BỘ GI O DÁ ỤC V À Đ O TÀ ẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LƯU THỊ THANH TRÀ
ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH CHỐNG MỸ
TRONG TRUYỆN NGẮN BẢO NINH
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SỐ: 60.22.32
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
TS. PHẠM TUẤN VŨ
Vinh, 2006
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 1
3. Mục đích yêu cầu của việc giải quyết đề tài 5
4. Giới hạn của việc giải quyết đề tài 5
5. Phương pháp nghiên cứu 6
6. Dự kiến đóng góp của luận văn 6
7. Cấu trúc của luận văn 6
Chương
1.
Chiến tranh và nhân cách con người 7
1.1. Nhìn qua truyện ngắn về đề tài chiến tranh sau 1975 7
1.2. Vấn đề chiến tranh và nhân cách con người trong truyện
ngắn Bảo Ninh
11
1.3 Sự tác động của chiến tranh đến nhân cách con người
trong truyện ngắn Bảo Ninh
1.2 Bảo Ninh là một nhà văn trưởng thành khi chiến tranh chống Mỹ đã
kết thúc. Nghiên cứu đề tài này nhằm tìm hiểu một nhà văn hậu chiến đã nhìn
nhận và thể hiện cuộc chiến tranh đó như thế nào.
1.3 Bảo Ninh còn là tác giả của cuốn tiểu thuyết xuất sắc viết về chiến
tranh (Thân phận của tình yêu). Nghiên cứu đề tài này trong sự đối sánh với
đề tài chiến tranh ở cuốn tiểu thuyết trên góp phần nhận thức thi pháp của
truyện ngắn và tiểu thuyết.
2. L CH S V N Ị Ử Ấ ĐỀ
Bảo Ninh là một trong số những nhà văn viết về đề tài chiến tranh có
đóng góp trong cách nhìn về đề tài chiến tranh trong văn học hậu chiến. Đề tài
chiến tranh được Bảo Ninh thể hiện trên hai thể loại: truyện ngắn và tiểu
thuyết. Nghiên cứu về các sáng tác của Bảo Ninh đang thu hút sự quan tâm
của người cầm bút bởi những đặc trưng về thể loại và nội dung phản ánh.
Trong Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Bùi Việt Thắng khẳng định Bảo Ninh là
một trong những nhà văn có duyên với truyện ngắn [13,337]. Bích Thu trong
Những thành tựu của truyện ngắn sau 1975 cũng xem Bảo Ninh là một cây bút
ấn tượng với người đọc [51,32]. Đi vào tìm hiểu nghiên cứu thi pháp truyện
ngắn Bảo Ninh, tác giả cuốn sách Bình luận truyện ngắn chỉ ra truyện ngắn
Khắc dấu mạn thuyền là kiểu tình huống tượng trưng [50,49]. Hay
WayneKarlin trong lời giới thiệu cho tuyển tập truyện ngắn Tình yêu sau
3
chiến tranh nhận thấy truyện ngắn Bí ẩn của làn nước của Bảo Ninh: "in dấu
niềm khao khát tình yêu" [59,12], "đối diện trực tiếp với hậu quả chiến tranh,
những bậc cha mẹ bị mất con" [59,14]. Đó là những gợi ý tuy ít ỏi của các tác
giả đi trước song rất có ý nghĩa cho chúng tôi khi nghiên cứu từng truyện
ngắn Bảo Ninh để làm rõ những đặc sắc của truyện ngắn Bảo Ninh trong việc
thể hiện đề tài chiến tranh chống Mỹ.
Bảo Ninh là tác giả của cuốn tiểu thuyết rất thành công về đề tài chiến
tranh chống Mỹ: Thân phận của tình yêu, tác phẩm đạt giải nhất của Hội Nhà
văn Việt Nam năm 1991. Nghiên cứu về đề tài chiến tranh trong tác phẩm này
Buồn đau đến thành mãn tính, ám ảnh, luôn mấp mé với bệnh hoạn" [23,86].
Nguyễn Thái Hòa trong công trình Những vấn đề thi pháp của truyện lại
nhấn mạnh đến cách xử lý thời gian linh hoạt của Bảo Ninh. Theo nhà nghiên
cứu, Bảo Ninh đã sử dụng thủ pháp đồng hiện trong cuốn tiểu thuyết này.
Nguyễn Thái Hòa viết: "Phong phú và đầy đặn hơn là cách kể, cách xử lí thời
gian của Bảo Ninh trong Thân phận của tình yêu. Cả quãng đời thơ ấu, đi học,
trước chiến tranh, sau chiến tranh của nhân vật Kiên không phải liên tục, đều
đặn mà lần giở theo hồi ức" [21,143], "sự xê dịch trong Thân phận của tình
yêu mới thật là một thách thức đối với người đọc. Nó không có dấu hiệu báo
trước và cũng chẳng biết kết thúc lúc nào" [21,131].
Trên tạp chí Văn học số 6 (1991), với bài viết Văn xuôi gần đây và quan
niệm về con người Bùi Việt Thắng đã đưa ra nhận định hết sức xác đáng về
quan niệm nhân cách con người trong tiểu thuyết Thân phận của tình yêu. Ông
viết: "Cái phần được của Thân phận của tình yêu chính là ở chỗ Kiên mới dám
nhìn thẳng, nhìn sâu vào quá khứ, mới dám đối diện với hiện tại, rất công
bằng mà phán xét lịch sử. Cao hơn nữa là đối diện với chính mình, rồi xám
hối, tranh đấu và vượt lên" [49,17]. Đó là những định hướng quý báu cho
chúng tôi khi nghiên cứu so sánh tiểu thuyết Thân phận của tình yêu và truyện
ngắn Bảo Ninh cùng viết về đề tài chiến tranh chống Mỹ.
5
Ngoài tập truyện ngắn và tiểu thuyết Thân phận của tình yêu, gần đây
Bảo Ninh còn viết một số bài trên báo Văn nghệ trẻ bàn về sự đổi mới của văn
học. Trong phần hai của bài viết Văn học đổi mới đến từ cuộc kháng chiến,
Bảo Ninh đã chỉ trích một số quan niệm ấu trĩ khi xử lí Cánh đồng bất tận của
Nguyễn Ngọc Tư và lý giải về việc thưởng thức văn học của độc giả. Đồng
thời đã khen ngợi sự đổi mới đề tài chiến tranh của Thái Bá Lợi (truyện ngắn)
và Lê Lựu (tiểu thuyết). Tác giả viết: "Tôi nghĩ rằng họ, chẳng hạn nhà văn
Thái Bá Lợi của Hai người trở lại trung đoàn, nhà văn Lê Lựu của Thời xa
vắng, có ý chí đổi mới sáng suốt và mãnh liệt đồng thời quả cảm và gan lỳ
chẳng kém gì người nông dân gan dạ dám chọn con đường đúng đắn nhưng
Như vậy, chưa có một công trình nào thể hiện cái nhìn tổng quát toàn
diện, có hệ thống, chuyên sâu trong việc nghiên cứu đề tài chiến tranh chống
Mỹ trong tiểu thuyết Bảo Ninh. Vì thế, có một cái nhìn hệ thống về đề tài
chiến tranh chống Mỹ trong truyện ngắn Bảo Ninh là một vấn đề cần thiết.
3. M C CH YÊU C U C A VI C GI I QUY T T IỤ ĐÍ Ầ Ủ Ệ Ả Ế ĐỀ À
3.1 Chỉ ra được phương thức tiếp cận và thể hiện đề tài chiến tranh
trong truyện ngắn Bảo Ninh.
3.2 So sánh việc thể hiện đề tài chiến tranh trong tập truyện ngắn này
với việc thể hiện đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết Thân phận của tình yêu.
3.3 Từ việc giải quyết những vấn đề trên, góp phần hiểu thêm một số
đặc điểm của truyện ngắn.
4. GI I H N C A VI C GI I QUY T T IỚ Ạ Ủ Ệ Ả Ế ĐỀ À
1. Lu n v n nghiên c u t i chi n tranh trong nh ng truy n ng nậ ă ứ đề à ế ữ ệ ắ
B o Ninh c t p h p trong ả đượ ậ ợ Truy n ng n B o Ninhệ ắ ả do Nxb Công an nấ
h nh n m 2002. ó l nh ng truy n ng n: à ă Đ à ữ ệ ắ Tr i b y chú lùn, Th i ti t c aạ ả ờ ế ủ
ký c, H N i lúc không gi , R a tay gác ki m, Mây tr ng còn bay, H uứ à ộ ờ ử ế ắ ữ
khuynh, Kh c d u m n thuy n, Ngôi sao vô danh, Bí n c a l n n c, Bênắ ấ ạ ề ẩ ủ à ướ
l cu c t n công, Lá th t Quý S u, Ba l m t, La-mác xây-e.ề ộ ấ ư ừ ử ẻ ộ
7
2. i sánh v i ti u thuy t Đố ớ ể ế Thân ph n c a tình yêuậ ủ c a cùng tác giủ ả
nh ng v n liên quan.ở ữ ấ đề
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Vận dụng những phương pháp nghiên cứu văn học phổ biến: phương
pháp khảo sát - thống kê, phương pháp miêu tả - phân tích và chú trọng
phương pháp so sánh: so sánh trong nội bộ tập truyện ngắn, so sánh những
vấn đề liên quan ở tiểu thuyết Thân phận của tình yêu.
6. DỰ KIẾN ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Lu n v n i sâu tìm hi u nghiên c u v t i chi n tranh ch ngậ ă đ ể ứ ề đề à ế ố
M trong truy n ng n B o Ninh m t cách có h th ng trong s i sánh v iỹ ệ ắ ả ộ ệ ố ự đố ớ
ti u thuy t ể ế Thân ph n c a tình yêuậ ủ c a cùng tác gi .ủ ả
nhìn về cuộc chiến còn phiến diện, chỉ ca ngợi mà chưa khơi sâu, mô tả
những đau khổ của chiến tranh, những con người dù cận kề cái chết vẫn được
lý tưởng hóa. Đó là hình ảnh của những người anh hùng như anh Núp, Tnú...,
đó là hình ảnh của chị Sứ, chị út Tịch... Những điều đó đã đem lại cho văn
9
xuôi trong thời kỳ này ít nhiều hạn chế khi viết về đề tài chiến tranh. Trải qua
bảy thế kỷ truyện ngắn dân tộc từ Lý Tế Xuyên (thế kỷ XIV) đến nay, có thể
thấy rằng truyện ngắn Việt Nam đã đạt đến trình độ của truyện ngắn hiện đại,
với "một kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt cuộc
sống rất riêng, mang tính chất thể loại" [17,37]. Thế nhưng ở giai đoạn 1945-
1975 ở thể loại truyện ngắn còn có những hạn chế ở cái nhìn về cuộc chiến.
Ngôn ngữ và nghệ thuật trần thuật trong các tác phẩm còn phẳng lặng, một
chiều, cái gai góc, đau đáu khi viết về chiến tranh thật sự mờ nhạt hoặc là
không có. Sau năm 1975, đất nước bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ xây
dựng hòa bình trong xu thế đổi mới hội nhập. Đề tài chiến tranh vẫn là nguồn
cảm hứng lớn cho nhiều nhà văn. Không chỉ với những nhà văn mặc áo lính,
hay những nhà văn trưởng thành từ hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân
tộc mà cả với những cây bút trẻ sinh ra và lớn lên trong cuộc sống hòa bình.
Suy nghĩ về đề tài chiến tranh, nhà văn Chu Lai cho rằng: "Chiến tranh
là một siêu đề tài và người lính cũng là siêu nhân vật. Càng khám phá, càng
thấy những độ rung không mòn nhẵn. Ở đó mọi thứ đều được nén chặt đến
ngột ngạt và nếu biết cách khai mở thì đấy là đối tượng văn học vĩnh cửu
nhất" [28,41]. Còn Nguyễn Minh Châu, dù viết rất nhiều về chiến tranh
nhưng khi nhìn nhận về nó ông cũng thành thật nhận thấy: "So với tầm vóc
sâu rộng của hiện thực đời sống bộ đội và nhân dân ta trong hơn một phần tư
thế kỷ qua thì công việc của mình chỉ như vừa mới đặt bàn chân lên cái bậc
cửa của tòa thâm cung đồ sộ, đầy biến động và thần bí, vừa mang tính chất
thời cuộc vừa mang tính chất lịch sử đó", "rất nhiều cuộc đời của những con
người bình thường nhưng chứa đựng số phận của cả đất nước, chứa đựng cả
một bài học lớn về đường đời, đang cần ngòi bút của nhà văn soi rọi trên
hơn hai mươi năm sau. Tác giả đã cố gắng thoát ra khỏi khuôn khổ sáo mòn
của đề tài chiến tranh.
Có thể nói mạch chảy xuyên suốt trong nền văn học Việt Nam tính từ
sau cách mạng tháng tám là đề tài chiến tranh. Văn học của 30 năm chiến
tranh "tiêu biểu cho nền nghệ thuật còn tươi ròng sự sống, một nền nghệ thuật
11
thấm đẫm mồ hôi, khói và thuốc súng, một nền nghệ thuật chân chất, đẹp và
khỏe như những chàng trai đang độ lớn". Do yêu cầu của thời chiến tranh mỗi
tác phẩm văn học phải phục vụ cho mục đích chính trị nên những tác phẩm
văn học của thời kỳ này đã miêu tả hiện thực cần có, nên có chứ chưa phải là
miêu tả hiện thực đang tồn tại. Bởi vậy những hiện thực chiến tranh khốc liệt
còn bị khuất lấp, bao khó khăn, gian khổ trong đời sống người lính chưa được
phơi bày. Số phận cá nhân, những con người phản bội Tổ quốc, những mâu
thuẫn trong nội bộ chưa được phanh phui. Hiện thực chiến tranh cụ thể với
những trận đánh lớn, dữ dội đã bị đẩy lùi về sau. Truyện ngắn Bảo Ninh xây
dựng chiến tranh với cái nhìn của một người nghĩ về chiến tranh và viết sau
chiến tranh, nhưng cuộc chiến ấy vẫn đầy máu và nước mắt. Thế giới con
người luôn là niềm khao khát được khám phá của văn học, trong mảng đề tài
chiến tranh của văn học giai đoạn 1945 -1975 việc miêu tả con người thực sự
đang còn những non yếu. Bước sang giai đoạn mới, con người trong chiến
tranh được miêu tả toàn vẹn hơn, mỗi nhân vật là một con người lưỡng diện,
con người với tất cả những mặt tốt xấu của đời... đó là Lực trong Cỏ lau, Hòa
trong Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (Nguyễn Minh Châu). Truyện
ngắn sau 1975 còn quan tâm đến kiểu con người mới: con người tự nhận thức
như nhân vật người họa sĩ trong truyện ngắn Bức tranh..., con người tự nhiên
như các cô gái trong Người sót lại của rừng cười của Võ Thị Hảo..., con người
tâm linh như người lính trong Bến trần gian của Lưu Minh Sơn... Chỉ riêng về
việc thể hiện người lính, truyện ngắn sau 1975 đã xây dựng hàng loạt kiểu
nhân vật mới, đó là kiểu nhân vật lạc thời, lạc môi trường, nhân vật tha hóa,
nhân vật chấn thương...
mới, đã cho độc giả những trang văn viết về đề tài chiến tranh ở hai thể loại
truyện ngắn và tiểu thuyết rất sống động, trung thực và đầy tính nhân văn.
Điều này dường như đã làm nên một phong cách rất riêng của nhà văn xứ
Quảng Bình cát trắng này.
13
1.2. V N CHI N TRANH V NH N C CH CON NG I TRONG TRUY NẤ ĐỀ Ế À Â Á ƯỜ Ệ
NG N B O NINHẮ Ả
Chiến tranh là một nhân tố có tác động cực kỳ to lớn đối với nhân cách
con người. Nhân cách là "tư cách và phẩm chất con người" [42,687], mỗi con
người ai cũng có tư cách và phẩm chất. Tư cách, phẩm chất đó như thế nào
phụ thuộc vào hoàn cảnh sống, điều kiện sống của mỗi cá nhân. Bùi Việt
Thắng cho rằng: "quan niệm về nhân cách là biểu hiện một trình độ cao của sự
khái quát nghệ thuật đời sống " [49,17]. Tác giả còn khẳng định: "nhân cách là
một khái niệm rộng và cao hơn khái niệm nhân vật tích cực" [49,17]. Nói đến
nhân cách con người là nói đến những điểm tốt đẹp của người trước cuộc
sống (Bùi Việt Thắng). Nhưng cuộc sống hôm nay "vốn đa sự" liệu con người
có còn giữ được nhân cách của mình không? Chiến tranh đối với người lính
hậu chiến như thế nào?
Chiến tranh chống Mỹ chiếm trọn hai mươi năm của thế kỷ. Con người
Việt Nam phải chịu sự tác động ghê gớm của cuộc chiến tranh trường kỳ ấy.
Tới nay hòa bình đã trở lại nhưng những dư âm của chiến tranh vẫn là nỗi ám
ảnh khôn nguôi đối với con người thời hậu chiến. Sức tác động của chiến
tranh đến nhân cách con người cả trong chiến tranh và trong hòa bình vẫn là
một chủ đề của văn học hôm nay. Bên cạnh các tác giả văn học khác, Bảo
Ninh thể hiện sự tác động của chiến tranh đến nhân cách con người rất độc
đáo. Ở đây chúng tôi đi vào tìm hiểu nhân cách con người trong truyện ngắn Bảo
Ninh, từ đó nhận thấy cùng với các nhà văn hiện đại, Bảo Ninh đã góp phần tạo
điều kiện cho sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người văn học thời hậu
chiến.
Truyện ngắn Bức tranh của Nguyễn Minh Châu ra đời năm 1976 được
ng i t chí, t lòng... Ki u con ng i khác nhau y th hi n quan ni mườ ỏ ỏ ể ườ ấ ể ệ ệ
ngh thu t v con ng i c a các nh v n.ệ ậ ề ườ ủ à ă
15
1.2.1 Người lính dưới góc nhìn con người cá nhân
Văn học hôm nay đã tiếp cận cuộc sống con người cá thể hơn. Nhìn
tổng thể, trong văn học sau 1975, quan niệm nghệ thuật về con người xuyên
suốt, nổi bật là quan niệm về con người cá thể. Nhìn nhận con người trong
cuộc sống với đầy biến động, Bảo Ninh đã đem đến cho người đọc con người
cá thể với giọng nói riêng, tính cách riêng. Mỗi con người một số phận, mỗi
con người với niềm đau hạnh phúc riêng trong một cảm nhận về thực tại...Tất
cả họ hiện lên trang giấy như là nỗi ám ảnh về một quá khứ đầy đau thương
nhưng rất đỗi anh hùng.
Con người cá thể bắt đầu xuất hiện ở phương tây từ thời đại Phục hưng,
trong những tác phẩm của Sexpia, của Kant..., giải phóng cá nhân con người
đó là mục tiêu của chủ nghĩa nhân văn thế kỷ XVI chống lại lễ giáo phong
kiến và nhà thờ.
Ở nước ta với nghìn năm Bắc thuộc, một thời gian quá dài ảnh hưởng
tư tưởng Nho giáo. Bên cạnh đó Phật giáo với triết lý "vô ngã" đã phủ nhận
sự tồn tại của cá nhân. Trong văn học trung đại đã có con người cá nhân xuất
hiện ở mức độ đậm nhạt khác nhau nhưng chưa hình thành quan niệm về con
người cá nhân.
Đến đầu thế kỷ XX, do nhu cầu phát triển tự thân của văn học, văn học
có sự biến chuyển theo con đường hiện đại hóa. Ý thức con người trỗi dậy lớn
lao, nếu cá nhân trong văn học trung đại là cá nhân vũ trụ, tự nhiên thì ở đây
được đổi mới về chất và hết sức đa dạng. Tự lực văn đoàn đã mở đầu cách
miêu tả thế giới nội tâm con người còn Thơ mới đã thể hiện được số phận cá
nhân, nói rõ những "điều kín nhiệm u uất", "phát hiện cái tôi thành thực, công
khai xem cái tôi cá nhân như một cách thế nhìn đời hợp pháp". Mặc dù Tự
Lực Văn Đoàn và Thơ mới đã có những quan niệm nghệ thuật về con người
cá thể nhưng cuối cùng cũng đi đến cực đoan và bế tắc.
văn học giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX với kiệt tác
Truyện Kiều (Nguyễn Du), với Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan,
17
Đoàn Thị Điểm,... nhưng ở đó con người tự nhận thức còn nằm trong khuôn
khổ hạn hẹp của lễ giáo phong kiến. Trong văn học cận hiện đại con người
này từng xuất hiện trong các sáng tác của Nam Cao, Vũ Trọng Phụng... và ở
đó con người tự nhận thức với nhiều hạn chế. Con người tự nhận thức tiếp tục
xuất hiện trong văn học sau năm 1975 ở sáng tác của Nguyễn Minh Châu,
Nguyễn Huy Thiệp... Đến Bảo Ninh, con người tự nhận thức trong hoàn cảnh
trước và sau chiến tranh trở thành một hình tượng sâu sắc.
Con người tự nhận thức trong truyện ngắn Bảo Ninh thể hiện ở khát
vọng kiếm tìm, ở sự chiêm nghiệm, ở sự không hoàn thiện. Một loạt truyện
ngắn viết về chiến tranh của Bảo Ninh thể hiện người lính trong khát vọng
kiếm tìm. Kiếm tìm tình yêu, kiếm tìm hạnh phúc đó là giá trị tinh thần mà
con người luôn hướng đến "bởi cuộc đời thì hữu hạn mà tình yêu lại vô cùng".
Trong chiến tranh, khát vọng này càng trở nên cháy bỏng. Nói đến chiến tranh
là nói đến mất mát, đau thương, là những hy sinh không thể tránh khỏi. Trong
không khí lửa đạn, tình yêu lứa đôi thể hiện nét đẹp trong tâm hồn người lính.
Truyện ngắn Bảo Ninh xuất hiện nhiều con người đi tìm nửa kia của mình:
Trại "bảy chú lùn", Rửa tay gác kiếm, Khắc dấu mạn thuyền, Hà Nội lúc không
giờ...
Trong truyện ngắn Trại "bảy chú lùn", nhân vật chính của câu chuyện là
Mộc, từ chiến tranh trở về kể lại quãng đời đã qua của anh. Đó là chuỗi ngày
gian khổ nhưng đẹp và đáng nhớ, dẫu tận cùng gan ruột là nỗi khắc khoải về
thời gian anh không được sống cùng Nga - người con gái mà anh đã yêu
thương. Và khi chiến tranh kết thúc, nỗi ước vọng về Nga vẫn khôn nguôi
trong trái tim người lính vốn đã chịu nhiều đau khổ, mất mát. Hay trong
truyện ngắn Rửa tay gác kiếm chẳng hạn, Quang vốn không phải là nhân vật
chính trong truyện nhưng câu chuyện về anh là câu chuyện người lính đi tìm
hạnh phúc, tình yêu. Dẫu đau đớn tột cùng khi bị người thân yêu phụ bạc
chỉ là một khúc đò ngang ngắn ngủi, nhưng với đời người, đó là cả một thời
gian mênh mang như biển mà từ bờ này sang bờ bên kia ngang với từ kiếp
19
này qua kiếp khác'' (Thời tiết của ký ức). Thời gian bốn mươi năm qua đối với
ông Phúc thật là dài, bao nỗi niềm yên nghỉ tưởng như vùi chôn cùng năm
tháng, nào ngờ kí ức như những thước phim quay chậm. Quãng đời phía trước
mang theo cả đớn đau, hạnh phúc trở về. Những dòng suy tưởng mang tính
chất triết lí về cuộc đời, về thân phận. Có thể thấy điều này rất nhiều trong
truyện ngắn Bảo Ninh. Dường như chiến tranh đã tạo nên con người chiêm
nghiệm, suy tư - những con người tự lí giải cho đau khổ, mất mát của mình.
Quang (Rửa tay gác kiếm) bị vợ phụ bạc ''bỏ nhà đi theo trai'', vẫn thông cảm
với vợ: ''Lấy nhau mới được có bảy ngày là tớ đã lên đường đi Bê. Như vậy là
cô ấy đã phải vò võ chịu đựng những mười năm trời có lẻ chứ nào ít ỏi gì đâu,
thế mà sức người có hạn''- Bảo Ninh đã xây dựng một nhân cách cao đẹp, một
con người biết thứ tha cho lỗi lầm của người khác, một người trong đau khổ
mất mát riêng tư vẫn điềm đạm lí giải phân minh: ''Thêm nữa nhà tớ lại kề
ngay một bến sông nhộn nhịp, tứ xứ thuyền bè qua lại, sự thể như thế tất phải
xảy ra''. Quang xem việc vợ bội bạc như là một tất yếu trong hoàn cảnh chiến
tranh.
Quan niệm về con người tự nhận thức của Bảo Ninh cũng là nét tư
tưởng quán xuyến trong truyện ngắn hiện nay, đánh dấu sự phát triển mạnh
mẽ trong quan niệm về con người so với các giai đọan trước. Đó là sự thành
công ở phát hiện ''con người trong con người'' (Đôxtôiepxki) của truyện ngắn
Bảo Ninh.
Ng i lính d i góc nhìn cá nhân cá th còn th hi n s không ho nườ ướ ể ể ệ ở ự à
thi n, d dang trong truy n ng n B o Ninh. L ch s c a lo i ng i, xét nệ ở ở ệ ắ ả ị ử ủ à ườ đế
cùng chính l h nh trình ho n thi n chính mình, nh ng h t th h n y nà à để à ệ ư ế ế ệ à đế
th h khác, h v n ch a t n ích mu n n. Con ng i luôn dang d ,ế ệ ọ ẫ ư đạ đế đ ố đế ườ ở
i u n y c ph n ánh trong v n h c t r t xa x a. T v n h c dân gian nđ ề à đượ ả ă ọ ừ ấ ư ừ ă ọ đế
v n h c vi t ã có nh ng bi u hi n rõ r ng c a quan ni m v con ng i khôngă ọ ế đ ữ ể ệ à ủ ệ ề ườ
b. Người lính với thế giới tâm linh
21
Một trong những biểu hiện của con người cá thể trong truyện ngắn viết
về chiến tranh của Bảo Ninh là sự đề cập đến con người tâm linh. Điều này
chịu ảnh hưởng của hai nguồn triết học Đông -Tây, cụ thể là triết thuyết Phật
giáo và học thuyết Bergson đề cao trực giác, linh cảm, hướng về thế giới vô
thức của con người. Là "sản phẩm của trực giác" con người tâm linh xuất hiện
khá lâu trong văn học truyền thống (Việt điện u linh, Truyền kỳ mạn lục,
Truyện Kiều). Trong văn học hiện đại, ở một số sáng tác của Nguyễn Tuân,
Thạch Lam cũng thoáng bóng con người tâm linh nhưng khái niệm này nói
chung còn xa lạ, bỡ ngỡ. Ở văn học cách mạng 1945-1975 vì một số lý do đặc
biệt mà con người tâm linh không xuất hiện, nếu có yếu tố vô thức thì bị coi
là duy tâm, thậm chí bị lên án gay gắt. Truyện ngắn sau 1975 chú ý hơn đến
việc đi vào một thế giới đằng sau thế giới hiện thực, đây là một biểu hiện của
sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người. Đã có nhiều ý kiến khẳng
định vai trò của văn xuôi hôm nay là đi vào cõi tâm linh, vô thức của con
người. Nhà văn Bùi Hiển cho rằng: "Văn học với chức năng của nó là khám
phá bản thể con người, lẽ tất nhiên nó rất khao khát soi tìm vào những miền u
uẩn, ảo của nội tâm, và những động cơ thầm kín tối tăm của những ứng xử ý
thức... Các hiện tượng mà người ta gọi là siêu tâm lý". Những truyện ngắn
viết về chiến tranh của Bảo Ninh thể hiện quan niệm này như một thủ pháp để
khám phá nội tâm thần bí của nhân vật hoặc làm "phát lộ trong bóng tối
gương mặt một người quen biết". Những giấc mơ, những cơn mộng mị của
người lính xuất hiện từng lúc khác nhau trong truyện ngắn Bảo Ninh.
Hướng về thế giới vô thức dường như là sở trường để thể hiện đề tài
chiến tranh của Bảo Ninh. Thế giới đằng sau hiện thực rất có sức hấp dẫn
người đọc, bởi ở đó độc giả tìm thấy giá trị tinh thần mà trong đời sống hiện
thực khó có thể nhận biết. Nhân vật Quang trong Rửa tay gác kiếm bình tĩnh
biện minh cho lỗi lầm của vợ với bạn bè là thế nhưng khi sống trong giấc mơ
của mình anh: ''chỉ toàn nằm mộng thấy kẻ bội bạc, anh nấc lên tên cô ta và
đến nửa đêm. Khương bảo rằng hồi đang đánh nhau chẳng hề bị như vậy, chỉ
từ hòa bình, nhập trại an dưỡng mới sinh ra thế". Khương đau đớn không phải do
23
vết thương tái phát, mà đau đớn bởi Khương: "mơ thấy lại cảm giác đau của
những lần bị thương trước đây". Người ta bảo đấy là di chứng từ chiến tranh, có lẽ
đúng - bởi con người xác thịt ấy từng phải "ăn đạn hàng chục lần, vỡ thịt toác
xương" thế mà vẫn sống, vượt qua chết chóc, nghiến răng gượng dậy được để rồi
bây giờ trong thế giới vô thức anh: "lần hồi duyệt lại các vết thương".
Thể hiện thế giới tâm linh, Bảo Ninh khẳng định dẫu chiến tranh đã kết
thúc nhưng ký ức về nó vẫn là nỗi đau ám ảnh suốt đời của mỗi người lính,
nỗi đau mất mát đồng đội, nỗi đau phải bỏ một phần thân thể trên chiến
trường. Chiến tranh có người còn sống, lành lặn trở về nhưng tâm hồn bị chấn
thương nặng nề. Những kỷ niệm, hồi ức về chiến tranh vẫn không thôi ám
ảnh, gây nhức nhối. Và cũng chẳng riêng gì Khương trong Rửa tay gác kiếm,
Bảo Ninh viết: "Tú chẳng hạn, luôn sống lại với trái bom CBU ném xuống
rừng cao su Xuân Lộc. Hầm sập và Tú ú ớ ngạt thở, thấy mình bị chôn sống.
Còn tôi, tôi mơ thấy mưa thuốc độc, mơ thấy những rừng già trên bờ Ngọc Bờ
Chiêng bị bọn Mỹ biến thành đại ngàn củi khô". Nỗi khiếp sợ súng đạn chiến
tranh của những người lính đã biến thành những giấc mơ hãi hùng trong thời
hậu chiến. Ở cùng một truyện ngắn Bảo Ninh đã khắc họa không chỉ một
nhân vật sống trong những giấc mơ. Con người hướng về miền vô thức góp
vào sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn hôm
nay.
Mặt khác, để biểu hiện con người tâm linh, Bảo Ninh còn xây dựng
một số nhân vật với những dự cảm trước cuộc đời. Đó là Mộc: "Anh ạ, cho
đến lúc ấy mọi nguồn cơn nông nỗi đã đến với Nga, tôi không hề hỏi Nga,
Nga không thổ lộ. Nhưng, bố của Nương là ai thì chính trong đêm Nương ra
đời, tôi đã biết" (Trại "bảy chú lùn"). Mộc không chỉ linh cảm được người đàn
ông của Nga mà còn cảm nhận được rất rõ "nỗi buồn niềm mong nhớ " của
Nga với người đàn ông kia. Bảo Ninh còn khai thác sự huyễn cảm ở con
sự với người đàn ông như Mộc thế là dở dang. Mộc mất thăng bằng trước
cuộc sống hòa bình. Anh không thích nghi với cuộc sống ngoài khu rừng già,
25