Luận văn Phương thức kể chuyện trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh (qua một số tác phẩm tiêu biểu) - Pdf 41

bộ giáo dục và đào tạo
tr-ờng đại học s- phạm hà nội
-----------

PHM TH THY LIấN

PHƯƠNG THứC Kể CHUYệN
TRONG TáC PHẩM CủA NGUYễN NHậT áNH
(QUA MộT Số TáC PHẩM TIÊU BIểU)

Chuyờn ngnh: Ngụn ng hc
Mó s

: 62.22.02.40

Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TS. Nguyn Th Thu Thy

Hà Nội - 2014


BẢNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT
ĐN

: Điểm nhìn

NKC

: Người kể chuyện


1.2. Cơ sở văn học ........................................................................................ 23
1.2.1. Đặc điểm của tiểu thuyết .................................................................... 23
1.2.2. Quan điểm, phong cách nghệ thuật Nguyễn Nhật Ánh........................ 25
Tiểu kết ....................................................................................................... 30


Chƣơng 2:ĐẶC ĐIỂM PHƢƠNG THỨC KỂ CHUYỆNTRONG TÁC
PHẨM CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH ........................................................ 31
2.1. Đặc điểm người kể chuyện .................................................................... 31
2.1.1. NKC là nhân vật - NTĐH ................................................................... 31
2.1.2. NKC là người phát ngôn cho nhân vật - NTĐH .................................. 35
2.2. Điểm nhìn của người kể chuyện trong truyện ........................................ 39
2.2.1. ĐN không gian và thời gian ................................................................ 39
2.2.2. ĐN quyền lực, thân hữu...................................................................... 43
2.2.3. NKC mượnĐN nhân vật ..................................................................... 44
2.3. Nhân tố được tiêu điểm hóa ................................................................... 48
2.3.1. N.ĐTĐH là nhân vật được NTĐH quan sát, cảm nhận ....................... 48
2.3.2. N.ĐTĐH là NKC - NTĐH - tự quan sát, cảm nhận về mình ............... 54
Tiểu kết ....................................................................................................... 60
Chƣơng 3: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRONG TÁC
PHẨM CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH ........................................................ 61
3.1. Đặc điểm lời người kể chuyện ............................................................... 61
3.1.1. Lời kể ................................................................................................. 61
3.1.2. Lời tả .................................................................................................. 67
3.1.3. Lời trữ tình (Lời bình luận trực tiếp)................................................... 71
3.2. Đặc điểm lời nhân vật ............................................................................ 73
3.3. Đặc điểm giọng điệu.............................................................................. 75
3.3.1. Giọng hài hước - tinh nghịch .............................................................. 76
3.3.2. Giọng hồn nhiên - ngộ nghĩnh ............................................................ 79
3.3.3. Giọng triết lí - chiêm nghiệm .............................................................. 81

Nam: Đôrêmon, Thám tử lừng danh Conan, Thủy thủ mặt trăng... Đây là
thành công lớn của ngành xuất bản, nhưng cũng lại là thách thức lớn đối với

1


nhà văn (đặc biệt là nhà văn viết về đề tài thiếu nhi) và suy rộng ra là thách
thức đối với một nền văn học.
Nhà xuất bản Kim Đồng đã cố duy trì sức sáng tác của văn học thiếu
nhi trong nước với những Tủ sách vàng, Tủ sách thơ với tuổi thơ... Sự cố
gắng duy trì tình yêu văn học bằng cách tái bản liên tục các tác phẩm cổ điển
đã phần nào lưu giữ được những giá trị thẩm mỹ có ý nghĩa bồi dưỡng nhân
cách cho bạn đọc trẻ.Nhưng mặt trái của việc làm ấy là tạo ra sức ì trong sáng
tạo các tác phẩm mới. Đó cũng là một trong nhiều yếu tố khiến cho hàng loạt
các cây bút viết cho thiếu nhi xuất hiện vào cuối thập kỷ 80 đã không còn đi
tiếp con đường sáng tạo khó khăn này. Thực tế là sách thiếu nhi Việt Nam lép
vế so với sách thiếu nhi dịch từ tiếng nước ngoài. Nguyên nhân do tư duy
sáng tác của nhà văn quá cũ, cần phải đổi mới toàn diện.Lựa chọn đề tài này
cũng là một dịp để chúng ta ghi nhận sự nỗ lực của các cây bút đương đại
trong việc đổi mới tư duy, cách viết đem lại một diện mạo mới cho văn học
đương đại nói chung và văn học thiếu nhi nói riêng.
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài Phương thức kể chuyện trong
tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh (Qua một số tác phẩm tiêu biểu) để làm rõ
hơn đặc điểm về phương thức kể chuyện của nhà vănvànhững đóng góp của
ông cho văn học thiếu nhi đương đại.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Lịch sử nghiên cứu về phƣơng thức kể chuyện
Hơn nửa thế kỉ qua, việc tìm hiểu PTKC đặc biệt là vấn đề phân loại
các PTKC được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm và luận bàn.
Chẳng hạn Pospelov (1960) trong Dẫn luận nghiên cứu văn học [15] đã đưa

đề PTKC và các hình thức biểu hiện của nó. Trần Đình Sử trong giáo trình Lí
luận văn học (1987) và Từ điển thuật ngữ văn học (1992) đã đưa ra khái
niệm, chức năng, cách nhận diện người kể chuyện. Phùng Văn Tửu trong
chuyên luận Tiểu thuyết Pháp hiện đại, tìm tòi, đổi mới (1990) cũng đề cập

3


đến tiêu chí điểm nhìn để nhận diện các cách kể. Cuốn Tự sự học, một số vấn
đề lí luận và lịch sử do Trần Đình Sử chủ biên (2004) đã tập hợp nhiều bài
viết của các nhà nghiên cứu về tự sự học, từ những vấn đề mang tính khái
quát như: Về trần thuật sử dụng ngôi thứ nhất của văn học phương Tây thế kỉ
XVIII (Lê Nguyên Cẩn), Vài khía cạnh về kĩ thuật kể chuyện trong tiểu thuyết
Tây Âu thế kỉ XX (Đặng Thị Hạnh), Trần thuật trong truyện ngắn (Phùng
Ngọc Kiếm), Vấn đề người kể chuyện trong truyện ngắn đương đại (Bùi Việt
Thắng), Vấn đề phân loại góc nhìn trần thuật (Phương Lựu), Người kể chuyện
- nhân vật mang tính chức năng trong truyện ngắn tự sự (Nguyễn Thị Hải
Phương), Về khái niệm người kể chuyện ở ngôi thứ ba (Nguyễn Thị Thu
Thủy)… đến những vấn đề mang tính cụ thể hơn như Phương thức tự sự chủ
yếu của sử thi Đam San(Đỗ Hồng Kỳ), Mô hình tự sự Truyện Kiều (Trần
Đình Sử), Hình tượng người trần thuật trong truyện ngắn Người tình (Trần
Huyền Sâm), Nghệ thuật tự sự của Ngô Tất Tố (Trần Đăng Xuyền).
Nhiều luận văn thạc sĩ cũng đề cập đến cách thức kể trong những tác
phẩm cụ thể như: Giọng điệu ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác trước cách
mạng Tháng tám của Nam Cao (1999) của Lê Hải Anh; Đặc sắc của tự
truyện viết cho thiếu nhi (2003) của Lý Kim Oanh; Điểm nhìn trong tiểu
thuyết của Hồ Anh Thái (2009) của Hoàng Thu Thủy; Người kể chuyện trong
văn học mới 2000 - 2010 (2011) của Bùi Thị Hải Vân… Bên cạnh đó, một số
luận án tiến sĩ cũng đề cập đến vấn đề PTKC, ngôn ngữ, điểm nhìn trong
truyện ngắn từ sau 1975 như: Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn Việt

hầu hết đều thuộc chuyên ngành lí luận văn học. Công trìnhThế giới trẻ thơ
qua cách nhìn của Nguyễn Nhật Ánh trong bộ truyện Kính vạn hoa (2005) của
tác giả Phạm Thị Bền là luận văn thạc sĩ đầu tiên đi sâu nghiên cứu về tác
phẩm của Nguyễn Nhật Ánh. Tác giả đã tập trung khai thác bộ truyện trên hai
phương diện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm được coi là “hiện tượng”
của văn học thiếu nhi thời kì đổi mới. Tác giả Vũ Thị Hương với đề tài Thế

5


giới nghệ thuật trong truyện Nguyễn Nhật Ánh (2009) đã mở rộng đối tượng
nghiên cứu thêm hai tác phẩm là Chuyện xứ Lang Biang,Cho tôi xin một vé đi
tuổi thơ và đã có những đóng góp cụ thể khi nghiên cứu vềcáchxây dựng hình
tượng nhân vật, nghệ thuật tổ chức cốt truyện, ngôn ngữ trẻ thơ, vấn đề thời
gian, không gian nghệ thuật.Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu khác
nữa như luận văn thạc sĩ Yếu tố huyền thoại trong truyện Nguyễn Nhật Ánh
(2011) của Lê Thị Diệu Phương, khóa luận tốt nghiệp Các nhóm nhân vật
chính trong sáng tác viết cho thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh (2010) của Đàm
Thị Thu…
Nhìn chung, những công trình ngôn ngữ và văn học đề cập đến PTKC
nói chung và PTKC trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh nói riêng không
nhiều. Đáng kể là luận án tiến sĩ:Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn Việt
Nam sau 1975 (Điểm nhìn và ngôn ngữ kể chuyện) (2003) của tác giả
Nguyễn Thị Thu Thủy. Trong luận án này, người viết đã xây dựng một cơ
sở lí thuyết về ĐN của ngôn ngữ và văn học, vận dụng cơ sở lí thuyết đó để
xác định, phân loại và miêu tả ĐN ở truyện ngắn Việt Nam sau 1975, đồng
thời chỉ ra sự chi phối của ĐN tới các phương diện: phương thức kể và
thoại dẫn trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 và xem xét những ảnh
hưởng của ĐN với ngôn ngữ và cách sử dụng ngôn ngữ; luận văn thạc sĩ:
Đặc điểm nhân vật người kể chuyện trong “Tôi là Bêtô” của Nguyễn Nhật

các kiểu người kể chuyện, điểm nhìn, ngôn ngữ, giọng điệu trong tác phẩm
của Nguyễn Nhật Ánh để thấy được đặc điểm PTKC và giúp cho sự phân tích,
đánh giá có căn cứ xác thực.
5.2. Phƣơng pháp miêu tả ngôn ngữ
Căn cứ vào kết quả thống kê, chúng tôi tiến hành miêu tả các đặc điểm
sử dụng ngôn ngữ trong tác phẩm.
5.3. Phƣơng pháp so sánh liên văn bản

7


Tiến hành so sánh các tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh với nhau và với
tác phẩm của những tác giả khác để thấy được nét độc đáo trong PTKC của
Nguyễn Nhật Ánh và phong cách của nhà văn.
5.4. Phƣơng pháp phân tích diễn ngôn
Trên cơ sở khảo sát diễn ngôn truyện Nguyễn Nhật Ánh, chúng tôi tiến
hành phân tích về ngữ nghĩa và ngữ dụng của diễn ngôn, đồng thời tiến hành
phân tích diễn ngôn theo nhiều đường hướng khác nhau như đường hướng
phân tích ngữ nghĩa học, ngữ dụng học…
6. Đóng góp của luận văn
- Cung cấp một cái nhìn hệ thống về PTKC từ những khía cạnh như:
người kể chuyện, điểm nhìn, ngôn ngữ, giọng điệu đồng thời góp phần làm
sáng tỏ những ứng dụng của lí thuyết điểm nhìn đối với tác phẩm của Nguyễn
Nhật Ánh.
- Là cơ sở để nhìn nhận, đánh giá phong cách Nguyễn Nhật Ánh trong
lĩnh vực văn học viết cho trẻ em và đóng góp của nhà văn cho nền văn học
Việt Nam đương đại.
- Tạo tiền đề cho việc nghiên cứu về các phương diện khác của ngôn ngữ
học cũng như tìm hiểu sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh và các tác giả khác.
7. Cấu trúc luận văn

1.1.1.2. Các nhân tố của ĐN
ĐN có những nhân tố: người tiêu điểm hóa, nhân tố được tiêu điểm
hóa, người phát ngôn, người nhận (độc giả), tiêu điểm, tiêu cự, hình thức
ngôn ngữ. Trong luận văn này, chúng tôi chỉ trình bày hai nhân tố quan trọng
nhất của ĐN, đó là: người tiêu điểm hóa và nhân tố được tiêu điểm hóa.
a) Người tiêu điểm hóa

9


Người tiêu điểm hóa (NTĐH) hay chủ thể của ĐN là nhân vật mà nhận
thức của anh ta sẽ định hướng cho sự phát triển của truyện. Nói cách khác,
NTĐH là người thực hiện hành vi nhìn - hành vi quan sát, cảm nhận, đánh
giá… là xuất phát điểm để định vị giá trị của thế giới hiện thực trong truyện.
Đặc tính của NTĐH là: anh ta là người nghĩ hoặc cảm thấy một cách trực
tiếp đối với độc giả. NTĐH không phải là người phát ngôn trong truyện (trừ
trường hợp NTĐH đồng thời là người kể chuyện (NKC) tường minh). NTĐH có
thể là NKC, có thể là nhân vật, có thể không là ai trong số hai người này.
- NTĐH là NKC
Đó là trường hợp NTĐH đồng thời là NKC hàm ẩn. Loại NTĐH này
thường xuất hiện trong những truyện có ĐN bên ngoài và truyện có ĐN toàn
tri. Trong những truyện kể này, câu chuyện được kể từ ĐN của NKC hàm ẩn.
Mọi sự đánh giá, cảm nhận, quan sát… đều là của NKC hàm ẩn đứng ngoài
quan sát và kể lại câu chuyện.
- NTĐH là nhân vật
NTĐH là nhân vật ở ngôi thứ ba trong những truyện có NKC hàm ẩn,
kể theo ĐN bên trong tựa vào ĐN của nhân vật để kể. Trường hợp này,
NTĐH là nhân vật có suy nghĩ, có hoạt động tự cảm nhận. Và mối quan hệ
giữa các nhân vật trong truyện được xác định trong quan hệ với NTĐH này
chứ không phải với NKC hàm ẩn.

suy nghĩ hoặc phản ứng của N.ĐTĐH được thuật lại. Đó là các hành vi nội
tâm như suy nghĩ, tư duy, cảm nhận…
Ngoài ra, thuật ngữ N.ĐTĐH còn có thể được hiểu rộng ra là thiên
nhiên, con vật, đồ vật… những vật chất của thế giới hiện thực hoặc chỉ
tồn tại trong thế giới tâm linh: thế giới của những người chết, thế giới của
những giấc mơ, sự tưởng tượng hoặc những ảo ảnh khác của trí tưởng
tượng của NTĐH.

11


N.ĐTĐH khi được tái hiện trong phát ngôn là đã mang dấu ấn ĐN của
NTĐH, không còn là hiện thực ngoài cuộc sống nữa.
1.1.1.2. Tính chất của ĐN
- Tính hàm ẩn: ĐN không bộc lộ trực tiếp mà luôn được chứa trong
hiện thực, trong phát ngôn hoặc trong sự quan sát, cảm nhận của chủ thể. ĐN
chỉ có thể được nhận ra qua các hình thức ngôn ngữ bằng thao tác suy ý.
- Tính chất di động: tính di động của ĐN được hiểu là tính thay đổi vị
trí, xuất phát điểm để nhìn hoặc vị trí được quan sát. Sự di động của ĐN có
thể được diễn ra theo ba chiều hướng:
+ Thay đổi vị trí, xuất phát điểm của chủ thể, tức là thay đổi NTĐH.
+ Thay đổi vị trí, xuất phát điểm của chủ thể nhưng không thay đổi
NTĐH và N.ĐTĐH.
+ Thay đổi vị trí khách thể, đối tượng được quan sát, tức là thay đổi
N.ĐTĐH.
Tính chất di động là đặc tính quan trọng, tất yếu của ĐN nghệ thuật bởi
sự phong phú của hiện thực được phản ánh. Hiện thực cần được phản ánh
càng phong phú bao nhiêu thì mức độ di động của ĐN càng lớn bấy nhiêu.
- Tính khúc xạ: tính khúc xạ trong ngôn ngữ được thể hiện ở tính chủ
quan của hiện thực khách quan trong lời nói, đặc biệt trong các tác phẩm nghệ

biết hết đối với nhiều nhân vật, sự kiện. Sự thông tuệ của NTĐH và NKC ở
ĐN toàn tri thường được bộc lộ qua những cảm nhận, suy ngẫm, phân tích,
bình luận về nhân vật, sự kiện.
Nếu như ở ĐN bên trong, NTĐH hiểu biết hoàn toàn về N.ĐTĐH ở bề
sâu thì ở ĐN toàn tri, NTĐH hiểu biết hoàn toàn về N.ĐTĐH trên diện rộng.
1.1.2. Ngôn ngữ kể chuyện
Khái niệm ngôn ngữ kể chuyện được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả
hành vi kể chuyện và diễn ngôn kể chuyện, tức là phương thức và lời kể

13


chuyện. Trong đó diễn ngôn kể chuyện hay lời kể chuyện là sản phẩm bằng
ngôn ngữ của hành vi kể chuyện.
1.1.2.1. Hành vi kể chuyện
Sự thực hiện hành vi kể chuyện gồm có các vai sau đây: tác giả thực,
tác giả hàm ẩn, người kể, cái được kể, độc giả hàm ẩn, độc giả thực. Trong đó
vai kể và cái được kể là hai vai cơ bản nhất của hành vi kể chuyện.
Dưới đây, luận văn sẽ lần lượt trình bày hai vị trí này.
a) Người kể chuyện
Người kể chuyện (NKC) là chủ thể của hành vi kể chuyện, là người nói
trong tác phẩm. NKC bao giờ cũng ở ngôi thứ nhất.
Có hai kiểu NKC:
- NKC tường minh: còn gọi là NKC ở ngôi thứ nhất, bởi sự xuất hiện
trực tiếp bằng các hình thức của đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất “tôi”, “chúng
tôi”. Trong trường hợp này, NKC chính là một nhân vật trong truyện, cùng
tham gia vào các hành động, sự kiện trong truyện, xưng “tôi” để kể về mình
hoặc các nhân vật khác trong truyện. Mọi diễn biến mọi sự kiện và mọi kiến
giải đều thông qua quan điểm của nhân vật này.
- NKC hàm ẩn: là NKC không xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm,

nhận diện qua các biểu thức xưng hô và hành vi ngôn ngữ mà SP1 thực hiện.
Sự kiện bao gồm các hành động, lời nói, suy nghĩ… của nhân vật được
kể lại.Về cơ bản có hai loại sự kiện là sự kiện hành động và sự kiện tâm lí. Sự
kiện hành động bao gồm các sự kiện hành động vật lí và sự kiện hành động
ngôn ngữ. Sự kiện hành động vật lí bao gồm các hành động vật lí như chạy,
nhảy, cắt, ăn, chặt… Sự kiện hành động ngôn ngữ là các hành động nói năng
như: nói, bảo, hỏi…Sự kiện tâm lí là các hành động nội tâm như suy nghĩ,
cảm nhận, băn khoăn, day dứt…Trong một chuyện các sự kiện hành động và
sự kiện tâm lí phải được trình bày kết hợp với nhau. Không thể có một truyện

15


nào hoàn toàn là các sự kiện hành hoặc hoàn toàn là các sự kiện tâm lí. Tuy
nhiên với những truyện có điểm nhìn bên ngoài thì các sự kiện hành động
chiếm đa số, vì điểm nhìn bên ngoài chỉ thấy được các hành động bên ngoài
(các sự kiện hành động). Với những truyện có điểm nhìn bên trong thì sự kiện
tâm lí là chủ yếu.Lời nói và ý nghĩ của nhân vật là hai sự kiện ngôn ngữ cơ
bản nhất được tái hiện lại trong truyện.
1.1.2.2. Lời kể chuyện
Lời kể chuyện bao gồm lời của NKC và lời nhân vật.
a) Lời người kể chuyện
Lời NKC có vai trò quan trọng tạo nên sự hình thành và phát triển cốt
truyện, đảm bảo cho các sự kiện được diễn ra theo logic nhất định. Nhờ lời
kể, các sự kiện, biến cố, những nhân vật, hiện thực cuộc sống được tái hiện
trong câu chuyện và liên kết với nhau, qua đó bộc lộ quan điểm và cách đánh
giá của nhà văn về hiện thực và con người được nói tới.
Xét trong chức năng xây dựng hình tượng, lời NKC được chia thành:
lời kể/lời trần thuật; lời miêu tả; lời trữ tình.
- Lời kể/lời trần thuật: chiếm tỉ lệ lớn nhất trong lời NKC. Lời kể có vai

bó mật thiết với hình tượng NKC, với tư tưởng tác giả và với độc giả. Là yếu
tố cơ bản để thể hiện phong cách nhà văn, truyền đạt cái nhìn, giọng điệu, cá
tính tác giả.
b) Lời nhân vật
Lời nhân vật là một bộ phận quan trọng trong cấu trúc lời nói nghệ
thuật. Lời nhân vật thường được phân hóa theo các chức năng: dẫn dắt, trình
bày sự việc; biểu hiện tâm lí, tính cách nhân vật; biểu hiện quan hệ giữa các
nhân vật, đặc trưng không gian, thời gian nghệ thuật; phát ngôn cho tư tưởng
tác giả.
- Dẫn dắt, trình bày sự việc: với chức năng này, hình tượng nhân vật
không có sắc thái, diện mạo riêng mà hòa lẫn với lời NKC, mang tính ước lệ.

17


Thường được biểu hiện trong một số thể loại, tác phẩm tự sự như: truyện cổ,
truyện Nôm, tiểu thuyết, truyện ngắn, sử thi đơn tuyến.
- Biểu hiện tâm lí, tính cách nhân vật: lời nói là một trong những yếu tố
thể hiện khá rõ tâm lí, tính cách nhân vật. Thông qua lời nói trong những ngữ
cảnh khác nhau với những đối tượng khác nhau, nhân vật sẽ bộc lộ mình với
những góc độ khác nhau.
- Biểu hiện quan hệ giữa các nhân vật, đặc trưng không gian, thời gian
nghệ thuật: môi trường xung quanh với những con người khác nhau, thời
giân, địa điểm khác nhau sẽ tác động trực tiếp đến lời nhân vật, đặc biệt là lời
đối thoại. Vì vậy, lời nhân vật góp phần biểu hiện quan hệ giữa các nhân vật
với không gian, thời gian nghệ thuật.
- Phát ngôn cho tư tưởng của tác giả: lời nhân vật có thể thể hiện tư
tưởng, quan niệm của tác giả theo hướng đồng hướng hoặc nghịch hướng, tùy
thuộc vào ĐN của tác giả và nhân vật đồng hướng hay nghịch hướng.
Lời nhân vật gồm nhiều chức năng kết hợp và tác động lẫn nhau.

Dựa vào bốn tiêu chí: đích ở lời, hướng khớp ghép lời - hiện thực, trạng thái
tâm lí, nội dung mệnh đề để phân loại hành động ngôn ngữ thành năm nhóm:
- Hành động trình bày: là hành động người phát ngôn thông qua phát
ngôn của mình để xác nhận sự có mặt hoặc vắng mặt một sự việc nào đó hay
miêu tả lại một sự tình đang được nói đến (bao gồm một số hành động ngôn
ngữ tiêu biểu: kể, miêu tả, xác nhận, khẳng định, báo cáo…).
- Hành động điều khiển: là hành động người phát ngôn thông qua phát
ngôn của mình để đặt người nhận vào trách nhiệm thực hiện một hành động
tương lai (gồm một số hành động ngôn ngữ tiêu biểu như: yêu cầu, đề nghị, ra
lệnh, sai, mời, khuyên…).

19


- Hành động cam kết: là hành động người phát ngôn thông qua phát
ngôn của mình để tự đặt mình vào trách nhiệm phải thực hiện một hành động
trong tương lai (gồm một số hành động ngôn ngữ tiêu biểu: hứa, đe dọa…).
- Hành động biểu cảm: là hành động người phát ngôn thông qua phát
ngôn của mình để bày tỏ trạng thái tâm lí (gồm một số hành động ngôn ngữ
tiêu biểu: khen, chê, phê bình, xin lỗi, cảm ơn…).
- Hành động tuyên bố: là hành động người phát ngôn thông qua phát
ngôn của mình để làm cho nội dung mệnh đề trở nên có hiệu lực (gồm một số
hành động ngôn ngữ tiêu biểu: tuyên bố, tuyên án, buộc tội…).
1.1.3.2. Các kiểu hành động ngôn ngữ trong diễn ngôn truyện kể
Phân tích ngôn ngữ trần thuật trong các diễn ngôn truyện kể tương
đương với phân tích hành động ngôn trung, tức NKC làm thế nào và bằng
hình thức gì để phản ánh thực tại của một sự kiện và đồng thời làm cho hành
động ngôn từ của người trần thuật mang lại hiệu lực, hiệu quả nhất định.
Ngôn ngữ trần thuật là hình thức biểu hiện của hành động ngôn từ trần
thuật: hành động ngôn từ của người trần thuật có thể được nhận diện bằng các

đây, chúng tôi nêu ra cách phân loại của Genette trong công trình Figure III
(1972). Tác giả đã căn cứ vào một tiêu chí duy nhất là điểm nhìn để chia
thành 3 phương thức kể chuyện (3 kiểu truyện kể) sau đây:
1) Truyện không mang điểm nhìn
Loại truyện này thích hợp với kiểu người kể toàn tri và Todorov thì
tượng trưng bởi một công thức là: người kể chuyện > nhân vật (ở đó người kể
chuyện biết nhiều hơn nhân vật, nói nhiều hơn bất cứ một nhân vật nào).
2) Truyện kể theo điểm nhìn bên trong
Là loại truyện kể nội tâm, dòng tâm tư, người kể chuyện biết những điều
mà nhân vật biết, nhân vật nghĩ. Người kể chuyện và nhân vật nói như nhau, kể
theo điểm nhìn nhân vật. Trường hợp này người kể chuyện = nhân vật.
Có hai kiểu truyện kể theo điểm nhìn bên trong:
a) Truyện kể theo điểm nhìn bên trong cố định

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status