Mối quan hệ giữa tăng trởng kinh tế
v công bằng xã hội
CN. Nguyễn trung hiếu
Bộ môn Kinh tế chính trị
Khoa Mác Lênin, t tởng Hồ Chí Minh
Trờng Đại học GTVT
Tóm tắt: Mối quan hệ giữa tăng trởng kinh tế v công bằng xã hội từ lâu luôn l một
trong những đề ti ginh đợc sự quan tâm của nhiều nh nghiên cứu, từ đó hình thnh nhiều
quan điểm khác nhau về vấn đề ny. Báo cáo ny, chúng tôi trình by một số quan điểm về
mối quan hệ giữa tăng trởng kinh tế v công bằng xã hội v phân tích sự tơng tác giữa tăng
trởng kinh tế v công bằng xã hội.
Summary: For a long time, the relationship between economic growth and social equity is
always one of themes, which attract many researchers' attention and accordingly, lead to
different opinions of the theme. In this article, we present some opinions of the relationship
between economic growth and social equity as well as interaction between them.
KT-ML
i. đặt vấn đề
Giải quyết thoả đáng mối quan hệ giữa
tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội đang
là vấn đề đợc lu tâm hàng đầu ở hầu hết
các quốc gia trong thời đại ngày nay. Điều đó
lại càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với
Việt Nam trong quá trình phát triển nền kinh tế
thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa. Tuy
nhiên, việc đạt đợc mục tiêu kép này không
dễ dàng. Trên thực tế đã có nhiều bằng chứng
về sự đối lập giữa tăng trởng kinh tế và
thị trờng và hệ quả tơng ứng của quan
điểm này.
Những ngời theo quan điểm này cho
rằng tăng trởng kinh tế tất yếu dẫn đến bất
bình đẳng và chính sự bất bình đẳng là điều
kiện thúc đẩy tăng trởng. Lập luận của họ là:
Chỉ tầng lớp có thu nhập cao mới có khả năng
tích luỹ và đó là nguồn bảo đảm đầu t chủ
yếu cho tăng trởng. Bất kỳ sự phân phối nào
làm giảm mức độ tập trung thu nhập cho tầng
lớp này đều ảnh hởng xấu đến tăng trởng
kinh tế. Lập luận đó dựa vào thực tiễn và lịch
sử của chủ nghĩa t bản trong giai đoạn tích
luỹ t bản nguyên thuỷ. Ngời đầu tiên đặt
nền móng cho lập luận này là D. Ricardo. Ông
cho rằng tăng trởng kinh tế có đợc nhờ mức
tiết kiệm cao của tầng lớp t sản, do đó ông
chống lại việc phân phối lại thu nhập gây bất
lợi cho tầng lớp này. Những lập luận đầy đủ
nhất về tăng trởng đối lập với công bằng
đợc trình bày trong lý thuyết nhị nguyên của
W.Arthur Lewis, nhà kinh tế học Jamica.
Trong lý thuyết về mô hình kinh tế nhị nguyên
hay còn gọi là mô hình kinh tế hai khu vực. Mô
hình của W. A. Lewis cũng đợc các nhà kinh
tế học John Fei và Guatav Raris áp dụng vào
phân tích quá trình tăng trởng ở các nớc
đang phát triển. T tởng cơ bản của mô hình
này là chuyển số lao động d thừa trong
ngành nông nghiệp sang các ngành công
mô hình này chỉ phù hợp khi nhà t bản sử
dụng công nghệ nhiều lao động, nhng thực
tế thờng diễn ra ngợc lại. Mặt khác, lao
động d thừa trong nông nghiệp là lao động
không có chuyên môn, còn lao động đợc sử
dụng trong các ngành công nghiệp phải có kỹ
năng nhất định. Thứ ba, ở các nớc châu á
gió mùa, nên nông nghiệp lúa nớc vẫn thiếu
lao động trong các đỉnh cao của thời vụ, chỉ
d thừa lao động trong thời kỳ nông nhàn.
KT-ML
Ngoài ra, một mô hình khác cũng chịu
ảnh hởng của quan điểm trên- đó là mô hình
tăng trởng dạng chữ (chữ U ngợc) của
S.Kuznets. Mô hình đợc xây dựng trên sự
khảo nghiệm thực tế của một số nớc đợc
tiến hành vào năm 1995. Theo mô hình
S.Kuznets, khi thu nhập quốc dân bình quân
đầu ngời thấp thì mức độ bất bình đẳng cũng
thấp. Bất bình đẳng sẽ tăng lên liên tục theo
đà tăng trởng kinh tế và chỉ giảm đi khi xã
hội đã đạt đến một trình độ phát triển kinh tế
nhất định. Lập luận của S.Kuznets tuy vậy
không thực sự đúng đối với một số nớc kém
phát triển. Không phải tất cả các nền kinh tế
lạc hậu, có mức thu nhập bình quân đầu ngời
thấp lại có mức độ bất bình đẳng thấp.
Mặt khác, bên cạnh những nhợc điểm
của các mô hình nói trên, việc htực thi quan
nội dung quan trọng nhất của quan hệ sản
xuất, có tác dụng mở đờng và thúc đẩy lực
lợng sản xuất phát triển. Cơ chế phân phối
đợc thiết lập sao cho đảm bảo thu nhập phụ
thuộc vào đóng góp lao động. Tuy nhiên, xét
về mặt thực tế, nền tảng của các quan hệ
phân phối ở các nớc xã hội chủ nghĩa trớc
đây vẫn là chủ nghĩa bình quân, duy trì bình
đẳng theo quan điểm bình quân; hơn nữa, các
nớc này đã thực hiện chính sách phúc lợi
rộng rãi bất chấp trình độ phát triển kinh tế về
cơ bản còn yếu kém.
Đờng lối phát triển kinh tế của các nớc
Bắc Âu theo mô hình Nhà nớc phúc lợi xã
hội cũng là một biểu hiện khác của quan
điểm u tiên cho công bằng xã hội. Các nớc
này cho rằng công bằng xã hội là động lực
thúc đẩy tăng trởng kinh tế. Vì vậy, họ chú
trọng thực hiện các chính sách phúc lợi xã hội
rộng rãi, nhà nớc tập trung đầu t vào các
hàng hoá công cộng, gắng sức tạo điều kiện
để mọi ngời dân trong xã hội đều đợc
hởng thành quả của tăng trởng kinh tế.
Nhng sau ba bốn thập kỷ, mô hình này cũng
bị phá sản do phúc lợi xã hội phình ra vợt
quá khả năng chịu đựng của nền kinht ế, cho
dù tiềm lực vật chất và tài chính của các nớc
Bắc Âu hơn hẳn các nớc xã hội chủ nghĩa ở
Liên Xô và Đông Âu trớc đây.
KT-ML
theo đó, tăng trởng kinh tế phải đợc thực
hiện đồng thời với việc giải quyết bất bình
đẳng xã hội. Ngay từ năm 1968, Murdal là
ngời đầu tiên đã khẳng định rằng bất bình
đẳng cao có thể làm hại cho tăng trởng. Các
nhà nghiên cứu khác nh Ahluwalia (vào năm
1974), Alesia, Perrtotti (1994), Nancey
Birdsall, David Ross và Richard Sobort
(1995) cũng đều khẳng định vai trò tích cực
của công bằng xã hội đối với tăng trởng kinh
tế. Theo quan điểm của Tổ chức Thơng mại
Thế giới (WTO) thì không có bằng chứng nào
cho thấy sự tăng trởng kinh tế lại đi đôi một
cách tích cực với tình trạng bất bình đẳng về
thu nhập, hoặc sự bất bình đẳng dấy đa tới
những nhịp độ tăng trởng cao hơn (1)
KT-ML
Để thực hiện quan điểm kết hợp giữa
tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội, các
nhà nghiên cứu cấp tiến đã đa ra hai hớng
đi chính:
Một là, hớng sự hoạt động kinh tế vào
việc giải quyết các nhu cầu cơ bản của con
ngời. Theo họ, thị trờng không thể phân bổ
thích đáng lợi nhuận do tăng trởng kinh tế
đem lại, đặc biệt là trong giai đoạn đầu. Chính
phủ các nớc cần chuyển giao thu nhập từ
những tầng lớp đợc lợi nhiều hơn sang những
tầng lớp yếu thế trong xã hội bằng các hoạt
động trợ cấp, các chơng trình xoá đói giảm
công bằng xã hội
Trớc hết, tăng trởng kinh tế là điều kiện
cần thiết để thực hiện những nhu cầu cơ bản
và ngày càng tăng của con ngời. Xã hội loài
ngời không thể tồn tại và phát triển nếu
không có những thành quả của tăng trởng
kinh tế. Với các nớc đang phát triển, tăng
trởng kinh tế là yêu cầu tiên quyết để thoát
khỏi sự ràng buộc với đói khát, đau yếu, bệnh
tật để nâng cao khả năng cạnh tranh, khắc
phục sự lệ thuộc và rút ngắn khoảng cách tụt
hậu so với các nớc đi trớc. Với các nớc
phát triển, tăng trởng kinh tế đã góp phần mở
ra những khả năng, nhu cầu tiêu dùng mới,
đáp ứng với những khát vọng vô tận của loài
ngời; đồng thời góp phần giải phóng con
ngời khỏi lao động nặng nhọc, lao động cơ
bắp nhờ sự phát triển vợt bậc của khoa học
và công nghệ. Chính W. Arthur Lewis trong
tác phẩm nổi tiếng đợc giải thởng Nobel Lý
thuyết về tăng trởng kinh tế đã từng nhấn
mạnh: tăng trởng kinh tế có lợi cho xã hội
không phải bởi vì của cải nhất thiết làm tăng
hạnh phúc, mà vì của cải mở rộng phạm vi lựa
chọn của con ngời. Đây là cài mà chúng ta
coi là thành tố thứ ba của ý nghĩa nội tại của
sự tăng trởng và phát triển: quyền tự do lựa
chọn. Ngời ta muốn tăng trởng kinh tế là vì
nó tạo cho con ngời quyền kiểm soát rộng rãi
development report, 1998) với chủ đề Những
mẫu hình tiêu dùng và sự liên quan của nó
đến sự phát triển con ng
ời, đã đa ra những
bất bình đẳng trong xã hội hiện đại, và nhận
định: sự tăng trởng của tiêu dùng trong thế
kỷ XX với quy mô và sự đa dạng cha từng
thấy, đã đợc phân phối không tốt, để lại vô
số những khiếm khuyết và bất bình đẳng
lớn(3). Trong đó, 20% nghèo nhất trong dân
số thế giới đã bị loại ra khỏ con bùng nổ về
tiêu dùng. Hơn 1 tỷ ngời bị tớc những nhu
cầu tiêu dùng cơ bản. Hơn 2 tỷ ngời bị thiếu
máu, trong đó 55 triệu ngời ở các nớc công
nghiệp. Trong 4,4 tỷ dân ở các nớc đang
phát triển, gần 3/5 thiếu những điều kiện vệ
sinh cơ bản; gần 1/3 không đợc dùng nớc
sạch; 1/4 không có điều kiện ở thoả đáng; 1/5
không đợc hởng những dịch vụ y tế hiện
đại; 1/5 trẻ em không học đến hết bậc tiểu
học; 1/5 không đợc ăn uống để có đủ năng
lợng và chất đạm. Ngợc lại, 20% ngời giàu
nhất thế giới tiêu thụ 45% thịt và cá; 58% tổng
số năng lợng; 84% tổng lợng giấy; sở hữu
87% tổng số xe cộ,v.v
Về tài nguyên và môi trờng sống, cũng
theo báo cáo trên, toàn cầu đang đứng trớc
hai cuộc khủng hoảng lớn đẩy loài ngời đến
giới hạn tối đa: một là nạn ô nhiễm môi trờng
và chất thải ngày nay đã vợt quá khả năng
thiết để thúc đẩy tăng trởng kinh tế. Trong
giai đoạn hiện nay, xu hớng chung của thế
giới cũng đang chuyển hớng coi trọng vấn đề
giải quyết công bằng xã hội của các quốc gia
và thừa nhận vai trò tích cực của công bằng
xã hội đối với tăng trởng kinh tế.
Việc thực hiện công bằng xã hội trớc hết
dựa trên mục tiêu quan trọng nhất của sự phát
triển xã hội là bản thân con ngời và những
quyền lợi chính đáng của con ngời. Bất kỳ
mô hình tăng trởng nào cũng phải nhằm vào
mục tiêu này đối với mọi thành viên chứ không
phải chỉ với những nhóm nhỏ cá nhân trong
cộng đồng. Sự công bằng xã hội thực thi và
mở rộng các quyền của con ngời nh Tuyên
ngôn về nhân quyền năm 1948 đã khẳng
định: Tất cả mọi ngời đều có quyền hởng
một mức sống đủ cho sức khoẻ và hạnh phúc
của bản thân và gia đình, bao gồm thức ăn,
thức mặc, nhà ở, sự chăm sóc y tế và những
dịch vụ xã hội cần thiết Tất cả mọi ngời
đều có quyền đợc học hành, đợc làm việc
và đợc hởng bảo hiểm xã hội(4). Hội nghị
thợng đỉnh bàn về con ngời tại Co-pen-ha-
ghen cũng đã khẳng định: Tăng trởng kinh tế
không đồng nhất với việc mang lại hạnh phúc
cho con ngời, nếu không lấy con ngời làm
trung tâm.
Bên cạnh đó, công bằng xã hội còn là
yếu tố quan trọng thúc đẩy khả năng tái sản
chiến lợc nh vậy tốt hơn nên đợc gọi là
Phản phát triển(5)
Thu nhập thấp và mức sống thấp của
ngời nghèo dẫn đến tình trạng sức khoẻ,
giáo dục kém và khả năng tham gia vào hoạt
động sản xuất kinh doanh thấp; năng suất
thấp lại kéo theo thu nhập thấp tạo nên một
vòng luẩn quẩn khó thoát ra khỏi sự nghèo
đói. Trong khi đó, tầng lớp ngời nghèo chiếm
đa số trong các nớc đang phát triển. Vì vậy,
việc tăng thu nhập cho ngời nghèo bằng các
chính sách của chính phủ vừa có tác dụng
tăng thêm năng suất sản xuất của toàn xã hội,
vừa tăng thêm nhu cầu tiêu dùng các hàng
hoá thiết yếu. Điều này tạo ra một động lực
kích thích sản xuất trong nớc phát triển, tạo
điều kiện tăng trởng kinh tế và thu hút sự
tham gia vào quá trình phát triển của mọi tầng
lớp và thành phần xã hội.
KT-ML
Sự công bằng đợc thực hiện thông qua
phân phối thu nhập có tác dụng nh một hình
thức khuyến khích về vật chất và tinh thần để
mở rộng sự tham gia của quần chúng vào quá
trình phát triển. Ngợc lại, sự bất bình đẳng
đợc thừa nhận trong xã hội sẽ là một trở lực
lớn về tâm lý đối với tiến bộ kinh tế và tạo ra
những bất mãn xã hội của dân chúng.
Trong nền kinh tế thị trờng hiện đại,
công bằng xã hội đợc thực hiện theo xu
(3). Báo cáo phát triển con ngời năm 1998,
trang 35.
(4). Báo cáo phát triển con ngời năm 1998,
trang 21.
(5). Kinh tế học cho Thế giới thứ ba, trang 221
Tài liệu tham khảo
[1]. Mai Ngọc Cờng. Lịch sử các học thuyết kinh
tế. NXB Giáo dục, Hà Nội, 1997.
[2]. Torodol. Kinh tế học cho thế giới thứ ba. NXB
Giáo dục, Hà Nội, 1998.
[3]. UNDP. Báo cáo phát triển con ngời năm 1998.
Hà Nội, 1999.
[4]. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần IX.
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001