Download miễn phí Tiểu luận Đánh giá về trách nhiệm của gia đình trong việc bảo vệ các quyền cơ bản của trẻ em
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1
1. Những quy định của pháp luật về việc bảo vệ các quyền cơ bản của trẻ em 1
2. Trách nhiệm của gia đình 2
II. Đánh giá trách nhiệm của gia đình trong việc bảo vệ các quyền cơ bản của trẻ em 3
Kết quả đạt được 3
1. Quyền được khai sinh và có quốc tịch 3
2. Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng 4
3. Quyền sống chung với cha mẹ 5
4. Quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, nhân phẩm, danh dự 6
5. Quyền được chăm sóc sức khoẻ 7
6. Quyền được học tập 8
7. Quyền vui chơi, hoạt động văn hoá, thể thao 10
8. Quyền được phát triển năng khiếu 12
9. Quyền có tài sản 14
10. Quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến, hoạt động xã hội 16
NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG TỒN TẠI, HẠN CHẾ 18
BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC 19
KẾT LUẬN 21
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-39515/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download choTóm tắt nội dung:
m đối tượng trẻ em đặc biệt chưa được đưa vào Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, như trẻ em bị lạm dụng, bạo lực, trẻ em bị tai nạn thương tích, trẻ em bị ảnh hưởng từ các vụ ly hôn, con nuôi, trẻ em di cư, bị mua bán, trẻ em sống trong các hộ nghèo...Vấn đề truyền thông giáo dục, việc phổ biến kỹ năng bảo vệ và chăm sóc trẻ em ở một bộ phận gia đình còn thiếu chiều sâu, đặc biệt là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa.
3. Quyền sống chung với cha mẹ
Điều 13 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ em có quyền sống chung với cha mẹ. Không ai có quyền buộc trẻ em phải cách ly cha mẹ, trừ trường hợp vì lợi ích của trẻ em”. Theo quy định của pháp luật thì cha mẹ có nghĩa vụ và quyền sống chung với con. Như vậy, cả cha mẹ và con chưa thành niên đều có quyền sống chung, trừ trường hợp vì lợi ích của trẻ em.
Quy định này hoàn toàn phù hợp và cụ thể hóa thêm các quy định tại Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành. Theo các quy định đó thì: Quyền sống chung với cha mẹ là quyền tự nhiên, tất yếu và bất khả xâm phạm của mọi trẻ em, kể cả trong trường hợp trẻ em là con riêng của vợ hay chồng. Trong trường hợp cha mẹ ly hôn, theo quy định tại điều 92 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, việc giao con chưa thành niên cho cha hay mẹ chăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của trẻ em. Về nguyên tắc, trẻ em dưới ba mươi sáu (36) tháng tuổi phải được giao cho người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Người không nuôi dưỡng có nghĩa vụ và quyền thăm nom, chăm sóc con và phải có nghĩa vụ đóng góp nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trường hợp trẻ em được nhận làm con nuôi, thì việc giao nhận con nuôi phải tuân theo quy định của pháp luật và phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em được nhận làm con nuôi. Việc nhận trẻ em từ đủ chín tuổi trở lên làm con nuôi phải được sự đồng ý của trẻ em đó. Khoản 2 Điều 25 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Trường hợp trẻ em được nhận làm con nuôi thì việc giao, nhận trẻ em làm con nuôi, đưa trẻ em ra nước ngoài hay từ nước ngoài vào Việt Nam phải tuân theo quy định của pháp luật".
4. Quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, nhân phẩm, danh dự
Điều 14 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự”. Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về các quyền này của công dân như sau: Khoản 1 Điều 32 quy định "Cá nhân có quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể"; Điều 37 quy định “Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ”. Đây cũng là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được Hiến pháp năm 1992 ghi nhận "Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm" (Điều 71).
Các văn bản pháp luật có liên quan đã quy định các quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, nhân phẩm, danh dự và các biện pháp chế tài để bảo đảm quyền này. Chương X Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về người chưa thành niên phạm tội; Chương XII quy định về các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con người trong đó đã thể hiện những quan điểm nhân đạo, chính sách quan tâm bảo vệ trẻ em và quy định những khung hình phạt nghiêm khắc đối với những hành vi của người lớn xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của trẻ em.
Tuy nhiên, trong thực tiễn cuộc sống, trẻ em còn nhỏ tuổi và thường được coi là người phụ thuộc, nên trong quan hệ của gia đình và xã hội, vẫn còn nhiều cha mẹ, anh chị em và người lớn hay coi thường trẻ em, gọi là “trẻ con”, mắng chửi trẻ em đến mức không tôn trọng nhân phẩm, danh dự của trẻ em. Do vậy, cần tăng cường tuyên truyền, vận động nhằm làm thay đổi quan niệm và hành vi đối xử với trẻ em theo hướng tôn trọng quyền này của trẻ em.Tuy nhiên, trong thực tiễn cuộc sống thì việc bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em cần thường xuyên được chú trọng để thực hiện các biện pháp phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ em. Với quan niệm, trẻ em là "trẻ con", "yêu cho roi cho vọt" đã dẫn tới cách xử sự mà trong điều kiện hiện nay được đánh giá là thiếu tôn trọng nhân phẩm, danh dự của trẻ em. Với lối sống tùy tiện trong sinh hoạt và trong những việc làm cụ thể có thể dẫn tới nguy cơ gây tai nạn về tính mạng, nhân phẩm, danh dự của trẻ em.
5. Quyền được chăm sóc sức khoẻ
Khoản 1 Điều 15 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ em có quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ”. Khoản 1 Điều 1 Luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân năm 1989 quy định “Công dân có quyền được bảo vệ sức khoẻ, nghỉ ngơi, giải trí, rèn luyện thân thể; được bảo đảm vệ sinh trong lao động, vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh môi trường và được phục vụ về chuyên môn y tế”.
Khoản 1 Điều 27 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Cha mẹ, người giám hộ có trách nhiệm thực hiện những quy định về kiểm tra sức khoẻ, tiêm chủng, khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em”. Quy định này khẳng định trách nhiệm trước tiên thuộc về cha mẹ, người giám hộ và đòi hỏi cha mẹ, người giám hộ phải có kiến thức, sự hiểu biết và thực hiện đầy đủ các hướng dẫn, quy định về phòng bệnh và chữa bệnh cho trẻ em.
6. Quyền được học tập
Khoản 1 Điều 16 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ em có quyền được học tập”. Pháp luật nước ta đã khẳng định "Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân". Mọi công dân không phân biệt điều kiện và hoàn cảnh đều được bình đẳng về cơ hội học tập, được tạo điều kiện để ai cũng được học hành.
Khoản 2 Điều 16 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ em học bậc tiểu học trong các cơ sở giáo dục công lập không phải trả học phí”. Theo quy định của pháp luật, giáo dục tiểu học là bậc học bắt buộc đối với mọi trẻ em từ sáu tuổi đến mười bốn tuổi (từ lớp 1 đến lớp 5). Vì vậy " Mọi công dân trong độ tuổi quy định có nghĩa vụ học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập" (Khoản 2 Điều 11 Luật giáo dục năm 2005). Đến năm 2002, đã có 100 % số tỉnh, thành phố hoàn thành giáo dục phổ cập bậc tiểu học và 19 tỉnh, thành phố đạt trình độ giáo dục phổ cập bậc trung học cơ sở.
"Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện; có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" (Điều 2 Luật giáo dục năm 2005). Với ý nghĩa đó, trẻ em có quyền được tiếp cận một nền giáo dục cơ bản, có chất lượng để trở thành công dân có đức, có tài, nắm chắc khoa học kỹ thuật và công nghệ mới phục vụ sự nghiệp xây dựng ...