đang phát triển, độc lập về chính trị còn là

9
thành quả giành được từ cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ chống thực dân đế
quốc. Nhưng trước xu thế toàn cầu hóa, nguy cơ mất độc lập tự chủ của các
nước này ngày càng tăng, lợi ích của dân tộc đang bị các thế lực tư bản độc
quyền xuyên quốc gia, các thế lực tài phiệt quốc tế đe dọa, lấn át và tăng
cường sự bóc lột siêu lợi nhuận. Thực tế ngày nay cho thấy, các nguồn lưu
chuyển khổng lồ về hàng hóa, dịch vụ, thông tin, vốn, công nghệ và các mạng
lưới công ty đa quốc gia rộng khắp toàn cầu đã và đang thâm nhập vào hầu
hết các nước trên thế giới. Trong bối cảnh đó, chỉ quốc gia nào có được một
nền kinh tế độc lập tự chủ thì mới có thể giành được thế chủ động trong hội
nhập, tránh được tình trạng bị áp đặt, khống chế bởi các thế lực bên ngoài
Chính vì vậy, để bảo vệ chủ quyền quốc gia trước nguy cơ can thiệp, áp đặt
của các nước lớn, các nước đang phát triển đang ra sức tập trung mọi nguồn
lực để phát triển kinh tế. Hơn ai hết, các nước đang phát triển đều nhận thức
được rằng chỉ có một nền kinh tế độc lập tự chủ mới đảm bảo giữ vững được
độc lập tự chủ về chính trị, mới không bị lệ thuộc, bị lôi kéo hay bị khống chế
bởi các thế lực đế quốc chủ nghĩa.
Đối với các nước lựa chọn con đường đi lên CNXH như nước ta, trong
bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, các lực lượng chống đối CNXH
thường xuyên tìm cách ngăn cản và chống phá sự nghiệp xây dựng chế độ
XHCN nếu không xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ thì dễ bị lệ thuộc,
bị các thế lực xấu, thù địch lợi dụng vấn đề kinh tế để lôi kéo, hoặc khống chế
ép buộc thay đổi chế độ chính trị, đi chệch quĩ đạo của CNXH.
Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ không chỉ là yêu cầu tất yếu nhằm
bảo đảm độc lập tự chủ về chính trị mà còn là yếu tố vật chất quan trọng bảo

mục đích giống nhau là tận dụng đến mức tối đa sự hợp tác quốc tế để tăng

11
cường sức mạnh dân tộc nhưng trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay,
HNKTQT có nét mới so với trước đây. Nếu như trước đây, trong giai đoạn
quốc tế hóa, việc hội nhập vào nền kinh tế quốc tế chủ yếu là sự thâm nhập
vào thị trường thế giới thông qua việc bành trướng các hoạt động kinh tế vượt
ra khỏi khuôn khổ của biên giới quốc gia thì ngày nay, hội nhập kinh tế bao
hàm trong đó cả quá trình chủ động thâm nhập vào thị trường thế giới, tham
gia phân công lao động quốc tế, đồng thời phải chấp nhận để các đối tác bên
ngoài thâm nhập vào nền kinh tế và thị trường của nước mình.
*Nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế:
Hội nhập kinh tế quốc tế chính là sự tự giác gắn kết nền kinh tế quốc
gia với nền kinh tế khu vực và thế giới, tham gia vào sự phân công lao động
quốc tế, gia nhập các tổ chức kinh tế, tài chính, thương mại quốc tế, chấp
nhận tuân thủ những quy định chung được hình thành trong quá trình hợp tác
và đấu tranh giữa các nước thành viên của các tổ chức ấy.
Để quá trình hội nhập thu được lợi ích lớn nhất các quốc gia đều phải
nỗ lực cả về chính sách và hành động thực tiễn để cơ cấu lại nền kinh tế trong
nước theo hướng hội nhập, đó là: điều chỉnh chính sách theo hướng tự do hóa
và mở cửa nền kinh tế; Điều chỉnh hệ thống luật pháp cho phù hợp với thông
lệ quốc tế; Điều chỉnh cơ cấu kinh tế nhằm tạo ra một cơ cấu kinh tế tối ưu, có
khả năng cạnh tranh cao, phát huy tốt nhất những lợi thế của đất nước trong
quá trình hội nhập; Tiến hành cải cách hệ thống các doanh nghiệp để nâng cao
năng lực cạnh tranh; Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng đòi hỏi của quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế.
* Các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế: các hình thức hội nhập ngày
nay thường diễn ra ở các cấp độ đa phương và song phương.

12

chi phối đời sống thế giới và hệ thống quan hệ quốc tế đương đại. Quá trình
ấy diễn ra đặc biệt sôi động trong lĩnh vực kinh tế. Thực tế cho thấy, đây là
một xu thế khách quan, là sự phát triển ở cấp độ mới cao hơn về chất của quá
trình quốc tế hóa lực lượng sản xuất vốn có trước đó. Toàn cầu hóa không chỉ
tạo ra những biến đổi mạnh mẽ về kinh tế, mà còn thúc đẩy các mối quan hệ
liên quốc gia gia tăng cả về bề rộng lẫn bề chiều sâu. Trong đó, tự do hóa kinh
tế và cải cách nền kinh tế theo hướng thị trường diễn ra phổ biến; Các nền
kinh tế dựa vào nhau, liên kết với nhau, xâm nhập lẫn nhau khiến cho tính tùy
thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng tăng. Hiện nay có nhiều định nghĩa
khác nhau về toàn cầu hóa xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nhưng đa
số thống nhất quan điểm cho rằng: “Toàn cầu hóa là biểu hiện và là kết quả
của sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất dẫn đến phá vỡ sự biệt
lập của các quốc gia, tạo ra mối liên hệ gắn kết, tương tác và phụ thuộc
lẫn nhau giữa các quốc gia, dân tộc trên qui mô toàn cầu trong sự vận
động phát triển” [43, tr. 16]. Nhìn ở góc độ phân công lao động thì toàn cầu
hóa thực chất là sự phát triển cao và mở rộng quá trình phân công lao động
trên phạm vi các khu vực và toàn thế giới.
Trên cơ sở của sự phát triển của lực lượng sản xuất, của quá trình phân
công lao động quốc tế cũng như sự hoàn thiện của các phương tiện giao thông
vận tải và thông tin, sự liên kết về kinh tế giữa các nước ngày càng phát triển
rộng hơn về không gian, từ hình thức thấp tới hình thức cao, từ lỏng lẻo tới
chặt chẽ, từ lĩnh vực sản xuất vật chất lan tỏa ra các lĩnh vực lưu thông phân
phối, dịch vụ, tài chính, tiền tệ. Như vậy, toàn cầu hóa có vai trò to lớn thúc
đẩy sản xuất của toàn nhân loại, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu, mở
rộng quan hệ hợp tác giữa các nước trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực

14
kinh tế. Toàn cầu hóa khiến cho cả thế giới ngày càng trở thành một thị
trường, một chỉnh thể mà trong môi trường đó, mỗi quốc gia riêng biệt chỉ có
thể phát triển được khi tự đặt mình là một yếu tố không thể tách rời của cộng

trình độ kém phát triển, để vươn lên chủ động hội nhập ngày càng sâu, rộng
vào nền kinh tế toàn cầu. Bên cạnh đó, sự liên kết giữa các nước thành viên
trong tổ chức khu vực hoặc liên khu vực sẽ tạo điều kiện để các nước cùng
đấu tranh bảo vệ lợi ích chính đáng của mình trong các tổ chức quốc tế.
Hợp tác liên kết quốc tế trên những qui mô khác nhau khiến cho nhiều
rào cản thương mại, đầu tư dần được dỡ bỏ, nhờ đó sản xuất cũng như trao
đổi giữa các nước ngày càng được thúc đẩy theo xu hướng nhất thể hóa. Việc
nâng cao trình độ hợp tác khu vực xét về tương lai chính là cơ sở cho việc
thực hiện toàn cầu hóa kinh tế. Sự ra đời của hàng loạt các tổ chức khu vực và
sự phát triển qui mô địa lý của các tổ chức khu vực trên cơ sở bổ sung các
thành viên hay hợp nhất các tổ chức khu vực chính là bước tiến ngày càng
gần hơn đến tự do hóa thương mại trên phạm vi toàn cầu.
Như vậy, toàn cầu hóa và khu vực hóa đều là xu hướng tất yếu gắn liền
với sự phát triển của lực lượng sản xuất, đặc biệt là khoa học công nghệ. Tính
khách quan của quá trình toàn cầu hóa hiện nay phản ánh xu thế tiến lên của
lịch sử nhân loại, phản ánh xu thế hợp tác để cùng phát triển giữa các quốc gia
dân tộc. Xu thế đó buộc các nước không phân biệt giàu hay nghèo, phát triển
hay đang phát triển muốn phát triển và không bị tụt hậu đều phải tiến hành
điều chỉnh cơ cấu kinh tế, đổi mới chính sách theo hướng mở cửa, giảm và
tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan, tạo thông thoáng cho việc
trao đổi hàng hoá, luân chuyển vốn, lao động và kỹ thuật trên phạm vi toàn
cầu, tích cực và chủ động tham gia vào quá trình hợp tác, phân công lao động
quốc tế. Nói cách khác, đối với sự phát triển của một quốc gia, HNKTQT là

16
con đường đi tất yếu phù hợp với xu thế toàn cầu hóa hiện nay, nó cho phép
kết hợp một cách hiệu quả nguồn lực trong nước với nguồn lực bên ngoài để
phát triển đất nước.
Bản chất của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế chính là quá
trình tự do hóa thương mại và đầu tư, quá trình này tất yếu sẽ loại bỏ dần

phá, đe dọa an ninh, chủ quyền quốc gia. Đây là thách thức rất lớn đối với các
quốc gia đang phát triển trong việc bảo vệ độc lập chủ quyền của mình.
Thực tế cho thấy, quá trình toàn cầu hóa hiện nay không chỉ là một xu
thế khách quan mà nó còn mang tính chủ quan. Có thể nói đây là một quá
trình phức tạp, đầy mâu thuẫn và mang tính hai mặt. Một mặt, toàn cầu hóa là
xu thế vận động khách quan của nền sản xuất xã hội, là kết quả tất yếu của sự
phát triển lực lượng sản xuất, của quá trình quốc tế hóa kinh tế. Nhưng mặt
khác, toàn cầu hóa trong giai đoạn hiện nay còn gắn liền với chủ nghĩa tư bản
(CNTB) và hiện đang bị CNTB, nhất là các nước tư bản phát triển chi phối,
thao túng, lợi dụng, thúc đẩy và định hướng theo mục đích của mình. Bản
chất hai mặt của toàn cầu hóa kinh tế hiện nay đã gây nên những tác động hai
chiều cả tích cực và tiêu cực đối với sự phát triển của thế giới nói chung và
của các quốc gia nói riêng khi HNKTQT. Một mặt, toàn cầu hóa thúc đẩy lực
lượng sản xuất phát triển với tốc độ và qui mô to lớn, thúc đẩy mạnh mẽ quá
trình xã hội hóa sản xuất, tạo ra nhiều cơ hội cho các nước đang phát triển và
kém phát triển đẩy nhanh, rút ngắn khoảng cách so với các nước khác. Nhưng
mặt khác, toàn cầu hóa cũng đang đặt nhân loại trước những vấn đề mang tính
toàn cầu như: đói nghèo, bất bình đẳng, ô nhiễm môi trường, tội phạm, tệ nạn
xã hội ; đặt các quốc gia, các nhóm nước, khu vực trước hàng loạt những
thách thức nghiêm trọng không chỉ trên lĩnh vực kinh tế mà còn trên các lĩnh
vực khác của đời sống xã hội.

18
Thông qua các hình thức liên kết kinh tế, chuyển giao công nghệ, luân
chuyển vốn và mở rộng thị trường, trao đổi thông tin các nền văn hóa khác
nhau có điều kiện giao lưu, truyền bá, lan tỏa và thẩm thấu lẫn nhau làm cho
văn hóa phong phú, đa dạng hơn nhưng đồng thời điều đó cũng đưa đến nguy
cơ làm xói mòn truyền thống văn hóa của các dân tộc. Đối với các nước định
hướng phát triển đi lên CNXH, thông qua con đường trao đổi, hợp tác kinh
tế, đầu tư, cho vay theo hướng khuyến khích tư nhân hóa, tự do hóa tư sản các

hóa hiện nay. Vì lợi ích trước hết của chính mình, hầu hết các nước đều đã và
đang tích cực chủ động hội nhập vào xu thế chung của thế giới. Vấn đề đặt ra
với mỗi nước không chỉ là nhận thức được xu thế tất yếu đó, mà điều quan
trọng hơn là xây dựng được chiến lược, tìm ra được những giải pháp thích
hợp để hội nhập thành công vì lợi ích của dân tộc mình.
Là một nước đang phát triển lựa chọn định hướng đi lên CNXH, Việt
Nam ngày càng nhận thức đầy đủ hơn cả thời cơ và thách thức mà xu thế toàn
cầu hóa và cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đặt ra, nhất là sau sự sụp đổ
của chế độ XHCN ở Đông Âu và Liên Xô. Đồng thời khẳng định để tranh thủ
cơ hội, vượt qua thách thức tiếp tục đưa đất nước phát triển trên con đường
công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì không thể biệt lập mà nhất thiết phải có
cách thức hội nhập hiệu quả với khu vực và quốc tế trước hết là trong lĩnh vực
kinh tế. Đối với nước ta, HNKTQT vừa là một xu thế tất yếu khách quan và
yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, vừa là một chủ trương chiến lược được
lồng ghép trong chiến lược tổng thể về xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
theo định hướng XHCN nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ và văn minh”

20
1.3. Quan hệ biện chứng giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và hội
nhập kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay
Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và HNKTQT là hai nội dung quan
trọng trong đường lối phát triển kinh tế đất nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Hai nội dung đó có mối quan hệ biện chứng với nhau, vừa là tiền đề, vừa là
kết quả của nhau, được hoàn thiện từng bước trong quá trình xây dựng và phát
triển đất nước. Trong bối cảnh của xu thế toàn cầu hóa và HNKTQT hiện nay,
việc xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ sẽ tạo điều kiện cần thiết, là nền
tảng cơ sở cho việc HNKTQT một cách hiệu quả nhất; HNKTQT chính là
phương thức tốt nhất để tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài kết hợp với
nguồn lực trong nước thành sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế quốc gia.

quan hệ tuỳ thuộc lẫn nhau, đan xen nhiều chiều, nhiều tầng nấc với các quốc
gia khác. Vì vậy, quá trình HNKTQT của một quốc gia sẽ bao hàm các nỗ lực
về chính sách và hoạt động thực tiễn để tham gia vào các định chế, tổ chức
kinh tế khu vực và toàn cầu nhằm mang lại lợi ích lớn nhất. Để đạt dược mục
tiêu đề ra và cũng là để thực hiện các qui định và các cam kết khi tham gia
các định chế khu vực và toàn cầu các quốc gia thường phải tiến hành các công
việc trong nước như: điều chỉnh chính sách theo hướng tự do hoá và mở cửa,
giảm dần, tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan, làm cho việc
trao đổi hàng hoá, dịch vụ, đầu tư và sự luân chuyển vốn, lao động, kỹ thuật,
công nghệ giữa các nước thành viên trở nên thông thoáng, thuận lợi hơn; Điều
chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng mở cửa ra bên ngoài nhằm làm cho nền kinh
tế thích ứng và vận hành có hiệu quả trong điều kiện cạnh tranh quốc tế ngày
càng quyết liệt; Tiến hành các cải cách cần thiết về kinh tế, xã hội, đặc biệt là
cải cách hệ thống các doanh nghiệp để nâng cao năng lực cạnh tranh; Đào tạo

Trích đoạn Những thành tựu đạt được Những hạn chế, yếu kộm Đào tạo nguồn nhõn lực cú trỡnh độ cao
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status