Yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn Gabriel Garcia Marquez - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thành Trung YẾU TỐ KỲ ẢO TRONG
TRUYỆN NGẮN
GABRIEL GARCIA MARQUEZ

Chuyên ngành : Văn học nước ngoài
Mã số : 60 22 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐÀO NGỌC CHƯƠNG Thành phố Hồ Chí Minh - 2010
THƯ
VIỆN

LỜI CẢM ƠN


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn học Mỹ Latin là nền văn học của các quốc gia, vùng lãnh thổ Trung, Nam châu Mỹ và
Caribbe chủ yếu viết bằng tiếng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và ngôn ngữ bản địa, gồm ba giai đoạn: cổ
đại, cận đại và hiện đại. Nền văn học cổ đại bản địa hình thành từ hàng ngàn năm trước, đây chủ yếu là
những sáng tác dân gian truyền miệng. Nền văn học này bị vùi l
ấp bởi cuộc xâm lược phương Tây;
một thể chế chính trị cũng như văn chương ban đầu thuần túy châu Âu ra đời. Về sau nền văn chương
ấy giao thoa với khuynh hướng dân tộc bản địa làm nên đặc trưng của nền văn học cận đại. Văn học
hiện đại bắt đầu phát triển mạnh vào thế kỷ XX và đạt được sự bùng nổ mang tầm vóc thế
giới bằng 05
giải Nobel cho các tác giả Gabriela Mistral (1945), Miguel Angel Asturias (1967), Gabriel Garcia
Marquez (1982), Pablo Neruda (1971) và Octavio Paz (1990). Giai đoạn này, văn học Mỹ Latin nổi
tiếng với Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo (magical realism)- một trào lưu có nhiều đóng góp cho văn học
thế giới.
Văn học hiện đại Mỹ Latin chứng kiến những thành tựu to lớn, trong đó có sự phát triển vượt bậc của
thể loại truyện ngắn,
đặc biệt là mảng truyện ngắn kỳ ảo. Dòng truyện ngắn này kết hợp với truyện
ngắn tâm lý tạo nên trào lưu biểu hiện trong văn học Mỹ Latin hiện đại. Các tác giả dường như lý giải
lịch sử và thế giới bằng những yếu tố phi thực. Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo ra đời như một phản ứng,
một khám phá là vì thế. Truy
ện ngắn hiện thực huyền ảo được khơi nguồn từ Borges và phát triển với
tên tuổi của Gabriel Garcia Marquez.
Bản thân Marquez rất coi trọng truyện ngắn. Ông từng phát biểu [50,354]:
Tôi nghĩ rằng truyện ngắn và tiểu thuyết không chỉ là hai thể loại văn học khác nhau mà còn là
hai tổ chức có bản chất khác nhau nếu hiểu lẫn lộn sẽ đưa đến hậu quả tai hại. Ngày nay, tôi vẫn
tiếp t
ục tin như vậy và lại càng tin chắc hơn bao giờ hết rằng truyện ngắn có vị thế hơn hẳn tiểu
thuyết.
Vì lẽ đó, tìm hiểu mảng truyện ngắn của ông cũng quan trọng không kém gì, nếu không nói là hơn, tiểu

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Về ấn phẩm
Đối tượng chúng tôi xác định là truyện ngắn của Marquez. Theo phát biểu của Marquez trước đây
[50,604] thì ông có 38 truyện ngắn, tuy nhiên theo khảo sát của chúng tôi (bảng 1 và 2) thì ông có
không dưới 40 truyện ngắn. Sử dụng tiêu chí yếu tố kỳ ảo, chúng tôi lọc ra được 23 truyện ngắn phù
hợp. Như vậy, về đối tượng chúng tôi khảo sát 23 truyện ngắn kỳ ảo của Marquez.
Về văn bản, trong 23 truyện ngắn này thì 20 truyện ngắn đã có bả
n tiếng Việt, chủ yếu là do
Nguyễn Trung Đức dịch. Chúng tôi sử dụng bản Gabriel Garcia Marquez- Mười hai truyện ngắn
phiêu dạt [52] và Gabriel Garcia Marquez- truyện ngắn tuyển chọn [53] của Nguyễn Trung Đức tuy
nhiên khi cần có những tham khảo và đối chiếu với nguyên bản, chúng tôi sử dụng ba văn bản: Ojos de
perro azul [78], Todos los cuentos 1947-1972 [79] và Doce cuentos Peregrinos [80] đồng thời dựa vào
các văn bản này để dịch hai tác phẩm Nỗi cay
đắng của ba người mộng du và Bên kia cái chết. Truyện
ngắn Chết ở Samarra là một ví dụ trích trong quyển tiểu luận Làm sao để viết truyện ngắn của
Marquez xuất bản năm 1955 ở Bogota.
2.2 Về phương diện nghiên cứu
Trước hết chúng tôi tập trung vào khái niệm yếu tố kỳ ảo và mối liên hệ của nó với chủ nghĩa
hiện thực huyền ảo, đặt vào bối cảnh sáng tác và mô hình quan niệm của Marquez.

Thứ đến, chúng tôi tiến hành tìm hiểu hệ thống các phương diện thể hiện yếu tố kỳ ảo trong
truyện ngắn của G.G.Marquez bao gồm loại hình nhân vật, không gian thời gian nghệ thuật, biểu tượng
và cấu trúc truyện ngắn.
Vì thế, chúng tôi thống nhất tên đề tài là “Yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn Gabriel Garcia
Marquez.”
3. Lịch sử vấn đề
Trong phần này, chúng tôi khảo sát một số công trình có liên quan đến đề tài theo hai mảng
chính: cái kỳ ảo và truyện ngắn Marquez.
3.1 Về cái kỳ ảo
Đây là thuật ngữ thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Chúng tôi sẽ làm rõ khái

năng biến đổi từ tinh thần sang vật chất (đó là biến

hóa, quyết định luận), xóa nhòa chủ thể và đối tượng, tạo nên cái nhìn thống hợp. Về mình, hệ thống
này hiện lên với đề tài tính dục và vì thế nó chủ yếu mang tính chất kỳ lạ xã hội chứ không còn siêu
nhiên nữa: loạn luân, tình yêu hơn một đôi, đồng giới, ân ái với xác chết,…
Có thể thấy ý kiến của Todorov đã hạn định yếu tố kỳ ảo khá hẹp, chủ yếu là trong vă
n học cận đại,
chính xác hơn là khi ý thức về cái kỳ ảo đã được định hình và người ta buộc phải chấp nhận yêu cầu
khá kiêu kỳ của cái kỳ ảo đặt ra cho sự tồn tại của mình. Bởi lẽ, cái kỳ ảo sẽ mất đi nếu được giải thích,
có nghĩa là trong khi bản thân đòi hỏi một quyết định luận tự thân thì nó lại từ chối mộ
t quyết định dù
là khiêm tốn nhất từ phía người đọc. Vì vậy, tuy có đề cập đến phương diện ngữ nghĩa của tác phẩm
nhưng Todorov phải đẩy việc giải thích ý nghĩa theo hướng khác đó là hướng chỉ ra hệ đề tài dù rằng
việc này không thể nào che giấu chúng ta rằng đó cũng là một dạng giải thích, tuy có khác biệt là thay
vì xác quyết một ý nghĩa cho từng trường hợp cụ thể ông quy t
ất cả thành một cái khung ta- mình để
bao quát hết các ý nghĩa nhân sinh liên quan đến cá nhân và cộng đồng. Thật ra, điều này cũng không
phải là trở ngại lớn trong việc phân tích truyện ngắn Marquez khi ít nhiều vẫn phải chỉ ra những lớp ý
nghĩa văn hóa xã hội, bởi lẽ, thứ nhất, người đọc đã không tách khỏi tính chất kỳ ảo mà vẫn ở trong đó,
nói chung vẫn duy trì nó. Thứ hai, có thể hiểu ý nghĩ
a đó như một bộ phận trong tổng thể- đó là tổng
thể đa nghĩa nhưng không phải theo kiểu nhiều nghĩa mà nghĩa nào cũng đúng nhưng phải hiểu là một
nghĩa duy nhất đúng nhưng không thể giải thích rốt ráo vì rào cản hạn chế ngôn ngữ cũng như tư duy,
tuy nhiên soi vào lăng kính thì sẽ tạo nên những nét nghĩa gần đúng. Nhờ đó, điề
u này có thể duy trì
cái kỳ ảo.
Trên tinh thần lý giải cái kỳ ảo theo hướng Todorov, John Gerlach trong bài viết The logic of Wings:
Garcia Marquez, Todorov, and the Endless resources of Fantasy [87, 81-90] thông quan phân tích tác
phẩm Cụ già với đôi cánh khổng lồ của Marquez đã chứng minh rằng: “Cái kỳ ảo không nhất thiết
phải gắn chặt với đề tài mà có thể được tạo ra ở bất kỳ thời kỳ nào, độc lập đối với đề tài.” Ông cho

nó được tạo ra nhờ trí tưởng tượng và được biểu hiện bằng các yếu tố siêu nhiên, khác lạ, phi thường,
độc đáo… Nó có m
ặt trong văn học dân gian, văn học viết qua các thời đại. Nó tồn tại trên trục thực-
ảo, và tồn tại độc lập, không hòa tan vào các dạng thức khác của trí tưởng tượng” (tr.16). Ông xem
cái kỳ ảo như một yếu tố nghệ thuật xuất phát từ trí tưởng tượng. Nó như một vết đứt gãy, đảo lộn
trong trần thuật đưa người đọc sang một thế giới khác. Lê Nguyên Cẩn
đã đưa ra 11 đề tài kỳ ảo của
Roger Caillois, sau đó là 23 đề tài kỳ ảo của M.Schneider, chủ yếu tập trung vào các motif và nhân vật;
đồng thời ba nhóm đề tài kỳ ảo của Dan Pavel Sergiu cũng được ông trình bày khá kỹ lưỡng.
Có thể nhận thấy, tác giả Lê Nguyên Cẩn chấp nhận cái kỳ ảo tồn tại từ xa xưa trong bất cứ nền văn
học dân tộc nào dưới những hình thức được phân theo cấp
độ: thần linh, quái dị, ma quỷ, khác lạ, phi
thường, siêu nhiên. Những cấp độ này tùy thuộc vào ý đồ sáng tạo ra sự đa dạng về mặt hình thức đề
tài [Sđd,29]. Yếu tố niềm tin cũng được ông nhắc đến khi thẩm định cái kỳ ảo (điều này đã được
Todorov giải quyết khá rõ). Như vậy, căn cứ trên ý đồ tác giả, Lê Nguyên Cẩn đã không giải thích rõ
sự khác biệ
t về tính chất của cái kỳ ảo trong diễn trình của nó. Ví dụ như độ lệch của vết đứt gãy này
thuần túy là trí tưởng tượng hay có thể ghi nhận sự tham gia của yếu tố niềm tin, đặc biệt trong các nền
văn học cổ xưa; hay vết đứt gãy này là vi phạm với tư duy sáng tác hiện đại vì nó phá vỡ các quy luật
còn chặt chẽ và bất biến. Vậy vai trò của nó với tư duy cổ
đại là phá vỡ hay chính là tác thành quy
luật?... Vì thế, tác giả có khuynh hướng khái quát hóa và đặt trọng tâm ở các đề tài. Rõ ràng, về lý
thuyết, Lê Nguyên Cẩn tạo một độ rộng cho khái niệm cái kỳ ảo và khẳng định nó như sự tưởng tượng
có ý thức sáng tạo nghệ thuật là khá táo bạo, đặc biệt khi chúng ta đem áp dụng cho các tác phẩm thần
thoại cổ xưa, hay Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh. Tuy nhiên, khi ứng dụng, tác giả chủ yếu v
ận

dụng khái niệm cái kỳ ảo như một thành tố nghệ thuật xuất hiện khi được ý thức đầy đủ, điều này hiển
nhiên do quy định của đề tài, đối tượng hướng đến là cái kỳ ảo của Balzac. Cái kỳ ảo này chủ yếu ở
phương diện hình thức, mục tiêu của nó không gì khác hơn là khái quát hiện thực, mà nhiều khi bản

Quan niệm về
cái huyễn ảo
Thái độ
về cái
huyễn ảo
1
Cổ đại-
thế kỷ
XIII
Cái
huyễn
tưởng
(the
mythical)
Thần
thoại,
cổ tích
Khuyết danh
Ma quỷ, siêu
nhiên, thần
bí,… là ta
Không sợ
2
Thế kỷ
XIV-
Cái kỳ ảo
(the
Văn
học kỳ
Shakespeare,

bao quát được các dạng thức mà những nhà nghiên cứu trước đây ít nhiều đề cập đến ở nhiều chừng
mực, mức độ. Việc xác định khung thời gian, đặc điểm và quan niệm là một hướng đi hợp lý nhằm
minh định khái niệm trong lĩnh vực khá mơ hồ là nghiên cứ
u văn chương huyền ảo (hay huyễn ảo). Vì
những điều này, chúng tôi cơ bản thống nhất với ý kiến của nhà nghiên cứu Lê Huy Bắc và khái niệm
chúng tôi triển khai về sau cũng dựa trên khung quy định đã được ông thể hiện. Tuy nhiên, chúng tôi
vẫn giữ lại thuật ngữ cái “kỳ ảo” thay vì cái “huyễn ảo” dù nội hàm và ngoại diên của chúng, trong
luận văn này, là tương đương.
Như vậy, thông qua các công trình này, chúng tôi nhận đượ
c những hệ thống luận điểm và hướng
dẫn quý giá về cái kỳ ảo; từ đó chúng tôi cố gắng vận dụng vào luận văn với ý thức hạn định lại cách
hiểu của mình trong những chiều hướng tương đồng cũng như có phần dị biệt với những khái niệm đã
được đề cập ở trên, cần thiết phải bàn luận kỹ h
ơn về khái niệm này và chúng tôi sẽ dành công việc đó
cho chương 1.
3.2 Về truyện ngắn của Gabriel Garcia Marquez
So sánh với tiểu thuyết, có thể thấy truyện ngắn của Marquez ít được chú ý hơn từ phía các nhà
nghiên cứu. Thông qua khảo sát, chúng tôi chia mối quan tâm đến truyện ngắn của Marquez từ các
công trình, bài viết thành hai mảng là nội dung và nghệ thuật với ý thức là sự phân chia này chỉ mang
tính phương tiện.
Thứ nhất, về mảng nội dung, chúng tôi lưu ý đến công trình của Frances M. Reece Nickeson.
Trong luận văn El budismo y el cuento hispanoamericano tại đại học trung tâm bang Connecticut New
Britain tháng Giêng năm 2007 [83], tác giả đã phân tích các tác ph
ẩm nổi bật nhất của Marquez theo
Phật học, chỉ ra kỹ thuật mảnh vỡ, phát triển tuyến tính được ví với trạng thái Thiền, buông bỏ mọi
vướng mắc để hướng đến tự do. Ông khẳng định: “Có lý do chính đáng để dùng yếu tố kỳ ảo khi thể
hiện cuộc đời và kinh nghiệm về cuộc đời đó, nơi mà con người cảm nhận hai thái cực, cô đơ
n trong
tiến trình của Châu Âu, cô độc trong cuộc sống thuần túy, những vị thần cô đơn của điều thiện, của
khả thể và bất khả”. Sau khi trình bày Trăm năm cô đơn từ khía cạnh từ bi, san sẻ để vượt qua nỗi cô

Đám tang của bà mẹ vĩ đại,… chỉ ra nhiều vấn đề về nhân sinh quan, về thực tế chính trị, về những dấu
ấn của William Faukner trong sáng tác của Marquez.
Ruben Pelayo trong Critical Companion to popular contemporary writers- Gabriel García Marquéz

[105] đã dành phần 5 nói về truyện ngắn Marquez. Ông khảo sát 05 truyện ngắn gồm: Ông lão có đôi
cánh khổng lồ, Đám tang của bà mẹ vĩ đại, Buổi chiều kỳ diệu của Balthazar, Giấc ngủ trưa ngày thứ
ba, Độc thoại của Isabel ngắm mưa ở Macondo. Tác giả đã chỉ ra Ông lão có đôi cánh khổng lồ sáng
tác năm 1968, sau Trăm năm cô đơn, đã có sự chuyển tiế
p khác biệt, hướng vào vấn đề mới hơn so với
hai tập truyện in trước đó là Đôi mắt chó xanh và Đám tang của bà mẹ vĩ đại, tiếp cận với tập truyện
Chuyện buồn không thể tin được của Erendira và người bà bất lương. Đó là khuynh hướng về khai
thác và bóc lột cá nhân, đồng thời hình tượng biển bất tận bắt đầu xuất hiện.

Elodie Morin trong Alteridad y muerte en Ojos de perro azul đã bàn đến sự thay thế tiếp nối- tức các
giấc mơ và cái chết trong tập Đôi mắt chó xanh của Marquez. Tác giả nhấn mạnh sự cô đơn về thể chất
lẫn tinh thần của con người trong nỗ lực xác định bản thể và nỗi sợ hãi khi quá trình phản tư lại tách
bản thân làm hai nửa không thể nào thống hợp, đến được với nhau…
Về nghệ thuậ
t truyện ngắn Marquez, chúng tôi lưu ý đến tác phẩm của Maythawee Holasut.
Trong bài viết The Suspension of Time in Short Stories of Gabriel Garcia Marquez [103] tác giả đã
trình bày kỹ thuật ngưng đọng thời gian, mối quan hệ của nó đối với chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và
phong cách Marquez. Nhờ thủ pháp này mà truyện ngắn Marquez đã cung cấp được một cái nhìn sâu
vào những thay đổi chính trị, lịch sử của khu vực Mỹ Latin thông qua sự kết hợp giữa biến cố
hiện
thực và bối cảnh kỳ ảo, tạo ra một cảm quan kỳ ảo kết nối tâm hồn khu vực này với những niềm tin
vào các thế lực siêu nhiên. Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo thông qua truyện ngắn Marquez đã thể hiện
sức mạnh của mình trong quá trình phản ánh các sự kiện hiện thực như thuộc địa hóa, độc tài quân sự
cũng như ảnh hưởng c
ủa chúng đến lịch sử các đất nước và khu vực. Nghệ thuật đình chỉ thời gian có
thể tạo ra một kiểu thời gian quy hồi,…

n thực huyền ảo và vận dụng vào phân
tích truyện ngắn Chuyện buồn không thể tin được của Erendira ngây thơ và người bà bất lương, qua
đó làm rõ sự áp bức của dạng người thú đối với những con người công cụ như Erendira đáng
thương,…
Với các công trình trong nước bàn về nghệ thuật truyện ngắn Marquez, bài viết của Lê Huy Bắc
Tự sự nhiều điểm nhìn trong “Cụ già với
đôi cánh khổng lồ” [8, 135-153] đã nêu lên được một điểm
quan trọng về xây dựng cấu trúc truyện ngắn- điểm nhìn. Thông qua đó tác giả đã chỉ ra hai lớp điểm
nhìn: điểm nhìn trực tiếp bao gồm các loại: tôn giáo, nhà buôn, nghệ sĩ, võ biền, bè bạn, khoa học và
điểm nhìn gián tiếp gồm dạng độc tài, quan liêu và bạo lực; từ đó khái quát ý nghĩa những góc nhìn
đến quá trình tri nhận tác phẩm và cu
ộc đời.
Bên cạnh đó, bài viết Quan niệm về nghệ thuật kể chuyện của Gabriel Garcia Marquez qua các truyện
ngắn của Võ Thành Thắng [67] cũng đã nêu lên được nhiều vấn đề thú vị trong truyện ngắn của
Marquez như cách kể chuyện bằng các tính từ và thủ pháp lạ hóa, cách nhìn trong sáng của một đứa trẻ
thể hiện qua những so sánh nhất, khẳng định phủ định tuyệt đối, phép so sánh nhân hóa,…
Tóm l
ại, vấn đề yếu tố kỳ ảo và truyện ngắn Marquez bước đầu đã được chú ý. Các công trình và
bài viết đã trình bày nhiều mảng khác nhau của vấn đề, có ở đó những khơi gợi nhưng cũng không ít
những mâu thuẫn, tồn tại song song những cơ hội và thách thức. Ý thức được điều đó, chúng tôi tiếp
thu những ý kiến của các nhà nghiên cứu đi trước với tất c
ả sự cầu thị để thực hiện đề tài này.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu sử dụng ba phương pháp văn hóa- lịch sử, phân tích cấu
trúc và so sánh- đối chiếu.
Ý thức được những tác nhân văn hóa và lịch sử đối với sáng tác của một nhà văn, đồng thời quá
trình tìm hiểu tác phẩm nếu khơi ngược lại đúng nguồn mạch này sẽ thu được một kết quả khả quan.
Vì thế, chúng tôi vận dụng phương pháp văn hóa- lịch sử và
đây là phương pháp chính chúng tôi đặc
biệt quan tâm. Trường hợp Marquez, chúng tôi lưu ý đến lịch sử châu lục và Colombia từ đó vận dụng

động của các đối tượng này. Phương pháp so sánh sẽ được vận dụng cả trong việc đối chiếu các dạng
của biểu tượng trong chương 3 cũng như so sánh các nhóm tác phẩm để chỉ ra các dạng cấu trúc như
cấu trúc đơn và phức, cấu trúc tam đoạn luận,…
5. Mục đích nghiên cứu và đóng góp của luận văn
Triển khai luận văn này với đề tài “Yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn Gabriel Garcia Marquez”,
chúng tôi hướng đến các mục đích như sau:
Thứ nhất, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng lịch sử văn học Mỹ Latin bắt nguồn từ những sáng tác
truyền miệng, dân gian của người bản địa mà nổi bật nhất là của người Inca, Maya, Aztec. Bởi lẽ nhiều
công trình nghiên cứu đều khẳng
định rằng lịch sử và văn học Mỹ Latin bắt đầu từ khi người châu Âu
xuất hiện vào thế kỷ XV: “The history of Latin America begins with its accidental discovery by
Columbus in 1492, and continues with the subsequent colonies, revolutions, and forming of nations of
the Twentieth Century. This history forms the foundation of the Latin American literary tradition, as
well as Garc’a Márquez’ works” [87]. Tại Việt Nam, công trình có tính nền tảng về văn học Mỹ Latin
của Viện thông tin Khoa học Xã hội tuy có ý thức: nó cũng bao gồm cả sự thể hiện văn học của các
nền văn minh người da đỏ đã phát triển cao b
ị chinh phục bởi người Tây Ban Nha [40,40] nhưng lại

bắt đầu lịch sử văn học Mỹ Latin bằng thời kỳ thuộc địa với những sáng tác của các nhà thám hiểm
phương Tây. Vì thế, trong khuôn khổ luận văn này chúng tôi muốn nhắc đến những sáng tác của người
Inca, Maya khi liên hệ vào yếu tố kỳ ảo ở chương 1 cũng như dấu ấn anh hùng lưỡng tính ở rải rác các
chương 2 và 3 với hy vọng khôi phục một bộ phận bị
lãng quên của văn học Mỹ Latin.
Thứ hai, hướng đến một cách hiểu về yếu tố kỳ ảo và vận dụng vào chủ nghĩa hiện thực huyền ảo
cũng là mục tiêu của chúng tôi. Hiện nay thuật ngữ cái kỳ ảo được hiểu trên nhiều cấp độ rộng hẹp
khác nhau như chúng tôi đã trình bày trong phần lịch sử vấn đề. Đồng thời yêu cầu lý giải chủ
nghĩa
hiện thực huyền ảo cũng được đặt ra cấp thiết. Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo vốn là một thuật ngữ hội
họa được chuyển sang dùng cho văn học châu Âu, sau đó lại trở thành đặc trưng của văn học Mỹ Latin,
vậy bản chất của vấn đề này ra sao? Liệu chủ nghĩa hiện thực huyền ảo có thể


triển khai những phương diện khác nhau của truyện ngắn của G. G. Marquez liên quan đến yếu tố kỳ
ảo.
Đối với những vấn đề khái quát, luận văn, thông qua việc xác định nội hàm và đặt yếu tố kỳ ảo vào
diễn trình văn học, đã luận giải hai khái niệm cốt yếu: yếu tố kỳ ảo và chủ nghĩa hiện thực huyền ảo.
Đồng thời, chúng tôi xác đị
nh yếu tố kỳ ảo như một phạm trù trung tâm trong chủ nghĩa hiện thực
huyền ảo; từ đó, xác định khái niệm, tính chất của trào lưu văn học này và lưu ý đến tác giả nổi bật là
Gabriel Garcia Marquez với yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn của ông.
Trong Chương 2, luận văn khảo sát hệ thống hình tượng trong truyện ngắn G. G. Marquez theo hướng
xác định các dạng nhân vật, không gian và th
ời gian. Đây là những thành phần nổi bật nhất, có vai trò
định hướng và luận giải hệ thống truyện ngắn của Marquez .
Về biểu tượng trong truyện ngắn G. G. Marquez (Chương 3), luận văn chú ý đến khái niệm, tính chất
của biểu tượng và con đường vận hành của yếu tố kỳ ảo trở thành một biểu tượng. Từ đó, chúng tôi
tiến hành khảo sát ba nhóm biểu tượng có mối liên hệ v
ới yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn Marquez
nhằm lý giải đặc điểm của bản thân hệ thống biểu tượng cũng như truyện ngắn hàm chứa các biểu
tượng này, nghĩa là, chúng tôi nhìn yếu tố kỳ ảo và truyện ngắn theo hướng liên tưởng của các biểu
tượng.
Chương 4 tập trung vào vấn đề cấu trúc truyện ngắn G.G.Marquez là chương cuối cùng. Luận văn cố

gắng xác định đặc điểm cấu trúc truyện ngắn kỳ ảo của Marquez trên diện cơ cấu với các khâu mở đầu,
kết thúc của nó cũng như sự liên kết theo hướng cấu trúc trên các cấp độ khác nhau. Như vậy, chương
này khảo sát truyện ngắn Marquez và yếu tố kỳ ảo trong tổng thể nhằm xác định những thành phần ổn
định tạo nghĩa trong văn bả
n cũng như thể hiện mô hình quan niệm của nhà văn trong sáng tạo văn
chương.
Phần Kết luận đề cập đến những kết quả của luận văn, kiến nghị cũng như đề xuất hướng nghiên
cứu.

đồng hành của mình là văn học- một hình thái ý thức xã hội bằng tư duy nghệ thuật, hạt giống lớn lên
từ mảnh đất phì nhiêu của trí tưởng tượng phong phú. Vì thế, yếu tố kỳ ảo
đã, đang và sẽ tồn tại trong
văn học như một bộ phận không thể tách rời.
Vai trò của yếu tố kỳ ảo trong nền văn học ngày càng trở nên quan trọng. Theo thời gian yếu tố
kỳ ảo đã có những biến đổi nhất định để thích nghi với văn học. Nói đúng hơn, người nghệ sĩ đã vận
dụng yếu tố kỳ
ảo theo những cách khác nhau nhằm đạt những mục đích của mình. Khi bơ vơ trước tự
nhiên, con người đã đồng nhất bản thể vào thiên nhiên và hình thức hóa các vị thần dưới sức mạnh của
cái kỳ ảo. Ngay cả đến khi con người đề cao tuyệt đối lý trí thì cái kỳ ảo không mất đi mà vẫn âm thầm
cảnh tỉnh, nhắc nhở nhân loại về những vấn đề hệ
trọng của thế giới quan và nhân sinh quan; vẫn soi
sáng con đường qua hỏa ngục, luyện ngục và thiên đàng của Dante; vẫn như một hồn ma day dứt về tội
ác của Shakespeare,… Cái kỳ ảo càng trở nên quan trọng hơn trong văn học cận đại, hiện đại và hậu
hiện đại, khi những chuẩn mực giá trị đặt trên viên đá tảng lý trí dần lung lay, con người hoang mang
trước những tan vỡ thì càng khao khát bám lấy một b
ến bờ kỳ ảo đã quen thuộc tự xa xưa. Trên đồng
dollar của đất nước hiện đại nhất thế giới người ta trang trọng in dòng chữ In God we trust, con người
ngày nay đang dần sống lại những cổ tích, người ta dạy cho trẻ em tin vào những chuyện thần tiên,

người lớn cố gắng tìm ra ước mơ trong hình bóng Santa Claus, cả thế giới hồi hộp theo bước chân của
cậu phù thủy Harry Potter… Chính trong cuộc sống bộn bề của hiện tại, người ta càng cần đến yếu tố
huyền ảo trong văn học.
1.1.1 Yếu tố kỳ ảo
Chúng tôi dùng khái niệm cái kỳ ảo trong mối tương quan so sánh giữa các thuật ngữ: myth,
fantasy và magic.
Trước hết, “myth” được hiể
u là thần thoại, chuyện hoang đường tưởng tượng. Đó là câu chuyện kể về
các vị thần trong cuộc sáng tạo thế giới và con người. Theo nhà nghiên cứu Đào Ngọc Chương trong
công trình Phê Bình Huyền thoại [17], thần thoại hay huyền thoại gắn liền với tư duy huyền thoại; đó

quyết cái kỳ ảo với tư cách là một yếu tố. Trước hết về lịch đại, nếu nói kỳ ảo là những sự việc không

thể xảy ra thì bản thân việc con người nhận thức những cái không thể xảy ra hoàn toàn không phải một
kết điểm mà là một quá trình bởi không có những giới hạn của vật chất, chỉ có những giới hạn của
nhận thức con người. Về mặt đồng đại, mở ra nhiều không gian khác nhau, cái kỳ ảo cũng khó có thể
được xác định là cái không có thực, không thể tin được, bởi lẽ sự khác bi
ệt về văn hóa tạo nên những
khung giá trị và quan niệm khác nhau. Một người châu Âu duy lý kiểu “Tôi nghi ngờ là tôi tư duy, tôi
tư duy là tôi tồn tại” (Dercarte) chắc hẳn sẽ khó chấp nhận tư duy mang đậm tính tôn giáo của phương
Đông với sức thu hút kỳ lạ của những mê cung ngôn ngữ như “sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc
tức thị không, không tức thị sắc,…” (Bát Nhã tâm kinh), càng khó nhận thức
được thứ hiện thực kỳ
diệu ở các quốc gia Mỹ Latin- đang được con người ở đó xác tín từng ngày từng giờ…
Vì thế, một cách tương đối, có thể xác định cái kỳ ảo trong nét nghĩa hẹp nhất, thường được hiểu là sự
thể hiện của ma quỷ, các thế lực siêu nhiên, thần bí và được ý thức trong văn học như yếu tố khác
thường tác động theo nhữ
ng cách thức đặc biệt gây nên phản ứng, cảm xúc tột độ của con người. Đó là
bóng ma của đức vua Đan Mạch- cha của Hamlet, là tiểu thuyết Gothic thế kỷ XVIII- XIX với bối
cảnh rùng rợn, đáng sợ, là Người tu sĩ vận đồ đen của Tchekhov, là Miếng da lừa của Balzac,…
Magic thường được dịch là huyền ảo, vốn là một tính từ tiếng Latin: magicus, về sau phát triển ở
dạng
danh từ là magica; bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là magikē (tekhnē) nghĩa là (nghệ thuật của) thầy phù
thủy. Đó là một sức mạnh bí ẩn có khả năng làm những điều không thực thành có thực (thường gắn với
nét nghĩa tiêu cực- black magic- phép thuật ma quỷ). Tuy nhiên, từ huyền ảo được sử dụng rộng rãi
trong nền văn học hiện đại để chỉ nh
ững điều kỳ lạ, huyền diệu xảy ra trong cuộc đời thực. Đó là việc
con người biến thành bọ trong Hóa thân của Kafka; là mê cung cuộc đời mà Borges đề cập theo kiểu
xác suất trong Những công viên có lối đi rẽ hai ngã, là những con người ăn đất, mất ngủ vì tiếng các vì
sao chuyển động, là con người có cánh, người hóa nhện của Marquez,…
Chúng tôi hiểu cái kỳ ảo là sự tổng hòa tất cả

tố kỳ ả
o thời cổ đại chỉ với tư cách là huyễn tưởng thế giới thực tại mà con người hiểu theo trí tưởng
tượng ngây thơ chất phác nguyên thủy. Phần không được phép lý giải thể hiện ở cái kỳ ảo được sử
dụng phản ánh thái độ của con người về những ẩn ức, những điều kiêng kị trong xã hội không được
phép nói đến. Một trong những mục đ
ích sử dụng cái kỳ ảo là thoả mãn lý tưởng đạo đức đang mâu
thuẫn với một xã hội nhất định.
Cái kỳ ảo thường được hiểu là kỳ dị, quái lạ, siêu nhiên, bất thường, kinh dị, thần ma, huyền thoại,…
Tuy có nhiều dạng thức nhưng cái kỳ ảo luôn mang trong mình một logic nhất định. Logic này có thể
được lý giải hay thuộc dạng “bất khả tư nghì” nhưng nó vẫn có ở
đó, trong từng hoàn cảnh lại bộc lộ
một khía cạnh của mình để luôn soi chiếu và làm rõ từng phần cuộc đời, văn học và chính cái nó đã là
và sẽ là.
Từ tư duy, cái kỳ ảo được đan cài và hiện thực hóa trong tác phẩm văn học dưới dạng thức yếu tố
kỳ ảo. Yếu tố là một bộ phận cấu thành sự vật, sự việc, hiện t
ượng. Yếu tố mang nghĩa nhân tố tức là
yếu tố cần thiết gây ra, tạo ra cái gì đó [63,1170]. Trong Anh ngữ, yếu tố có thể hiểu là “element”.
Element xuất phát từ khoảng thế kỷ XII đến XVI dùng để chỉ các thành tố cơ bản của thế giới hay các
đối tượng thiêng liêng từ bầu trời. Từ này phát xuất từ tiếng Pháp cổ xưa nhất được sử dụng cho đến
khoảng những n
ăm 1400, có thể truy nguyên về tiếng Latin: elementum- mang nghĩa là nguyên tắc
(principle), nguyên lý cơ bản (rudiment), được dịch từ tiếng Hy Lạp là stoikheion- bước (một giai đoạn
trong tiến trình), bộ phận cấu thành.
Theo từ điển Oxford (Advanced Leaner) bản in lần thứ 7, element có 08 nhóm nghĩa chia thành 09 nét
nghĩa như sau: 1. Phần, lượng: Bộ phận điển hình, bộ phận cần thiết của sự vật; thành phần chất lượng
hay cảm xúc. 2. Nhóm ng
ười: nhóm người tạo thành một bộ phận của tập thể lớn hơn, của xã hội. 3.

Hóa học: một chất hóa học đơn giản chỉ mang một nguyên tử của một nguyên tố mà không thể bị phân
chia nhỏ hơn bởi các công cụ hóa học. 4. Đất, nước, lửa, không khí: một trong bốn thành tố được tin là

ột cách
sâu sắc với hiện thực có nghĩa là yếu tố kỳ ảo thể hiện những hình thức siêu phàm, phi thực nhưng luôn
dựa trên những hình thức thừa kế từ hiện thực. Đó có thể là sự phản chiếu bản thân con người thành
hình ảnh các vị thần, thành Thượng Đế (theo nghĩa con người tạo ra Thượng Đế giống với hình ảnh
mình); có thể là phản chiếu kinh nghiệm bả
n thân thành chốn thiên đường, địa ngục, hay “quy mao thố
giác”. Những phản chiếu này dù phong phú đến đâu nhưng cũng nằm trong một mô hình nhất định, mô
hình về đời sống. Đó là bản chất, còn con đường của yếu tố kỳ ảo được quy định bởi tính chất quy ước
của yếu tố kỳ ảo.

Yếu tố kỳ ảo với tư cách là một ký hiệu nghệ thuật được quy ước về mặt hành chức. Từ hiện
thực, yếu tố kỳ ảo phải thâm nhập vào văn học bằng con đường riêng, bằng logic của mình, đó là mã
hóa. Con đường này như Freud nói về cái vô thức, nó không phải đại lộ nhưng là những tiểu lộ song
song có khi giao cắt, đó là nơi chuẩn bị những cảnh vật mà ta sẽ nhìn thấy trên đường lớn, nó còn
nguyên những bề bộn, sống động và phong phú. Cái kỳ ảo là kết quả một sự biến đổi, như cách nói của
Lê Nguyên Cẩn là một vết đứt gãy, là dạng quy chuyển về một mô hình khác so với mô hình cuộc sống
hiện thực được quy định bởi logic thông thường. Tính chất của quá trình mã hóa này nằm ở cái khác
biệt nhưng không phải ở tầm so sánh thông thường với hiện thực mà là một dạng khác biệt về chất
được nâng cao, một dạng sự thật cao hơn hiện thực. Nhờ tính thật này mà yếu tố kỳ ảo khi kết cấu
thành một thế giới nghệ thuật hay một hệ thống thì luôn có logic riêng mình, đó là lý do vì sao thần
Hermes nhờ đôi giày có cánh mà di chuyển nhanh, vì sao những đứa trẻ sinh ngay đêm 15 tháng 08
năm 1947 ở Ấn Độ lại có khả năng tiên tri như Salman Rushdie kể lại trong Midnight’s Children,…
Chính vì được quy ước nên yếu tố kỳ ảo không bị hòa tan vào các dạng thức tưởng tượng khác.
Đồng thời, cần tính đến vai trò của người tạo nên ký hiệu lẫn người nhận ký hiệu trong trường
hợp yếu tố kỳ ảo. Xuất phát từ khâu tiếp nhận để khẳng định cái kỳ ảo nằm ở quyết định của người đọc
xem đó là cái kỳ lạ hay cái huyễn ho
ặc là một mặt của vấn đề. Mặt khác, từ góc độ người tạo ký hiệu,
có thể thấy rằng vấn đề niềm tin trong việc định tính yếu tố kỳ ảo là một vấn đề giả. Người tạo ký hiệu
có thể tin hoàn toàn những điều anh ta mô phỏng bản thân và gán cho mô hình vũ trụ hay không tin mà
chỉ dùng nó như một thủ pháp, quan trọng là mục đích của anh ta. Người nguyên thủy dùng y

Đứng trên phương diện văn bản, quốc độ Phật A di đà được xác định khá rõ nhờ phương vị và các con
số thế giới cụ thể, rõ ràng, không th
ể lầm lẫn mơ hồ về sự, về tướng nhờ đó mà Phật thuyết phục đồ đệ
về tính minh xác của khái niệm mình nói ra, và Phật dùng đó như một phương tiện. Hay trong Kinh
Thánh, với một phương pháp tương tự, phép lạ của Jesus được hiện thực hóa bằng những con số khá
thuyết phục. Đó là con số 5000 người ăn (thanh niên) không kể phụ nữ và trẻ em, 05 chiếc bánh và 02
con cá, số mẩu vụn thu được sau khi ăn là 12 giỏ đầy [41,1127]. Những con số cụ thể này thuyết phục
những người tiếp nhận văn bản về tính chất hiện thực của yếu tố kỳ ảo. Về sau, Gabriel Garcia
Marquez cũng ý thức về những con số trong việc làm cho người đọc tin những điều kỳ ảo mà ông
chuyển tải trong các tác phẩm khi trả lời câu hỏi phỏ
ng vấn của Peter H. Stone:
Stone: Đây có vẻ như là kỹ thuật và giọng điệu của một nhà báo. Diễn tả những biến động có vẻ kỳ
quái, với từng chi tiết thật là chi ly, từ đó, nó có được cái vẻ thực. Đây là điều ông nhặt được, khi hành
nghề báo chí?
Marquez: Đúng là ngón nghề của mấy tay làm báo, nhưng bạn có thể áp dụng cho văn chương. Ví dụ,
nếu bạn nói, có nhữ
ng con voi bay trên trời, sẽ chẳng ai tin. Nhưng nếu bạn nói, có 425 con voi đang
bay trên trời, sẽ có người tin [107, 315].
Có thể thấy rằng bản chất của yếu tố kỳ ảo thống nhất trong diễn trình lịch sử và nhờ đó chúng tôi
có đủ cơ sở để dùng nó như một đối tượng hợp lý. Chúng tôi cho rằng cái kỳ ảo với tư cách là đối
tượng trong luận văn này có giá trị di động giữ
a khoảng thực và ảo, loại bỏ cực thực, khoảng còn lại
chính là tổng thể mang bản chất, mô hình và mục tiêu mà chúng tôi đã xác lập. Từ góc nhìn này, chúng
tôi hy vọng có cơ may tái hiện, mô tả được một hệ thống rộng hơn và nếu may mắn là đầy đủ hơn của
cái kỳ ảo nói chung, yếu tố kỳ ảo nói riêng.
1.1.2 Yếu tố kỳ ảo trong diễn trình văn học
Yế
u tố kỳ ảo ra đời trong văn học dân gian gắn liền với cảm quan siêu nhiên cổ đại. Từ cảm quan
này, con người tự soi chiếu bản thân thành hai cấp độ đồng chất, điều này cũng tương tự như người Ấn
Độ bàn về đại ngã và tiểu ngã. Trong hệ thống này tồn tại những yếu tố bất biến và khả biến, tất cả

Calca và Huayllapampa không nằm ngoài mục đích khẳng định tính hiện thực của yếu tố kỳ ảo. Như
vậy, trong giai đoạn này, yếu tố kỳ ảo xuất hiện dưới ánh sáng tư duy nghệ thuật bằng không gian khi
con người chưa tách mình khỏi các quan hệ với giới tự nhiên.
Giai đoạn thứ hai, thời cận đại- hiện đại (từ
thế kỷ XIV với phong trào Phục Hưng đến hết thế kỷ
XIX), yếu tố kỳ ảo trong văn học được soi dưới con mắt lý trí. Giai đoạn này là kết quả của thời kỳ
Phục Hưng, vai trò con người được nhấn mạnh, lý trí trở thành sức mạnh phân biệt và tôn vinh con
người. Nhân loại tin vào lý trí nên tiếp tục lý giải yếu tố kỳ ảo kiểu lý trí, những gì vượt ra ngoài giới
h
ạn đó thì được quy vào phần khả biến. Lúc này con người đã có sự tách biệt tối thiểu và độc lập với tự
nhiên; có một độ lùi và tự mình từng bước biến đổi tự nhiên theo ý mình một cách ngày càng hiệu quả.
Có thể nhận thấy đặc điểm này qua truyện ngắn kỳ ảo Miếng da lừa của Honore De Balzac. Tấm da
lừa có thể cầm, nắm, nén như một vật th
ể nhưng lại mang đặc tính thần kỳ. Tấm da lừa thể hiện cuộc
đấu tranh vật lộn của con người giữa dục vọng và nhân tính, giữa cái xấu xa và tốt đẹp, thấp hèn và cao

thượng; nó là cuộc đời mãi mãi sẽ không nhân nhượng bất kỳ ai. Hạt nhân hiện thực càng thể hiện rõ
ngay trong những hiệu quả kỳ ảo của miếng da lừa. Tất cả những ước muốn như giàu có, dự buổi tiệc
bá vương, được yêu Pauline đều xuất phát và có thể lý giải bằng hiện thực. Raphael giàu có nhờ của
thừa kế của người bà con ở Ấn Độ, anh ta được dự
tiệc do ông chủ ngân hàng muốn ăn mừng,… còn
tình yêu của Pauline thì rõ ràng đã dành cho anh ta từ lâu. Nếu loại bỏ miếng da lừa thì có vẻ như
những sự kiện trên đều không sớm thì muộn sẽ xảy ra với Rafael, yếu tố kỳ ảo được giải thiêng và vận
dụng như một chất xúc tác thúc đẩy phản ứng cuộc đời. Rõ ràng, với chủ nghĩa hiện thực, Balzac luôn
ý thức và vận dụng công th
ức Nguyên lý- nguyên nhân- kết quả [Pierre Laubriet- chuyển dẫn theo Lê
Nguyên Cẩn- 13,41] một cách nghiêm ngặt- đó là mục tiêu của người “thư ký thời đại”. Câu chuyện
của ông về một xã hội Pari giành giật lấy sự sống, để phỉnh gạt, âu yếm rồi ăn tươi nuốt sống lẫn
nhau,… hiện ra với tất cả tính hiện thực của nó, người ta tin điều đó dù câu chuyện được tạo dựng b
ằng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status