BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINHNGUYỄN ĐỨC QUỲNH
THÂN PHẬN NGƯỜI VIỆT XA XỨ
TRONG VĂN XUÔI NGUYỄN VĂN THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN ĐỨC QUỲNH
THÂN PHẬN NGƯỜI VIỆT XA XỨ
TRONG VĂN XUÔI NGUYỄN VĂN THỌ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
TS. LÊ THANH NGA
NGHỆ AN - 2014
3
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 6
1. Lí do chọn đề tài 6
2. Lịch sử vấn đề 6
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát 11
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
5. Phương pháp nghiên cứu 11
2.3. Bi kịch kiếp sống vô tăm tích 65
2.4. Bi kịch thân phận người phụ nữ Việt xa xứ 69
2.4.1. Người phụ nữ với bi kịch xuất phát từ ngoại cảnh 70
2.4.2. Người phụ nữ với bi kịch tự thân 74
Chương 3
NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN THÂN PHẬN CON NGƯỜI XA XỨ
TRONG VĂN XUÔI CỦA NGUYỄN VĂN THỌ 81
3.1. Văn xuôi Nguyễn Văn Thọ mang đậm yếu tố tự truyện - kiểu nhân vật xưng “tôi” 81
3.1.1. Tự truyện và đặc điểm của tự truyện trong văn học 81
3.1.2. Yếu tố tự truyện trong sáng tác văn xuôi Nguyễn Văn Thọ 83
3.2. Đặt nhân vật vào hiện thực khốc liệt của cuộc sống để thể hiện tính cách 91
3.2.1. Tình huống truyện gay cấn, bất ngờ 91
3.2.2. Chi tiết bạo liệt 96
3.3. Lối viết đa giọng điệu 99
3.3.1. Giọng bạo liệt 99
3.3.2. Giọng lãng mạn, dịu êm 104
3.3.3. Giọng xót xa, cay đắng 107
3.3.4. Giọng triết lí, suy tư 111
KẾT LUẬN 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
5
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Văn học Việt Nam hải ngoại kể từ thời điểm năm 1975 đến nay đã
trải qua một chặng dài với những thành tựu đáng kể, góp phần không nhỏ làm
nên diện mạo đầy đặn của văn học nước nhà. Văn học Việt Nam hải ngoại là
sản phẩm tinh thần của những người con Việt li hương, hiện đang sinh sống ở
khắp nơi trên thế giới. Tuy nhiên, bộ phận văn học này vẫn không được bạn
đọc trong nước biết đến một cách rộng rãi. Nó thực sự chưa trở thành món ăn
tinh thần của nhiều độc giả trong nước. Đặc biệt, ở trong nhà trường phổ
Nguyễn Văn Thọ không phủ nhận điều này. Mỗi câu chuyện, mỗi chi tiết, tình
huống đều là một lát cắt nào đó trong cuộc đời tác giả”. [97]. Còn Loan
Thanh khẳng định: “ông, […], là một trong số ít những cây bút đương đại
xuất sắc nhất về đề tài người Việt ở hải ngoại. Đọc tác phẩm người ta cảm
nhận được mỗi con chữ là máu và nước mắt của hơn 20 năm phiêu bạt ở xứ
người của ông. Hai mươi năm bòn nhặt từng đồng xu, chắt chiu từng giọt cảm
xúc nhỏ để gửi đến độc giả những cảm xúc nguyên sơ giữa hai bờ hư ảo của
một cây bút hướng đến hiện thực". [76]. Đỗ Bích Thuý cũng nhận xét: “Tôi
cho rằng, sự thành công của Nguyễn Văn Thọ đã được chắt lọc từ việc phải hi
sinh rất nhiều, trả giá rất nhiều trong cuộc sống quá khốc liệt đối với những
năm tuổi trẻ, những năm quý giá nhất của đời người.” [97]. Và Lãng Ma
trong “Lão thợ đấu” Nguyễn Văn Thọ trình làng "Vợ cũ" bổ sung:“Với vốn
sống đa dạng và dày dặn, những trang viết của anh luôn đầy ắp những chi tiết
hiện thực. Sự quyết liệt trong cách ứng xử và nỗi da diết tình người làm nên
đặc trưng chủ đạo trong văn Nguyễn Văn Thọ.” [64].
7
Giá trị hiện thực được nhắc đến trong sáng tác của nhà văn Nguyễn
Văn Thọ chính là những gì mà bản thân nhà văn đã từng trải qua. Đó là quãng
thời gian 11 năm ở chiến trường, hơn 25 năm bươn chải kiếm sống ở Đức, và
nhiều đau khổ, dằn vặt của những lần đổ vỡ trong hạnh phúc hôn nhân. Có thể
xem Nguyễn Văn Thọ là nhà văn hiện thực viết về chính bản thân mình.
Nguyễn Văn Thọ còn được đánh giá là nhà văn của sự chân thành.
Chân thành là một yêu cầu tất yếu đối với nhà văn. Tuy nhiên với
Nguyễn Văn Thọ điều này được thể hiện một cách triệt để, có lúc bị lạm
dụng, nhất là những trang văn viết về cuộc sống người Việt ở nước ngoài của
ông. Thu Hà đã rất có lí khi cho rằng: “Còn khi viết về những thân phận tha
hương, Nguyễn Văn Thọ dường như đã khiến người đọc ngập chìm trong nỗi
nhục cơm áo và sự lạc loài của những đồng bào mình - trong đó có anh. Sự
thật thà đến mức thái quá của anh, sự trung thực nghiệt ngã của anh trong
những truyện ngắn đầy yếu tố tự truyện: Trong bão tuyết, Vườn Maria, Gửi
cảm giác Nguyễn Văn Thọ vẫn là một người đàn ông … thuần Việt. Sự nhân
hậu bao trùm dù cho cái hiện thực trong câu chuyện có nghiệt ngã đến khắc
khoải thì điều toát lên vẫn là âm hưởng nhân văn, ấm nóng tình người. Bao
nhiêu năm lăn lộn, sục sạo bươn chải trong một thế giới với không ít những
mánh lới làm ăn chụp giật, không hiểu những trang văn đã cho ông giữ được
thiên lương hay chính sự lương thiện giữ được giữa bão giông, giữa những
điên đảo về nhân cách trong cuộc sinh tồn đã lan toả vào những trang văn của
người đàn ông xa xứ. Điều này có vẻ như mâu thuẫn mà tôi chỉ có thể tự trả
lời rằng đó là nhờ tâm hồn Việt thẳm sâu từ tâm thức.” [97].
Trang website
cũng đề cao tính Việt khi giới thiệu tập sách Vàng xưa: "Những trang viết của
9
Nguyễn Văn Thọ cũng đã phần nào cho chúng ta thấy cuộc sống của cộng
đồng người Việt ở CHLB Đức. Bươn bả mưu sinh và đầy toan tính, nhưng
trên hết thảy, chất Việt thuần phác trong họ vẫn lấp lánh trong những trang
sách của Nguyễn Văn Thọ. Tình cảm của người Việt vẫn luôn hướng về quê
hương, đất nước”.
Đặc biệt, khi Nguyễn Văn Thọ cho ra đời cuốn tiểu thuyết Quyên, đã có
rất nhiều ý kiến nhận xét về vấn đề thân phận con người khi phải sống tha
hương. Trong bài báo có tựa đề Thêm một góc nhìn về cuộc sống của người
Việt xa xứ trên Báo Văn nghệ công an số 101, ra ngày 06/04/2009, Khánh
Linh đã có những đánh giá: “Đọc Quyên ta thấy thấm đẫm từng trang viết về
nỗi đau tủi nhục, về tinh thần cũng như thể xác không gì có thể bù đắp được
của những con người đã trót lìa xa quê hương vì ảo mộng giàu sang. Đó cũng
là nỗi đau của người trong cuộc, của những người tha hương khi nhận ra cái
giá phải trả để đổi lấy những đồng Đôla, và sâu xa hơn đó cũng là sự va đập
của những nền văn hóa.” [52]. Bùi Việt Thắng cũng rất tâm đắc Quyên ở vấn
đề thân phận con người. “Đọc lại Quyên của nhà văn Nguyễn Văn Thọ, tôi lại
thấy cái chủ đề Thân phận và Thân xác nó hài hoà nhau.” [77].
Ngoài ra, Nguyễn Văn Thọ còn được xem là nhà văn của phái yếu. Dù
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn đã hệ thống được một số đặc điểm cơ bản nhất về giá trị nội
dung và nghệ thuật trong các sáng tác văn xuôi của Nguyễn Văn Thọ khi viết
về đề tài Thân phận người Việt xa xứ.
- Luận văn có thể cung cấp tài liệu cho những ai quan tâm đến vấn đề
văn học hải ngoại và tác phẩm của Nguyễn Văn Thọ viết về cuộc sống người
Việt tại nước ngoài.
11
7. Cấu trúc của luận văn
Tương ứng với các nhiệm vụ, mục đích đã đề ra, ngoài Mở đầu, Kết
luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm ba chương:
- Chương 1: Văn xuôi Nguyễn Văn Thọ trong bối cảnh văn xuôi Việt
Nam ở hải ngoại đương đại
- Chương 2: Những vấn đề cơ bản về thân phận người Việt xa xứ trong
văn xuôi của Nguyễn Văn Thọ
- Chương 3: Nghệ thuật thể hiện thân phận con người xa xứ trong văn
xuôi của Nguyễn Văn Thọ
12
Chương 1
VĂN XUÔI NGUYỄN VĂN THỌ TRONG BỐI CẢNH
VĂN XUÔI VIỆT NAM Ở HẢI NGOẠI ĐƯƠNG ĐẠI
1.1. Một số vấn đề về văn xuôi Việt Nam ở hải ngoại
1.1.1. Khái niệm văn học Việt Nam hải ngoại
Hiện nay, tồn tại song song với nền văn học "quốc nội", có một bộ
phận văn học được viết bằng tiếng mẹ đẻ do người Việt đang sinh sống và
làm việc ở ngoài nước, bộ phận văn học đó có danh xưng là văn học Việt
Nam hải ngoại. Vậy nguyên nhân vì sao lại có một bộ phận văn học nằm
ngoài đất nước, và nó được hình thành từ bao giờ?
Trong lịch sử dân tộc ta, đã có nhiều đợt di dân ra ngoài biên giới quốc
gia và nguyên nhân chủ yếu là do tỵ nạn chính trị. Vào thời nhà Trần, năm
Bởi đó là bộ phận văn học của chính những người miền Nam lưu vong chính
trị tại hải ngoại; và khi ra nước ngoài họ vẫn còn giữ phong cách như thời còn
ở quốc nội. Đặc điểm đặc trưng của văn học lưu vong là tính đối kháng chính
trị với chính quyền trong nước.
Cũng có người cho rằng, đây là văn học di dân vì tính chất địa lí nơi nó
hình thành. Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc, di dân là "sự di chuyển dân
cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập
một nơi cư trú mới trong một không gian thời gian nhất định." [50]. Gọi văn
học của những người Việt ở nước ngoài là "văn học di dân" cũng có phần
thoả đáng, bởi nó mang đến một nhận thức khá nhẹ nhàng, bớt phần kì thị,
"nghiêm trọng hoá". Văn học di dân nhấn mạnh đến lòng hoài niệm quê
hương và cảm thức lưu lạc. Dòng văn học này ít mang tính chính trị, nó thuộc
14
về các thế hệ nhà văn xuất ngoại theo con đường du học hoặc xuất khẩu lao
động ở lại.
Vì sao bây giờ người ta không gọi bộ phận văn học của người Việt sinh
sống ở nước ngoài sáng tác là "văn học lưu vong" hay "văn học di dân" nữa?
"Văn học di dân" là một khái niệm vay mượn. Theo Đào Trung Đạo
trong bài viết Nhà / quê nhà trong văn chương vô xứ Việt Nam, văn học di
dân là dùng để "chỉ một mảng văn chương xuất hiện ở Âu-Mỹ từ trên 100
năm nay, có thể nói đã khởi đầu với Josept Conrad, tiếp theo là những tên tuổi
lớn như James Joyce, Thomas Mann, Samuel Beckett, Vladimir Nabokov,
Jorge Luis Borges, Gabriel Garcia Marquez…"[18].
Bản chất của từ di dân lại bao hàm một ý nghĩa rộng lớn. Di dân, tức là
"sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ
khác, nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một không gian thời gian nhất
định." [50]. Nhưng có những cuộc di dân không ra ngoài phạm vi của một
quốc gia, mà chỉ ở những vùng miền trong một dân tộc. Vậy bộ phận văn học
của những người di dân trong nước sẽ gọi là gì?
Vả lại, khái niệm văn học di dân chấp nhận cả văn học dòng chính và
dùng để gọi một bộ phận văn học của người Việt sinh sống ở nước ngoài.
Ngoài ra, nó còn hàm ý: giới hạn thể tài, chỉ xét các tác phẩm viết bằng tiếng
Việt và xa gần có liên quan đến người Việt, đất nước Việt Nam. [72].
Như đã nói, ban đầu văn học Việt Nam hải ngoại được gọi là văn học
lưu vong. Đến năm 1987, Đỗ Quý Toàn đã đề nghị dùng thuật ngữ "văn học
hải ngoại". Tháng 7 năm 1988, Bùi Vĩnh Phúc trên tạp chí Văn học số 30 đã
có một bài phân tích khá kĩ và đề xuất nên dùng cụm từ "văn chương ngoài
nước" vì theo ông hai chữ Hán Việt "hải ngoại" không sát nghĩa bằng hai chữ
16
thuần Việt "ngoài nước". Nếu dùng từ Hán Việt phải dùng chữ "quốc ngoại".
Nhưng dùng chữ ngoài nước lại có âm vang, gần gũi với đất nước và người
Việt hơn. Vả lại khái niệm văn chương ngoài nước "ở mặt này hay mặt khác,
vẫn có những điểm gắn bó xương thịt, xa gần với đất nước, quê hương, với
những thao thức của cả một dân tộc. Ngoài nhưng vẫn trong là thế." [66].
Thụy Khuê, trong bài viết Hai mươi nhăm năm văn học Việt Nam hải
ngoại 1975 - 2000, luận giải: "chữ nước trong danh từ đất nước của chúng ta,
có hàm nghĩa nước là thủy, như nước sông, nước biển, mà chữ quốc của
người Trung Hoa không có. Và có lẽ ít ngôn ngữ nào trên thế giới diễn tả
được hình ảnh đất nước với hai yếu tố xương thịt cơ bản tác thành nên nó: đất
và nước như tiếng Việt. Nếu không có đất và không có nước thì không có sự
sống, không có vật và người. […]. Ngoài ra nước biển còn có liên hệ tử sinh
với người vượt biển, thành phần chủ chốt của văn học Việt Nam hải ngoại.
Vậy nước trong chữ hải (biển) cũng là thành tố của đất nước. Và hải ngoại chỉ
là một cách nói khác, để chỉ những gì ngoài đất nước. Do đó hải ngoại và
ngoài nước là những từ tương đương." [43].
Theo Nguyễn Mộng Giác nếu gọi bộ phận văn học này là "văn chương
lưu vong" thì đã nhấn mạnh được chủ đề phản kháng chính trị nhưng lại bỏ
qua tâm tình quen thuộc của các lớp người di dân; còn ngược lại nếu gọi bộ
phận văn học đó là "văn chương di dân" thì chỉ nhấn mạnh được khía cạnh
lòng hoài niệm quê hương và cảm thức lưu lạc mà lại gạt bỏ cốt lõi quan
ở hải ngoại không nhắm tới khối độc giả bản xứ, nghĩa là ngay từ đầu không
có ý muốn hội nhập." [24].
Thứ ba, những nhà văn hải ngoại, viết bằng tiếng Việt hoặc tiếng bản
xứ, nhưng viết về người bản xứ nơi họ sống, không có mối liên hệ gì về con
18
người Việt Nam dù là bản thân người viết, thì không được coi là văn học Việt
Nam hải ngoại.
1.1.2. Nhìn chung về văn xuôi Việt Nam ở hải ngoại
Văn học Việt Nam ở hải ngoại tình từ thời điểm năm 1975 đến nay đã
trải qua một chặng đường khá dài. Nó đã tạo nên một diện mạo rõ nét với
nhiều thể loại đặc trưng. Trong đó, văn xuôi đã có mặt từ những ngày đầu gắn
liền với các nhà văn miền Nam di tản như Võ Phiến, Lê Tất Điều, Thanh
Nam. Tuy nhiên, giai đoạn này văn xuôi nói chung còn hạn chế về số lượng
cũng như chất lượng. Tâm thế nhà văn và những điều kiện cần thiết khác còn
chưa bảo đảm để hình thành một dòng văn học Việt Nam ở hải ngoại phát
triển. Những ngày đầu, hầu hết cách nhà văn đang còn trong tâm trạng rất
hoảng hốt, lo âu của "những kẻ đào tẩu". Rời khỏi tổ quốc họ phải đối diện
với một cú sốc văn hóa khá nặng nề. Cuộc sống mưu sinh hằng ngày hầu như
chiếm trọn tâm trí cho nên không mấy ai quan tâm đến văn học. Ý nghĩ viết
lại, sống bằng nghề văn quả rất hiếm. Ngay đến cả những nhà văn từng nổi
tiếng trong nước như Võ Phiến cũng không giám nghĩ đến một sự nghiệp văn
chương cho mình về sau. Trong Thư gửi bạn, ông tâm sự "từ ngày bỏ nước ra
đi, tôi đâu còn nghĩ đến chuyện nghệ thuật văn chương nữa". Võ Phiến nêu
được một nguyên nhân quan trọng: "ai lại nghĩ xây dựng một sự nghiệp văn
nghệ trong vòng vài trăm ngàn người, tản mát khăp mặt địa cầu, mỗi ngày
một xa lạc ngôn ngữ dân tộc, xa rời cuộc sống dân tộc”. Với ông, viết văn chỉ
để thỏa mãn một "nhu cầu lẩm cẩm." [67].
Không có độc giả, đội ngũ nhà văn mất niềm tin vào tương lai nghề
nghiệp, chính vì vậy văn học Việt Nam hải ngoại rơi vào tình trạng chết lịm
trong mấy năm đầu. Các tác phẩm bằng văn xuôi rất ít ỏi. Chủ yếu là sáng tác
20
nhà thơ vượt biên lần này ít nhiều đã trải nghiệm được cuộc sống trong nước,
trong các trại cải tạo sau biến cố tháng tư, đồng thời với quá trình vượt biên
đầy kinh hoàng trên biển, cuộc đời họ đã có sẵn biết bao chuyện để viết chẳng
cần thêm thắt, tô vẽ. Đó là nguồn đề tài lớn để họ nhanh chóng đến với văn
học. Với họ viết "là một cách giải tỏa những uất ức, những hậm hực, những
dồn nén trong tâm hồn." [68]. Vì vậy, vừa định cư xong là họ bắt tay vào công
việc sáng tác, thậm chí có nhiều tác phẩm được khởi thảo ngay trong các trại
tị nạn như Đại học máu của Hà Thúc Sinh, Đáy Địa Ngục của Tạ Tỵ, tập
truyện ngắn Ngựa nản chân bon, Xuôi dòng, tập 1 bộ trường thiên tiểu thuyết
Mùa biển động của Nguyễn Mộng Giác. Về phía độc giả, cộng đồng người
Việt tị nạn ở nước ngoài tính đến thời điểm giữa năm 1982, theo thống kê của
Cao Ủy Tị Nạn Liên Hợp Quốc, lên 900.000 người. Đó là con số đáng kể góp
phần thúc đẩy không nhỏ cho sự phát triển của văn học Việt Nam hải ngoại.
Kèm theo đó là sự xuất hiện có tính tất yếu của nhiều tờ báo, tạp chí, trong đó
có những tờ chuyên về văn học. Sự phát triển, ứng dụng rộng rãi internet đã
góp phần quan trọng thu hẹp khoảng cách không gian, thời gian giữa tác
phẩm và bạn đọc, cả hải ngoại lẫn quốc nội… Những điều kiện đó khiến cho
văn học hải ngoại có được những thành tựu đáng chú ý. Các thể loại văn xuôi
phát triển mạnh. Xuất hiện những tác phẩm dài hơi, như Anh hùng Lĩnh Nam,
Cẩm khê di hận, Anh hùng Tiêu sơn của Trần Đại Sỹ, Người đi trên mây của
Nguyễn Xuân Hoàng, Giấc mơ của Nguyên Sa… Đặc biệt là bộ trường thiên
tiểu thuyết Mùa biển động năm tập gồm 1860 trang của Nguyễn mộng Giác.
Đây được xem bộ sách hoàn chỉnh nhất của văn học Việt Nam trong nhiều
thập niên qua. Tuy nhiên, thể loại được xem là phát triển nhất giai đoạn này
phải kể đến hồi ký và truyện ngắn. Hồi kí của lớp người vượt biên là những kí
ức đau buồn về những gì họ chịu đựng trong trại cải tạo khi còn ở Việt Nam,
hoặc những chuyến vượt biển kinh hoàng khi đối diện với tử thần. Một số tác
21
phẩm tiêu biểu như Tháng ba gãy súng (Cao Xuân Huy), Ngày N+ (Hoàng
trong văn chương. Hòa hợp, tức là xóa bỏ hận thù, bước qua rào cản, ranh
giới quốc - cộng để cùng nhau xây dựng một nền văn học đổi mới toàn diện.
Họa sĩ, nhà văn Khánh Trường là một trong những người đi tiên phong. Ông
sáng lập ra tòa báo Hợp lưu. Trong số báo ra ngày 01 tháng 10 năm 1991,
Khánh Trường xác định "Hợp lưu sẽ là diễn đàn phổ biến tất cả các tác phẩm
của anh em văn nghệ sĩ trong và ngoài nước, những tác phẩm nói lên khát
vọng chung của dân tộc… cũng như phô diễn được cái hay cái đẹp của ngôn
ngữ Việt." [39]. Đến Hợp Lưu số 65 tháng 6&7 năm 2002 ông một lần nữa
khẳng định: "Với chủ trương đã được đề ra từ đầu, Hợp Lưu là sân chơi tự do,
tuyệt đối tự do. Hợp Lưu không úy kỵ hay tự đóng khung trong bất cứ trường
phái, quan niệm (chính trị, văn học, nghệ thuật) nào. Chỉ một điều duy nhất
Hợp Lưu cố gắng duy trì và triển khai, đó là giá trị thực sự của các sáng tác.
Một tác phẩm hay, dù được viết bởi một văn nô của Bắc bộ phủ hay của một
nhà văn quốc gia tỵ nạn cộng sản Hợp Lưu đều xem như nhau, nghĩa là Hợp
Lưu sẽ rất trang trọng đăng tải, dù thừa biết sẽ bị chụp mũ, xuyên tạc từ hai
phía đối nghịch (như đã nhiều lần từng xảy ra)." [43]. (Tuy chủ trương của
Khánh Trường khá tiến bộ nhưng bản thân ông vẫn còn có thái độ kỳ đến bất
nhã với những nhà văn cách mạng trong nước). Sau đó 1 năm, vào tháng
6/1992, nhóm Trân Sa, Tư Đồ Tuệ, Hà Trọng Vũ ở Toronto, Canada, xuất bản
tạp chí Trăm Con. Trên tinh thần đó, có nhiều nhà văn bắt đầu tính chuyện
"hợp lưu". Chẳng hạn như tập truyện ngắn Quê nhà, quê người (1994) của
Nhật Tiến in chung với Nguyễn Nhật Tuấn.
Từ năm 1995 đến nay, có thể coi là quãng giao ban giữa các thế hệ cầm
bút cũ và mới. Văn học Việt Nam hải ngoại tuy không đạt được những thành
23
tựu lớn như ở giai đoạn thứ ba nhưng lại có nhiều cây bút mới xuất hiện. Thế
hệ nhà văn sau này thường ít quan tâm đến vấn đề chính trị, họ cũng không có
nhiều kí ức quê nhà như các thế hệ cha anh. Vì thế đề tài họ quan tâm là vấn
đề hội nhập ngay tại đất nước họ sinh sống. Đó là những cây bút Trần Vũ,
Mai Ninh, Thuận, Thế Dũng, Lê Minh Hà, Đoàn Minh Phượng, Hoàng Ngọc
ký, chủ bút của tờ Đất mới). Nguyễn Hưng Quốc xem ông là người "giữ lửa
trong một thời kỳ băng giá" của văn học Việt Nam hải ngoại. Lê Tất Điều giai
đoạn này nổi tiếng không phải lĩnh vực văn xuôi mà là thơ. Tập thơ Cao Tần
đã làm rung động rất nhiều con tim Việt Nam tại hải ngoại vì nói lên được
tâm sự lưu vong của họ lúc đó. Tất nhiên, trong số ba nhân vật này, Võ Phiến
được xem như "cây đa, cây đề". Trước khi di tản, ông vốn đã nổi tiếng.
Những sáng tác trước đây của Võ Phiến được in lại. Người Việt hải ngoại lúc
đó xem tác phẩm của ông "như manh áo rách cuối cùng còn lại trên thân sau
cuộc đổi đời, như bữa cơm đầu sau những ngày đói khát trên biển." [47].
Những ngày đầu ông bắt tay viết Thư gửi bạn (1976), Ly Hương (1977), Lại
thư gửi bạn (1979) và Nguyên Vẹn (1978).
Tháng 11 năm 1982, Nguyễn Mộng Giác đã định cư tại Nam
California, nước Mỹ, sau vài ba năm phong trào vượt biên diễn ra rầm rồ. Sự
xuất hiện của Nguyễn Mộng Giác và nhiều nhà văn vượt biên từ miền Nam
Việt Nam đã khuấy động thực sự phong trào văn học hải ngoại. Lớp vượt biên
lần này khác với đợt di tản lần đầu. Nguyễn Mộng Giác phát biểu: "Cuộc vượt
biển vĩ đại và bi thương chưa từng có trong lịch sử Việt Nam phơi bày cho thế
giới thấy thực chất của chế độ đang cầm quyền ở Việt Nam. Cuộc di tản năm
l975, lâu nay vẫn bị xem như một cuộc tháo chạy thoát thân, với nhiều mặc
cảm nặng nề tiếp theo nhờ vụ vượt biển từ 1979 trở đi, trở thành một cuộc đi
25