Đề tài: Phương thức kể chuyện trong truyện ngắn Tạ Duy Anh - Pdf 41

ƢỜ



Ƣ

-----o0o-----



ƢƠ
TRONG



Ứ KỂ






K

A

- 2014

A




N nn

c

M s

K

n

n

o

:

A

.

- 2014













ĐN

: Điểm nhìn

ĐNBT

: Điểm nhìn bên trong

ĐNBN

: Điểm nhìn bên ngoài

NKC

: Người kể chuyện

PTKC

: Phương thức kể chuyện

2








sự chuyên tâm với văn nghiệp của nhà văn. Nhưng, chỉ điều đó vẫn chưa phải là tất
cả để tạo thành một “hiện tượng Tạ Duy Anh” trong lòng bạn đọc và trong nền văn
học Việt Nam những năm 80 của thế kỉ XX. Điểm đặc biệt ở Tạ Duy Anh là sự nỗ
lực làm mới không ngừng. Ông không bao giờ cho phép bản thân đi lại lối mòn của
những thế hệ đi trước và lại càng không được phép lặp lại chính mình: “Điều duy
nhất khiến tôi quan tâm khi viết là chính mình có chán lối viết của mình hay
không?”. “Bất kì sự buông thả nào cũng phải trả giá, suốt nhiều năm tôi đã vất vả
tìm cách thoát khỏi chính mình”. Chính sự quyết tâm đó đã tạo nên một Tạ Duy
Anh mới mẻ trong quan niệm nghệ thuật đến hình thức thể hiện và đưa ông trở
thành người mở đường cho “dòng văn học bước qua lời nguyền” (Hoàng Ngọc
Hiến).
Chọn nghiên cứu P ươn t ức kể c u ện tron tru ện n ắn Tạ Du An , luận
văn đã đáp ứng được niềm đam mê về một hiện tượng độc đáo của nền văn học
Việt Nam hiện đại. Đồng thời, chúng tôi muốn độc giả thấy được sự nỗ lực trong
việc đổi mới nghệ thuật tự sự của tác giả trong tiến trình đổi mới của văn học Việt
Nam hiện đại và góp thêm một cứ liệu làm cơ sở nhận biết, đánh giá những nét mới
trong phương thức kể chuyện của truyện ngắn sau 1975.
2.
2.1.

ịch sử vấn đề
ịch sử nghiên cứu về phƣơng thức kể chuyện
Lí thuyết tự sự trong đó có vấn đề PTKC đã được nhiều nhà nghiên cứu trên

thế giới quan tâm. Trong công trình Dẫn luận n i n cứu văn

c (1960), Pospelov



v lịc sử do Trần Đình Sử chủ biên (2004) là tài liệu khái quát nhất về vấn đề
nghiên cứu tự sự trong nước. Trong đó, vấn đề cách kể chuyện, kiểu NKC, ĐN
được đề cập trong nhiều bài viết như: Vấn đề NKC tron t i p áp tự sự iện đại
(Đỗ Hải Phong); P ươn t ức tự sự c ủ ếu của sử t i Đam San của tác giả Đỗ
Hồng Kỳ; N

ệ t uật tự sự của N

Tất T trong tiểu t u ết Tắt đèn của tác giả

Trần Đăng Suyền; Tác giả Nguyễn Thị Thanh Minh với bài viết Một p on các tự
sự của N u ễn Tuân; Vấn đề kể c u ện tron tru ện n ắn đươn đại (Bùi Việt
Thắng); Về k ái niệm “tru ện kể ở n i t ứ ba” v “n ười kể c u ện ở n i t ứ
ba” (Nguyễn Thị Thu Thủy)…
Một số luận án Tiến sĩ cũng đã đề cập đến vấn đề PTKC, ngôn ngữ, điểm nhìn
trong truyện ngắn từ sau 1975 như: N n n
5

kể c u ện tron tru ện n ắn Việt


Nam sau 1975 (Điểm n ìn v n
Thị Thu Thủy; N n n

nn

kể c u ện) (2003) của tác giả Nguyễn

trần t uật tron tru ện n ắn Việt Nam sau 1975 (Tr n tư

óa đặc trưn n ân vật n ười kể, điểm n ìn, v

n tru ện kể (Nguyễn Thị Ngân Hoa)…

Những công trình nghiên cứu về ngôn ngữ kể chuyện, điểm nhìn cũng như
cách thức kể từ góc độ ngôn ngữ và văn học ở trên chính là cơ sở định hướng
cho chúng tôi khi tìm hiểu về PTKC.
2.2.

ịch sử nghiên cứu truyện ngắn ạ uy Anh
Tên tuổi Tạ Duy Anh được độc giả biết đến sau khi hai chùm truyện ngắn

Bước qua lời n u ền và Lũ vịt trời đoạt giải trong cuộc thi viết về nông nghiệp,
nông thôn do tuần báo Văn n ệ, báo N n n iệp Việt Nam và Đ i tiến nói Việt
Nam phối hợp tổ chức năm 1989. Báo cáo tổng kết cuộc thi, nhà thơ Hoàng Minh
Châu nhận định về truyện ngắn Bước qua lời n u ền: “báo iệu một tấm lòn lớn,
một tầm n ìn xa v một t i năn viết về s p ận con n ười”.
Tác giả Hoàng Ngọc Hiến với bài bình luận đăng trên báo N n n

iệp, số

50, tháng 12/1989 đã đánh giá cao vai trò mở đường của truyện ngắn Tạ Duy Anh :

6


“tru ện n ắn Tạ Du An l tín iệu của một dòn văn

c mới, dòn văn



ội, với m i trườn ,

với kẻ t ù, với n ười t ân, với c ín bản t ân mìn …”
Ở phương diện quan niệm nghệ thuật, trong bài viết Tạ Du An v Gi
biệt bón t i đăng trên trang evan.vnpress.net, tác giả Trần Thiện Khanh nhận
xét “Bắt đầu từ thay đổi nghề, thay đổi cách sống, thay đổi trạng thái tồn tại, đến
thay đổi cách nghĩ, thay đổi lối viết, văn phong… Tạ Duy Anh đã thực hiện
nhiều cuộc đổi thay trong thế giới văn hóa, thế giới nghệ thuật xét về mặt bút
pháp và tư tưởng. Cứ sau một tác phẩm trình làng, Tạ Duy Anh lại nhân thêm hy
vọng mình làm thay đổi được điều gì đó. Anh nói nhiều về sự thay đổi, mô tả sự
thay đổi từ nhiều góc độ, chứ không định ra một khung quy chiếu nhất định
nào”.
Tác giả Phùng Gia Thế trong bài Dấu ấn ậu iện đại tron văn

c VN

sau 1986 đã chỉ ra sự cách tân nghệ thuật toàn diện trong tác phẩm của Tạ Duy
7


Anh: “Đ c Tạ Du An , có t ể n ận ra sự k ai t ác tin tế đến run rẩ các
điểm n ìn, sự c ồn xếp các lớp t ời ian, sự kiện, sự soi c iếu từ n iều óc
n ìn k ác n au các m típ, c ủ đề, n ân vật”.
Trong những năm gần đây, đã có một số khóa luận, luận văn Thạc sĩ nghiên
cứu về truyện ngắn Tạ Duy Anh như: Tạ Du An từ quan niệm n
n

ệ t uật đến


- Xem xét sự chi phối của phương thức kể chuyện đối với đặc điểm sử dụng
ngôn ngữ trong các truyện ngắn của tác giả.
4. ối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các truyện ngắn của Tạ Duy Anh với những đặc sắc
trong phương thức kể chuyện.
- Phạm vi nghiên cứu: Tạ Duy Anh là nhà văn có nhiều truyện ngắn đặc sắc,
tuy nhiên trong đề tài này, chúng tôi không có điều kiện để khảo sát toàn bộ các
truyện ngắn của ông mà chỉ tập trung tìm hiểu, nghiên cứu PTKC trong 27 tác
phẩm tiêu biểu được in trong tập: Tạ Du An - Tru ện n ắn c n l c (Nhà xuất
bản Hội Nhà văn - 2003).
5. hƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
chính sau:
- Phương pháp phân tích ngữ dụng: luận văn sử dụng phương pháp này để nhận
diện điểm nhìn trong lời nói trong các tác phẩm (vì điểm nhìn thuộc cấu trúc
nghĩa hàm ẩn trong tiền giả định ngôn ngữ, tiền giả định lời nói, hàm ẩn ngôn
ngữ, hàm ẩn lời nói).
- Phương pháp phân tích tu từ học: được sử dụng để làm rõ hiệu quả nghệ thuật
mà PTKC đem lại.
- Thủ pháp thống kê, phân loại: Luận văn sử dụng thủ pháp này trong việc khảo
sát, tập hợp và phân loại các kiểu người kể chuyện, điểm nhìn, một số lớp từ
trong lời văn miêu tả, các cuộc đối thoại, độc thoại của nhân vật trong các truyện
ngắn Tạ Duy Anh.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: nhằm mục đích phân tích các ngữ liệu. Từ
đó tổng hợp, khái quát theo các bình diện nghiên cứu.
9


6. óng góp của luận văn
6.1. Về mặt lí luận: Luận văn góp phần khẳng định tính hữu dụng của lí thuyết


hƣơng 1
Ơ Ở Í

ẾT

Nghiên cứu đề tài P ươn t ức kể c u ện tron tru ện n ắn Tạ Du Anh
đòi hỏi phải có một hệ thống lí thuyết vững chắc làm nền tảng. Vì vậy, trong
luận văn này, chúng tôi sẽ sử dụng hệ thống lý thuyết về hành vi ngôn ngữ và hệ
thống lí thuyết tự sự làm cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu.
1.1.

ý thuyết hành vi ngôn ngữ

1.1.1. Khái niệm hành vi ngôn ngữ
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu : “K i c ún ta nói năn l c ún ta
c ún ta t ực iện một loại

n độn đặc biệt m p ươn tiện l n n n

n độn ,
.” [13,

88]. Như vậy, hành động (hành vi) ngôn ngữ chính là hành động được thực hiện
bằng phương tiện ngôn ngữ.
1.1.2. ác loại hành vi ngôn ngữ
Theo Austin – người đầu tiên xây dựng lí thuyết cho khái niệm “trò chơi ngôn
ngữ” (hành vi ngôn ngữ), có 3 loại hành động ngôn ngữ lớn: hành vi tạo lời, hành vi
mượn lời và hành vi ở lời.
- H n vi tạo lời: là hành vi sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như ngữ âm, từ, các

- H n vi điều k iển: là hành vi người phát thông qua phát ngôn của mình để
đặt người nhận vào trách nhiệm thực hiện một hành động tương lai (gồm một số
hành động ngôn ngữ tiêu biểu như: yêu cầu, đề nghị, ra lệnh, sai, mời, khuyên…)

12


- H n vi cam kết (hành động hứa hẹn) là hành động người phát thông qua phát
ngôn của mình để tự đặt mình vào trách nhiệm phải thực hiện một hành động trong
tương lai ( một số hành động ngôn ngữ tiêu biểu như: hứa, đe dọa…)
- H n vi biểu cảm là hành vi mà người phát thông qua phát ngôn của mình để
bày tỏ trạng thái tâm lí (gồm một số hành động ngôn ngữ như: khen, chê, phê bình,
xin lỗi, cảm ơn…)
- H n vi tu n b là hành động người phát ngôn thông qua phát ngôn của mình
để làm cho nội dung mệnh đề trở nên có hiệu lực (trở thành hiện thực). Hành vi
biểu cảm gồm một số hành vi ngôn ngữ tiêu biểu như: tuyên bố, tuyên án, buộc
tội….
1.1.3. ác kiểu hành vi ngôn ngữ trong tác phẩm tự sự
Tìm hiểu các kiểu hành vi ngôn ngữ của người kể chuyện trong tác phẩm tự sự,
chúng tôi nhận thấy có 4 kiểu hành vi ngôn ngữ đặc trưng, phổ biến nhất:
- H n vi tái iện: nhằm tái hiện lại sự việc.
- H n vi mi u tả: giúp người đọc hình dung được các sự việc, chi tiết, nhân vật,
thời gian, không gian của câu chuyện.
- H n vi biểu cảm: bày tỏ trạng thái tâm lí của người kể, làm cho câu chuyện
giàu cảm xúc.
- H n vi bìn luận, đán

iá: giúp người đọc thấy rõ thái độ, cách nhìn nhận,

đánh giá của người kể với sự việc, nhân vật trong tác phẩm.

sáng tạo ra, có thể là một người biết câu chuyện nào đó. Một tác phẩm có thể có
một hoặc nhiều người kể chuyện” [16, 221].
Tác giả Lê Ngọc Trà viết: “Người kể chuyện là thuật ngữ chỉ nhân vật
đóng vai trò chủ thể của lời kể chuyện, là người đứng ra kể trong tác phẩm văn
học” [38, 153]. Trong bất kỳ tác phẩm nào cũng có người kể chuyện. Anh ta có
mặt khắp mọi nơi, ở mọi lúc để giới thiệu nhân vật, để kể lại các sự kiện và thể
hiện chiều sâu tâm lí nhân vật. Anh ta có thể quan sát nhân vật từ nhiều góc độ,
14


khi đứng bên ngoài (điểm nhìn hướng ngoại), khi thâm nhập vào nội tâm nhân
vật (điểm nhìn hướng nội), để sau đó rút ra ý nghĩa nhân sinh cho câu chuyện.
Tác giả Lại Nguyên Ân lại đưa ra một định nghĩa khá sâu sắc về người kể
chuyện trong trần thuật tự sự: “Trần thuật tự sự được dẫn dắt bởi một ngôi được
gọi là người trần thuật – một loại trung giới giữa cái được miêu tả và thính giả
(độc giả), loại người chứng kiến và giải thích về những gì đã xảy ra” [9,
360].Trong định nghĩa này, nhà lý luận một lần nữa khẳng định vai trò cầu nối
và dẫn dắt câu chuyện của người kể chuyện trong tác phẩm tự sự, đồng thời
nhấn mạnh vai trò c ứn kiến và iải t íc của hình tượng này. Đây là những
dấu hiệu cơ bản nhất để nhận diện NKC trong các sáng tác tự sự từ xưa đến nay.
TZ. Todorov thì cho rằng “NKC là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế
giới tưởng tượng (...) không thể có trần thuật thiếu NKC. NKC không nói như
các nhân vật khác mà kể chuyện. Như vậy, kết hợp đồng thời trong mình cả
nhân vật và người kể, nhân vật nhân danh cuốn sách được kể có vị trí hoàn toàn
đặc biệt” [31, 116].
Như vậy, mỗi tác giả có những quan niệm riêng về NKC, nhưng nhìn
chung có thể khái quát lại những nét chính sau:
- NKC là chủ thể của hành vi kể chuyện, là người nói trong tác phẩm.
NKC chính là hình tượng do nhà văn sáng tạo nên, mang nhiệm vụ trần thuật và
chỉ im lặng khi nhân vật lên tiếng. NKC là người đại diện phát ngôn cho tác giả,

Theo G.Genette - người chủ trương nghiên cứu văn bản cấu trúc nội tại tác
phẩm tự sự, vấn đề NKC được đặt trong mối tương quan với các yếu tố nội cấu

16


trúc như tiêu cự (focus), tiêu điểm (focalization), thức (mood), giọng điệu
(voice) và tần suất.
- Xuất phát từ giọng, G.Genette đưa ra bốn kiểu kể chuyện tương ứng với
bốn kiểu NKC khác nhau. Nếu dựa vào việc xác định nơi truyện kể bắt đầu thì
có hai kiểu NKC là: NKC bên trong (intradiegetic narrator) và NKC bên ngoài
(extradiegetic narrator).
- Dựa vào mức độ liên quan vào cốt truyện có thể chia thành: NKC đồng sự
(homodiegetic narrator) và NKC dị sự (heterodiegetic narrator).
Đồng thời, ông nhận thấy rằng NKC bên trong tương đối rõ ràng, là một
nhân vật trong truyện kể lại câu chuyện do anh ta trực tiếp tham gia hay được
chứng kiến. Còn kiểu người kể chuyện bên ngoài khá nhập nhằng, phức tạp. Bởi
vậy cần phải gắn NKC với các tiêu cự, tiêu điểm, điểm nhìn và trả lời được các
câu hỏi Ai kể? Đứng ở đâu để kể? Từ đó, Genette đã phân biệt NKC thành ba
kiểu cơ bản là NKC toàn tri – NKC đứng bên ngoài nhưng có vai trò như thượng
đế, biết hết mọi chuyện nhân sinh, vũ trụ, tương lai; NKC bên trong – NKC vốn
là một nhân vật trong câu chuyện; và NKC bên ngoài tức NKC nằm ngoài câu
chuyện, chỉ kể lại các tình tiết truyện một cách khách quan chứ không đi sâu vào
tâm lí nhân vật.
Khác với G.Genette, hai nhà nghiên cứu R. Scholes và R. Kellogy cho rằng
phải đặt NKC trong mối quan hệ với thế giới được kể, quan hệ với các sự kiện
và nhân vật được kể. Từ đó hai ông phân loại NKC làm bốn kiểu: NKC truyền
thống (traditional narator) , sử quan (histor), NKC chứng nhân ( eye – witness)
và NKC toàn tri (omniscience). Cách phân loại này cho thấy họ đã đặt NKC
trong tiến trình phát triển của lịch sử văn học từ cổ đại đến hiện đại và đặc biệt



- Tôi nhớ bố có chiếc nhẫn ba đồng cân, lẽ nào bác đoạt tất.
Thằng Tế chối. Thằng Phở chờ chia phần. Thằng So điên tiết xông vào đập tan
chiếc bàn thờ, không một khe nhỏ nào không bị nó moi móc”. [71, 96]
+ Một trường hợp khác của NKC hàm ẩn, trường hợp NKC toàn tri: NKC
đứng ngoài, đứng trên thế giới được trình bày để quan sát, kể và bình luận, lý
giải sự kiện, am tường mọi chuyện. Chẳng hạn, NKC trong Án sán n n , G
v n n ,G t t
+ NKC có thể tựa vào ĐN của một nhân vật hay hóa thân vào nhân vật để
kể lại câu chuyện. Lúc này, NKC sẽ nhìn thấu cả thế giới nội tâm với những suy
nghĩ thầm kín nhất của nhân vật như NKC trong truyện Lũ vịt trời Tác giả đã
tựa vào ĐN của lão Khổ để kể lại những cảm xúc của người nông dân khi bị mất
mùa, bị chèn ép.
Ở một bình diện khác, Booth đưa ra khái niệm NKC tin cậy và NKC
không đáng tin cậy.
Theo ông, NKC là đáng tin cậy khi anh ta nói và hành động hoà hợp với
những chuẩn mực của tác phẩm. Còn NKC không đáng tin cậy không phải là
người nói dối mà là anh ta có “khả năng đánh lừa”, anh ta được trình bày như là
lời nói của anh ta bao giờ cũng hoà hợp với chuẩn mực của cuốn sách, nhưng
thực tế lại không phải là như thế . Ví dụ, NKC trong các truyện V n lửa, P ẩm
tiết

của Nguyễn Huy Thiệp là NKC không đáng tin cậy, anh ta “đánh lừa” độc

giả bằng cách đưa ra những lời kể, những nhận định phi thực tế của các nhân
vật...[dẫn theo 36, 30]
Những người kể không đáng tin cậy cũng rất khác nhau. Một số thì cách
xa độc giả và tác giả, một số lại rất gần với quan điểm lý tưởng của tác giả. Vì



Tác giả Thu Thủy cho rằng “Khi người nói thực hiện hành vi nói năng thì
đồng thời phải bộc lộ cái vị trí quyền lực và thân hữu của mình trong quan hệ
với người nghe hoặc người được nói đến, dù người nói có mục đích bộc lộ cái vị
trí này hay không”. [36, 12]
Quan hệ thân hữu thường có ba mức độ: Tính thân hữu cao khi hai người có
nhiều đặc tính xã hội chung như sự quan tâm, thói quen, tình cảm như các thành
viên trong cùng một gia đình; Tính thân hữu bình thường khi hai người có đặc
tính xã hội chung như cùng tôn giáo, địa phương, nguồn gốc nhưng không
chung sự quan tâm, tình cảm; còn tính thân hữu thấp khi hai người có rất ít
những đặc tính xã hội giống nhau.
Quan hệ quyền uy thường dựa trên sự tương xứng về tiền bạc, địa vị, tuổi
tác. Có ba mức độ quan hệ quyền uy: quyền lực cao thường là người có địa vị xã
hội, tuổi tác cao, nhiều tài sản... ; quyền lực ngang bằng là người có nghề
nghiệp, tuổi tác, vị trí xã hội…tương ứng với các vị trí nói trên ở người hội thoại
với mình; quyền lực thấp): là người kém hơn về vị trí xã hội, nghề nghiệp, tuổi
tác, nhận thức. Tuy nhiên, sự phản ánh này chỉ là trong thực tế. Trong tác phẩm
văn học quyền lực và thân hữu của người nói, người nghe, người được nói đến
không phải lúc nào cũng phản ánh đúng vị trí thực sự của anh ta mà nhiều khi bị
khúc xạ theo chủ quan của người nói.
- Xuất phát điểm về tâm lí: là trạng thái tâm lí của người nói, người nhìn
khi thực hiện quan sát hoặc phát ngôn. Đó có thể là trạng thái vui, buồn, giận,
ghét…
Ví dụ : “ L o K ổ uất sặc máu, ầm l n Bởi vì tao k n ăn cướp được
n iều n ư c ún m ”.[40, 21]

21


Trong ví dụ trên trạng thái khi Lão Khổ phát ngôn là căm phẫn những kẻ

b) N ân t được ti u điểm oá
Nhân tố được tiêu điểm hoá (N.ĐTĐH) là nhân vật thuộc về thế giới của
truyện, là đối tượng được NTĐH quan sát, nhận thức hoặc kể lại. Trong truyện
ngắn Một câu c u ện cười, mọi hành động, việc làm của người cha đều được
nhìn, cảm nhận, đánh giá qua con mắt của người con, là nhân vật xưng “tôi”
trong truyện. Và như vậy, người cha chính là N.ĐTĐH.
Khảo sát tập truyện ngắn chọn lọc Tạ Duy Anh, chúng tôi nhận thấy có
nhiều trường hợp đặc biệt khi N.ĐTĐH là NTĐH, cũng đồng thời là NKC như
truyện Bước qua lời n u ền, Luân

ồi, N ười k ác. Mặt khác, phần lớn

N.ĐTĐH trong truyện cũng được kể theo ĐN bên trong. Đó là những nhân vật
có thế giới nội tâm phong phú, tâm trạng, tình cảm phức tạp. Chẳng hạn, lão
Khổ với sự đau đớn trước cảnh thiên tai, mất mùa không thể thực hiện giấc mơ
xây cho vợ năm gian nhà to nhất làng trong Lũ vịt trời; đó còn là sự dằn vặt,
khốn khổ khi cứ phải “đeo c iếc mặt nạ son p ấn” mà không được sống với
chính mình của nhân vật “tôi” trong N ười k ác…
c) N ười p át n n: Là người sử dụng các phương tiện ngôn ngữ để thể
hiện ĐN trong tác phẩm.
d) N ười n ận: Đây là nhân tố không thể thiếu trong cấu trúc của một
ĐN, vì ĐN là để gửi đến một người nhận nào đó. Đối với tác phẩm văn học, độc
giả chính là người tiếp nhận ĐN và làm cho ĐN có ý nghĩa trong việc hiểu, đánh
giá tác phẩm một cách thấu đáo.
e) Ti u điểm
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status