YẾU TỐ KÌ ẢO TRONG TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG
Hoàng Mai Hương
1Suốt một đời văn cần mẫn, bền bỉ và đầy sáng tạo, Ma Văn Kháng đã
khẳng định tên tuổi như một trong những cây bút tiêu biểu của nền văn xuôi
hiện đại Việt Nam. Những năm đầu của thế kỉ XXI, Ma Văn Kháng vẫn tiếp
tục cầm bút, say mê viết và cống hiến. Nhìn lại những sáng tác của tác giả
trong giai đoạn này, không thể không chú ý đến yếu tố kì ảo, một trong
những yếu tố góp phần làm nên đặc sắc nghệ thuật tự sự tiểu thuyết Ma Văn
Kháng. Được coi là một phạm trù thẩm mĩ trong văn học, cái kì ảo được sử
dụng như một phương tiện quan trọng giúp nhà văn tiếp cận toàn bộ tính
hiện thực nhiều tầng bậc của cuộc sống. Yếu tố kì ảo hiện diện trong tiểu
thuyết Ma Văn Kháng ở nhiều cấp độ khác nhau: Kết cấu không gian, thời
gian nghệ thuật, nhân vật, cốt truyện.
1. Mở đầu
Cái kì ảo là một phạm trù thẩm mỹ trong văn học. Cùng với “cái thực”, “cái kì ảo” trở
thành một trong những phương tiện nhà văn sử dụng một cách tự giác, có ý thức trong quá trình
tiếp cận, chiếm lĩnh, phản ánh và lý giải hiện thực. Hiện thực cuộc sống vốn nhiều tầng bậc.
Bản chất của sự vật, hiện tượng không đồng nhất với biểu hiện bề mặt. Bằng việc sử dụng, kết
hợp “cái thực” và “cái kì ảo” nhà văn tạo ra khả năng tiếp cận một cách chân xác, đầy đủ nhất
toàn bộ tính hiện thực nhiều tầng bậc của cuộc sống.
Thực trạng đời sống xã hội và đời sống văn học Việt Nam những năm sau 1975 là mảnh
đất màu mỡ cho yếu tố kì ảo nảy nở, phát triển. Điều đó thể hiện rõ qua những sáng tác của
một loạt những cây bút văn xuôi tiêu biểu thời kì này như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị
Hoài, Tạ Duy Anh, Võ Thị Hảo
Với trường hợp Ma Văn Kháng, yếu tố kì ảo đã xuất hiện dưới nhiều biểu hiện phong
phú, tham gia vào hầu hết các khâu quan trọng trong quá trình xây dựng tiểu thuyết của nhà
văn, trong đó có thể đến không gian nghệ thuật - thời gian nghệ thuật, nhân vật, cốt truyện.
trước sự đổi thay như vũ bão của thời đại và sự va đập tất yếu với những luồng văn hóa, tư
tưởng ngoại nhập đã không còn giữ được địa vị độc tôn, tính duy nhất đúng. Những giá trị và
xác tín, những hiện thực tất yếu của thời đại đã qua khiến người ta hoài nghi. Đâu là “cái
thực”, đâu là chân lý thật sự? Thế giới hiện lên không còn hiển nhiên như nó vốn có, khó có
thể phân biệt rạch ròi ta - địch, bạn - thù, yêu - ghét, đúng - sai… Sự hoang mang, mất
phương hướng, thậm chí là đổ vỡ niềm tin trở thành một mẫu số tâm lý chung. Mặt khác, xã
hội càng tiến nhanh về phía hiện đại, con người càng trở nên cô đơn. Họ quay trở về với đời
sống tâm linh, tìm cho mình một điểm tựa tinh thần, niềm tin trong tôn giáo, trong những siêu
hình, kì ảo…
Tính phức tạp của đời sống xã hội và đời sống văn học thời kì này chính là những tiền
đề quan trọng cho sự bùng nổ của yếu tố kì ảo trong văn học, thứ phương tiện đặc biệt hữu
dụng trong mô tả những hiện thực phong phú, đa chiều. Hơn bao giờ hết, nhà văn thời kì này
càng ý thức sâu sắc hơn tầm quan trọng của cái kì ảo trong chiếm lĩnh, miêu tả hiện thực.
2.1. Yếu tố kì ảo trong kết cấu không gian - thời gian nghệ thuật
Không gian và thời gian là những phạm trù triết học chỉ sự tồn tại của thế giới vật chất.
Không có sự vật, hiện tượng nào tồn tại bên ngoài không gian và thời gian. Sự tồn tại của
chúng trong tác phẩm văn học cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Mỗi nhân vật, tình huống,
sự kiện, chi tiết văn học đều được đặt trên nền một khoảng không gian và thời gian xác định.
Tuy nhiên, không gian và thời gian được xác định trong tác phẩm văn học không đơn thuần là
một đại lượng vật lý, một phạm trù triết học, mà còn là một đơn vị quan trọng trong chỉnh thể
nghệ thuật tác phẩm. Nó trở thành một phương tiện giúp thể hiện tư tưởng, chủ đề của nhà
văn.
Trong Một mình một ngựa, Gặp gỡ ở La Pan Tẩn, Bóng đêm, người đọc nhiều lần bắt
gặp những bối cảnh không gian - thời gian mang đậm màu sắc kì ảo.
Gặp gỡ ở La Pan Tẩn là câu chuyện cảm động về cuộc đời nhiều thăng trầm của thầy
giáo Thiêm. Câu chuyện gắn liền với vùng đất người Mèo, với Bãi Đá, với La Pan Tẩn. Đó là
nơi Thiêm đã sống những năm tháng tuổi trẻ đẹp đẽ, với khát vọng lập thân, với giấc mơ
mười năm xây dựng “tòa lâu đài văn hóa”. Là nơi anh gặp và yêu Seo Mùa, tình yêu đẹp đẽ
mà nhiều ngang trái. Nơi ghi khắc những thành quả, những chiến công, cũng là nơi ngậm
ngùi những oan ức cay đắng đời Thiêm. Vùng đất Mèo đã trở thành phông nền chung, là bối
“ngõ hoang” hun hút, tăm tối trong tiểu thuyết Bóng đêm chính là một trường hợp như thế!
Lạc vào trong cái ngõ hoang dẫn vào nhà Thuyên, tên tội phạm ghê rợn, phi nhân tính,
kẻ ác độc và nhẫn tâm đến mức không chỉ giết hại mà còn “xả thịt” một con người, hai chiến
sĩ công an Nhâm và Trừng có cảm giác “như đang rơi xuống một cái giếng sâu, đang đi vào
một đường hầm kín mít”. Tối tăm, lạnh lẽo, ghê rợn, cái ngõ hoang ấy có khác chi con đường
dẫn xuống âm ti, địa ngục: “Đây là cái ngõ hoang, là con đường liên thông với cõi giới âm ti
địa ngục; từ ngõ hoang này quỷ sứ mang hình người ngày ngày từ địa phủ đi lên, gia nhập
vào thế giới loài người”.
Tiểu thuyết mang tựa đề Bóng đêm. Bóng đêm ngự trị không chỉ nơi ngõ hoang thông
thiên với địa ngục ấy. Bóng đêm còn là màn tăm tối vô minh. Nơi “xa cách nền văn minh”,
“quãng khuyết sử mênh mông”. “Nơi ngự trị các quy luật rừng rú, vô thường”. Bóng đêm
của sự man rợ, của tội ác. Rõ ràng, “đêm tối” trong tác phẩm này không chỉ đóng vai trò như
bối cảnh không gian - thời gian nghệ thuật mà đã hóa thân thành một biểu tượng nghệ thuật,
một lực lượng vô hình nhưng sống động hiện diện, len lỏi trong từng ngõ ngách. Nó tồn tại
trong thế đối nghịch với ánh sáng, như tội ác đối nghịch với cái thiện, thiên lương. Nó là đối
tượng cần phát hiện, cần thanh trừng và tiêu diệt. Nó hiện lữu, hóa thân sống động trong
những phân thân khác nhau, khi là màn đêm tối khi Nhâm và Trừng rượt bắt tội phạm, khi là
bãi tha ma hoang vắng, lạnh lẽo trong đêm đen nơi xử bắn những tên tử tù… Nhưng có lẽ,
phân thân quan trọng nhất của hình tượng bóng đêm ấy, chính là những tội ác ghê rợn của
những tên tội phạm đã mất hết tính người: Bóng đêm của sự tàn ác, vô lương tâm ẩn khuất
trong chính bản thân con người. Đây là điểm đặc sắc trong việc lựa chọn, tổ chức và sử dụng
linh hoạt không gian - thời gian nghệ thuật của nhà văn.
Sắc thái kì ảo còn xuất hiện trong nhiều bối cảnh không gian - thời gian khác ở ba cuốn
tiểu thuyết, nổi bật là bối cảnh của những lễ nghi mang màu sắc tâm linh, tôn giáo: Đám tang
của ông nội Thiêm, lễ hố pẩu cúng gọi hồn Thiêm khi anh kiệt sức, mê man ở bãi đá (Gặp gỡ
ở La Pan Tẩn), lễ gọi vong hồn người chết và đưa nạn nhân xấu số lên chùa (Bóng đêm)…
La Pan Tẩn là vùng đất còn lưu giữ nguyên vẹn những tập tục cổ xưa, nơi “thờ cúng
sầm uất các loại ma”. Con người nơi đây chữa bệnh, đuổi tà, cầu cúng vụ mùa bội thu hay
làm tang ma… đều thông qua những lễ nghi đậm chất tâm linh, kì bí. Để lại những ấn tượng
mạnh mẽ với người đọc là hình ảnh hố pẩu “như lão kỵ sĩ đang trên mình con tuấn mã phóng
như “chập chờn trong ảo giác hoang mê”, “trong tiếng mõ đều đều buồn tẻ, tiếng kinh tụng
những mật ngữ bí hiểm, giữa tiếng chuông đồng như một dao động nguyên thủy phản hồi lần
lần nới rộng không gian” khiến chính Nhâm “cũng rơi vào trạng thái mê mị, mịt mù”.
Có thể nói, yếu tố kì ảo trong việc lựa chọn, xây dựng không gian - thời gian nghệ thuật
đã hỗ trợ đắc lực trong việc mô tả thế giới như một thực thể phức diện, đa chiều. Cùng với sự
xuất hiện của yếu tố kì ảo, đọc tiểu thuyết Ma Văn Kháng, người ta thấy hiện lên sống động
và phong phú những mảng màu bí ẩn của đời sống tâm linh, huyền diệu vẫn đang song hành
cùng thế giới con người, thấy nổi lên những góc cạnh khuất lấp của một cuộc sống còn nhiều
“bóng đêm”, với cái xấu, cái ác vẫn đang thường trực khắp nơi rình rập đe dọa. Một quan
niệm mới về hiện thực đã được biểu hiện sống động ngay từ cách kết cấu không, thời gian.
2.2. Yếu tố kì ảo trong xây dựng nhân vật
Yếu tố kì ảo trong xây dựng nhân vật ở tiểu thuyết Ma Văn Kháng giai đoạn này trước
hết thể hiện qua nhóm nhân vật có liên quan trực tiếp đến đời sống tâm linh. Đó thường là
những người có năng lực đặc biệt, có khả năng giao tiếp với thế giới siêu hình, huyền bí. Cô
đồng Hồng (Một mình một ngựa), cô đồng Thúy (Gặp gỡ ở La Pan Tẩn), người gọi hồn
(Bóng đêm)… chính là cầu nối giữa hai thế giới, là thực thể mà ở đó người sống và người
chết, thế giới vô hình và hữu hình thông linh với nhau. Sự tồn tại của họ là bằng chứng cho
sự xác tín về một thế giới bí ẩn, huyền diệu nằm ngoài hiểu biết của con người.
Cũng được coi như là nhân vật thông linh, nối liền hai thế giới, nhưng khác với các cô
đồng, thầy gọi hồn - những nhân vật chỉ đơn thuần giữ chức năng lễ nghi, thực thi những nghi
lễ tâm linh - nhân vật hố pẩu trong Gặp gỡ ở La Pan Tẩn còn được khắc họa như biểu tượng
đẹp đẽ của giá trị tinh thần của con người và miền đất nơi đây. Ở nhân vật này có sự hòa trộn
giữa một vốn sống thực tiễn phong phú, với những niềm tin xác tin về sự màu nhiệm của thế
giới tâm linh bí ẩn. Ông đại diện cho những giá trị tinh thần đẹp đẽ trong truyền thống, trong
vốn văn hóa và tín ngưỡng dân gian bản địa. Ông đối diện và đón nhận những biến chuyển,
đổi thay của thời đại với một cái nhìn cởi mở nhưng thấu thị, điềm tĩnh. Con người ấy bình
tĩnh, an nhiên để tỉnh táo để nhận ra những hạn chế, sai lầm của một giai đoạn lịch sử nhiều
thăng trầm, biến động.
Yếu tố kì ảo cũng được Ma Văn Kháng sử dụng trong việc khắc họa nhóm những nhân
vật lý tưởng, mang tính biểu tượng. Ngoài hình tượng hố pẩu, ông nội Thiêm (Gặp gỡ ở La
lái xe Ford chia sẻ, tri ân với những nỗ lực và thành quả lớn lao mà Thiêm đã gây dựng ở
vùng đất La Pan Tẩn, động viên, cổ vũ anh; ông nội luôn hiện về như một nguồn cổ vũ, động
lực tinh thần giúp Thiêm đứng vững trong cuộc sống, ông cũng là người trong giấc mơ, với
phép lạ của mình chữa lành những vết thương cho Thiêm - cả vết thương thể xác và những
chấn thương tinh thần.
Không chỉ vậy, Những giấc mơ đến với Thiêm còn ẩn chứa yếu tố dự báo, tiên tri.
Người lái xe Ford trong đêm mưa đá kì lạ trăm năm chưa từng thấy ở vùng đá Mèo La Pan
Tẩn đã dự báo trước về “cảnh biến” sắp diễn ra. Một lần nữa sự huyền nhiệm, khó nắm bắt
của cuộc sống lại được nhấn mạnh. Cuộc sống là những định đề đã sắp sẵn dưới bàn tay một
thế lực vô hình.
Cùng với sự phát triển của khoa học, đã có nhiều công trình nghiên cứu về các giấc mơ:
nguồn gốc, nguyên nhân, cơ chế hình thành. Theo đó, có thể thấy giấc mơ là một hoạt động
đặc biệt của não bộ. Khi xem xét lý giải giấc mơ, Freud đặc biệt quan tâm đến những ẩn ức
tình dục bị đè nén trong bề sâu tiềm thức, vốn chịu sự chế ngự của quy chuẩn đạo đức xã hội
hoặc những kiềm chế do hoàn cảnh cá nhân. Ông cho rằng giấc mơ chính là một hình thức
giải phóng những ẩn ức bị đè nén ấy. Xét trên một phương diện nào đó, lý thuyết của Freud
có thể áp dụng để lý giải sự xuất hiện của giấc mơ tình ái đậm màu sắc nhục cảm của
Thiêm:“Giấc mộng mơ vừa xảy ra chính là cái ước ao sở cầu bị dồn nén được đột ngột phô
bày bằng chuỗi biểu tượng trá hình qua một dãy xuyên tạc ngọt ngào. Ngọt ngào quá là
mộng mơ, ôi, nỗi ham muốn thầm kín mãnh liệt ở ngoài mọi chế ngự và trói buộc của
Thiêm”.
Giấc mơ là sự giải phóng của bản năng bị kìm nén, là sự hoạt động và thăng hoa của
vùng vô thức dưới tầng sâu bản ngã con người. Chính vì vậy, dù “ngẩn ngơ”, “không hiểu
sao trong sự kiện này, hình ảnh tạo lập được lại giống như một sản phẩm hư cấu dị thường,
một kết hợp đầu Ngô mình Sở giữa những tình tiết đã trải nghiệm và những sự việc chưa hề
xảy ra. Nghĩa là hết sức chắp vá, tùy tiện, chúng hoàn toàn không có cái trật tự thông
thường”, Thiêm cũng phải thừa nhận giấc mơ ấy “hợp với tâm cảm và thú vị vô cùng”.
Nghĩa là, giấc mơ kia là huyễn hoặc, huyền ảo và hoàn toàn không có thật, nhưng lại đã
diễn tả trọn vẹn những khao khát bản năng bị kìm giữ trong nội tâm sâu kín nhân vật. Cái kì
ảo phát huy sức mạnh trong việc khám phá, mô tả những ẩn ức sâu kín và đời sống tinh thần
biến cốt truyện ở tác phẩm này có quan hệ chặt chẽ đến quá trình giải quyết vụ án, từng bước
tiến trong quá trình điều tra. Đáng nói ở chỗ, thúc đẩy bước việc tìm ra manh mối, giải quyết vụ
án, ngoài nghiệp vụ chuyên môn, vốn kinh nghiệm, Ma Văn Kháng đặc biệt nhấn mạnh đến sự
tham gia mách bảo của những cảm giác, trực giác, linh giác. Chúng có ý nghĩa quan trọng trong
tiến trình diễn biến cốt truyện.
Ngay lần đầu tiên đặt chân tới cái ngõ hoang dẫn vào nhà Thuyên, bóng đêm mù mịt
khiến Nhâm và Trừng “vừa kinh sợ vừa linh cảm thấy có cái gì đó rất đáng ngờ”. Linh cảm
cũng theo suốt quá trình hai chiến sĩ phá vụ án đó, cũng như hầu hết các vụ án mà ông Tầm
kể lại trong tập hồi kí của mình. Không dưới năm lần trong tác phẩm, Ma Văn Kháng để cho
các nhân vật của mình trực tiếp phát biểu, hoặc ngẫm nghĩ, chiêm nghiệm về sự kì lạ và vai
trò của những cảm giác, linh giác ấy. Ông Tầm khuyên Nhâm và Trừng “Rất nên coi trọng
cảm giác, linh giác”, “Tôi vẫn muốn nhấn mạnh một lần nữa, chúng ta làm công việc này
phải bằng tất cả sức mạnh tinh thần, kể cả sức mạnh tâm linh có sẵn ở trong mình và tiếp
nhận từ bên ngoài”.
Nhưng linh cảm ấy không hoàn toàn là phi thường, siêu nhiên, không thể giải thích, mà
là kết quả của vốn sống, vốn kinh nghiệm tích lũy:“Tổng số kinh nghiệm thu được, tập trung
lại ở nơi gọi là tàng thức, và chính đây là nơi góp phần tạo ra linh cảm, linh giác, sức mạnh
bí ẩn của con người”.
Cái kì ảo hiện hình trong cốt truyện, đôi khi còn dưới dạng thức những chi tiết nghệ
thuật đậm chất kì ảo: Đó là bánh xe sắt chiếc xe Ford mà Thiêm đã theo một sự điều khiển
của một sức mạnh siêu nhiên nào đó phát hiện thấy và mang về La Pan Tẩn; nó trở thành cái
kẻng khai tâm vỡ lòng, trở thành linh vật của dân làng, quân phỉ phản loạn sau này cũng
không thể, không dám phá hủy. Đó là câu chuyện vua Mèo làm mất chữ mà ông chủ tịch xã
kể cho đám trẻ trong buổi tiễn chúng đi học. Câu chuyện kì ảo, hoang đường nhưng lại gần
gũi và cảm động bởi chứa đựng trọn vẹn cả niềm kiêu hãnh tự hào truyền thống văn hóa; nỗi
ngậm ngùi về thua kém, lạc hậu, thất học và khao khát đổi thay; sự khích lệ, niềm hi vọng gửi
gắm vào những đứa trẻ rồi đây sẽ gánh vác vận mệnh tương lai của bản làng.
3. Kết luận
Tóm lại, yếu tố kì ảo biểu hiện sinh động ở mọi cấp độ nghệ thuật trong tiểu thuyết Ma
Văn Kháng, từ không gian - thời gian nghệ thuật, nhân vật đến tình tiết, cốt truyện. Chúng