Luận văn: ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH CHỐNG MỸ TRONG TRUYỆN NGẮN BẢO NINH doc - Pdf 12


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LƯU THỊ THANH TRÀ
ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH CHỐNG MỸ
TRONG TRUYỆN NGẮN BẢO NINH

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SỐ: 60.22.32
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

1.2. Vấn đề chiến tranh và nhân cách con người trong truyện
ngắn Bảo Ninh
11
1.3 Sự tác động của chiến tranh đến nhân cách con người
trong truyện ngắn Bảo Ninh
29
Chương
2.

Chiến tranh và tình yêu
40
2.1. Những đặc điểm nổi bật của truyện ngắn Bảo Ninh khi
thể hiện tình yêu thời chiến tranh
41
2.2. So sánh đề tài chiến tranh và đề tài tình yêu trong truyện
ngắn và tiểu thuyết Thân phận của tình yêu của cùng tác giả
55
Chương
3.

Hai điểm nhìn chiến tranh
67
3.1. Chiến tranh được hồi tưởng lại 67
3.2. Chiến tranh được miêu tả như đang diễn ra 75
3.3. Đối sánh điểm nhìn chiến tranh trong truyện ngắn với
tiểu thuyết Thân phận của tình yêu của cùng tác giả
81
KẾT LUẬN
92
TÀI LIỆU THAM KHẢO

bút ấn tượng với người đọc [51,32]. Đi vào tìm hiểu nghiên cứu thi pháp
truyện ngắn Bảo Ninh, tác giả cuốn sách Bình luận truyện ngắn chỉ ra truyện
ngắn Khắc dấu mạn thuyền là kiểu tình huống tượng trưng [50,49]. Hay
WayneKarlin trong lời giới thiệu cho tuyển tập truyện ngắn Tình yêu sau

3
chiến tranh nhận thấy truyện ngắn Bí ẩn của làn nước của Bảo Ninh: "in dấu
niềm khao khát tình yêu" [59,12], "đối diện trực tiếp với hậu quả chiến tranh,
những bậc cha mẹ bị mất con" [59,14]. Đó là những gợi ý tuy ít ỏi của các tác
giả đi trước song rất có ý nghĩa cho chúng tôi khi nghiên cứu từng truyện
ngắn Bảo Ninh để làm rõ những đặc sắc của truyện ngắn Bảo Ninh trong việc
thể hiện đề tài chiến tranh chống Mỹ.
Bảo Ninh là tác giả của cuốn tiểu thuyết rất thành công về đề tài chiến
tranh chống Mỹ: Thân phận của tình yêu, tác phẩm đạt giải nhất của Hội Nhà
văn Việt Nam năm 1991. Nghiên cứu về đề tài chiến tranh trong tác phẩm này
đã trở thành mối quan tâm của các nhà văn, nhà nghiên cứu và người đọc.Tác
giả Đỗ Đức Hiểu trong Thi pháp hiện đại đã khẳng định: "Trong văn học mấy
chục năm nay, có thể Thân phận của tình yêu là quyển tiểu thuyết hay về tình
yêu, quyển tiểu thuyết về tình yêu xót thương nhất", tác giả nhấn mạnh: "nỗi
buồn chiến tranh thể hiện một điểm nhìn mới về cuộc chiến tranh kéo dài 35
năm", "những cảnh tả chiến tranh, những định nghĩa về chiến tranh la liệt
trong tác phẩm" [18,265]. Bên cạnh nỗi buồn chiến tranh được phản ánh trong
tác phẩm là nỗi buồn về tình yêu, Đỗ Đức Hiểu nhận định: "Nỗi buồn chiến tranh
và nỗi buồn tình yêu (tr,98) thấm vào nhau. Kiên vẫn phải sống, sống một thời hậu
chiến u buồn (nỗi buồn hậu chiến) vì một "thiên mệnh mù mịt xa vời, tối tăm và
đau xót, được diễn đạt bằng đêm ("bóng đêm", "đêm hè", "đêm trường" , [18,266],
"Tình yêu, chiến tranh, viết tiểu thuyết, ba nhịp đó xen kẽ, đan chéo, gây
chóng mặt, bàng hoàng, nhức nhối. Mưa và đêm, chiến tranh và sáng tác;
khủng khiếp và hồn hoang. Len lỏi, bao trùm và dẫn dắt tất cả các biến động
của tiểu thuyết (mưa và đêm) là một mối tình đau xót, kéo dài, vang vọng, âm

mới dám nhìn thẳng, nhìn sâu vào quá khứ, mới dám đối diện với hiện tại, rất
công bằng mà phán xét lịch sử. Cao hơn nữa là đối diện với chính mình, rồi
xám hối, tranh đấu và vượt lên" [49,17]. Đó là những định hướng quý báu cho
chúng tôi khi nghiên cứu so sánh tiểu thuyết Thân phận của tình yêu và
truyện ngắn Bảo Ninh cùng viết về đề tài chiến tranh chống Mỹ.

5
Ngoài tập truyện ngắn và tiểu thuyết Thân phận của tình yêu, gần đây
Bảo Ninh còn viết một số bài trên báo Văn nghệ trẻ bàn về sự đổi mới của
văn học. Trong phần hai của bài viết Văn học đổi mới đến từ cuộc kháng
chiến, Bảo Ninh đã chỉ trích một số quan niệm ấu trĩ khi xử lí Cánh đồng bất
tận của Nguyễn Ngọc Tư và lý giải về việc thưởng thức văn học của độc giả.
Đồng thời đã khen ngợi sự đổi mới đề tài chiến tranh của Thái Bá Lợi (truyện
ngắn) và Lê Lựu (tiểu thuyết). Tác giả viết: "Tôi nghĩ rằng họ, chẳng hạn nhà
văn Thái Bá Lợi của Hai người trở lại trung đoàn, nhà văn Lê Lựu của Thời
xa vắng, có ý chí đổi mới sáng suốt và mãnh liệt đồng thời quả cảm và gan lỳ
chẳng kém gì người nông dân gan dạ dám chọn con đường đúng đắn nhưng
đầy cay đắng và cô đơn của bí thư Kim Ngọc. Tôi tự hỏi rằng nếu không có
những người nông dân cựu chiến binh kháng chiến chống Mỹ ấy thì liệu nền
kinh tế của đất nước và đời sống của mọi người ngày hôm nay sẽ như thế
nào?" [40,3]. Bảo Ninh là một trong những nhà văn góp phần đổi mới văn học
viết về đề tài chiến tranh, nên ở đây thể hiện một quan niệm về sự đổi mới
cách nhìn nhận chiến tranh. Ông viết: "Nếu không có ý chí và tác phẩm sáng
ngời tinh thần đổi mới ngay từ đầu những năm 1980 của các nhà văn mà hầu
hết là cựu chiến binh thì ngày nay các nhà văn và cả độc giả nữa sẽ có kiểu tư
duy văn học kiểu gì?" [40,3]. Cũng trên báo Văn nghệ trẻ ở bài viết Nói hay
làm dở, Bảo Ninh đưa đến một quan niệm mới về việc viết văn của lớp nhà
văn sau chiến tranh. Ông dẫn ra một loạt cuộc hội thảo bàn về nhu cầu đổi
mới văn học: "Mỗi thầy mỗi khác, nhưng tựu trung đều kêu gọi và thôi thúc
chúng tôi hãy khác đi, hãy mau mau đổi mới, hãy mạnh dạn cách tân, hãy từ

1. Luận văn nghiên cứu đề tài chiến tranh trong những truyện ngắn Bảo
Ninh được tập hợp trong Truyện ngắn Bảo Ninh do Nxb Công an ấn hành
năm 2002. Đó là những truyện ngắn: Trại bảy chú lùn, Thời tiết của ký ức, Hà
Nội lúc không giờ, Rửa tay gác kiếm, Mây trắng còn bay, Hữu khuynh, Khắc
dấu mạn thuyền, Ngôi sao vô danh, Bí ẩn của làn nước, Bên lề cuộc tấn công,
Lá thư từ Quý Sửu, Ba lẻ một, La-mác xây-e.

7
2. Đối sánh với tiểu thuyết Thân phận của tình yêu của cùng tác giả ở
những vấn đề liên quan.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Vận dụng những phương pháp nghiên cứu văn học phổ biến: phương
pháp khảo sát - thống kê, phương pháp miêu tả - phân tích và chú trọng
phương pháp so sánh: so sánh trong nội bộ tập truyện ngắn, so sánh những
vấn đề liên quan ở tiểu thuyết Thân phận của tình yêu.
6. DỰ KIẾN ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Luận văn đi sâu tìm hiểu nghiên cứu về đề tài chiến tranh chống Mỹ
trong truyện ngắn Bảo Ninh một cách có hệ thống trong sự đối sánh với tiểu
thuyết Thân phận của tình yêu của cùng tác giả.
7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn được
triển khai qua 3 chương:
Chương 1. Chiến tranh và nhân cách con người
Chương 2. Chiến tranh và tình yêu
Chương 3. Hai điểm nhìn chiến tranh
văn học chống Mỹ) với tư duy sử thi, các cây bút phản ánh cuộc tử sinh của
dân tộc với những quan tâm là "viết cái gì?" hơn là "viết như thế nào?". Bởi
vậy, ở giai đoạn này, trong các bài, thư, báo bàn về văn nghệ, Đảng và Hồ Chí
Minh đều nhấn mạnh các yếu tố về nội dung được yêu cầu như: "biểu dương",
"ghi lại cho được", "phản ánh chân thật". Văn học Việt Nam ở thời kỳ này cái
nhìn về cuộc chiến còn phiến diện, chỉ ca ngợi mà chưa khơi sâu, mô tả
những đau khổ của chiến tranh, những con người dù cận kề cái chết vẫn được
lý tưởng hóa. Đó là hình ảnh của những người anh hùng như anh Núp, Tnú ,
đó là hình ảnh của chị Sứ, chị út Tịch Những điều đó đã đem lại cho văn

9
xuôi trong thời kỳ này ít nhiều hạn chế khi viết về đề tài chiến tranh. Trải qua
bảy thế kỷ truyện ngắn dân tộc từ Lý Tế Xuyên (thế kỷ XIV) đến nay, có thể
thấy rằng truyện ngắn Việt Nam đã đạt đến trình độ của truyện ngắn hiện đại,
với "một kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt cuộc
sống rất riêng, mang tính chất thể loại" [17,37]. Thế nhưng ở giai đoạn 1945-
1975 ở thể loại truyện ngắn còn có những hạn chế ở cái nhìn về cuộc chiến.
Ngôn ngữ và nghệ thuật trần thuật trong các tác phẩm còn phẳng lặng, một
chiều, cái gai góc, đau đáu khi viết về chiến tranh thật sự mờ nhạt hoặc là
không có. Sau năm 1975, đất nước bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ xây
dựng hòa bình trong xu thế đổi mới hội nhập. Đề tài chiến tranh vẫn là nguồn
cảm hứng lớn cho nhiều nhà văn. Không chỉ với những nhà văn mặc áo lính,
hay những nhà văn trưởng thành từ hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân
tộc mà cả với những cây bút trẻ sinh ra và lớn lên trong cuộc sống hòa bình.
Suy nghĩ về đề tài chiến tranh, nhà văn Chu Lai cho rằng: "Chiến tranh
là một siêu đề tài và người lính cũng là siêu nhân vật. Càng khám phá, càng
thấy những độ rung không mòn nhẵn. Ở đó mọi thứ đều được nén chặt đến
ngột ngạt và nếu biết cách khai mở thì đấy là đối tượng văn học vĩnh cửu
nhất" [28,41]. Còn Nguyễn Minh Châu, dù viết rất nhiều về chiến tranh
nhưng khi nhìn nhận về nó ông cũng thành thật nhận thấy: "So với tầm vóc

điểm quá khứ (Bên lề cuộc tấn công) và hai truyện đứng ở thời điểm hiện tại
(Mây trắng còn bay, La-mác-xây e) còn lại là truyện đan xen giữa hiện tại và
quá khứ. Trong 13 truyện ngắn ấy có 9 nhân vật chính là người lính. Đó là các
truyện: Trại "bảy chú lùn", Ba lẻ một, Là thư từ Quí Sửu, Ngôi sao vô danh,
Rửa tay gác kiếm, Khắc dấu mạn thuyền, Bên lề cuộc tấn công, Hữu khuynh,
Hà Nội lúc không giờ (trong đó có 8 nhân vật chính là người lính trở về).
Thống kê như thế để thấy rằng Bảo Ninh nhìn nhận cuộc chiến hầu hết là từ
hơn hai mươi năm sau. Tác giả đã cố gắng thoát ra khỏi khuôn khổ sáo mòn
của đề tài chiến tranh.
Có thể nói mạch chảy xuyên suốt trong nền văn học Việt Nam tính từ
sau cách mạng tháng tám là đề tài chiến tranh. Văn học của 30 năm chiến
tranh "tiêu biểu cho nền nghệ thuật còn tươi ròng sự sống, một nền nghệ thuật

11
thấm đẫm mồ hôi, khói và thuốc súng, một nền nghệ thuật chân chất, đẹp và
khỏe như những chàng trai đang độ lớn". Do yêu cầu của thời chiến tranh mỗi
tác phẩm văn học phải phục vụ cho mục đích chính trị nên những tác phẩm
văn học của thời kỳ này đã miêu tả hiện thực cần có, nên có chứ chưa phải là
miêu tả hiện thực đang tồn tại. Bởi vậy những hiện thực chiến tranh khốc liệt
còn bị khuất lấp, bao khó khăn, gian khổ trong đời sống người lính chưa được
phơi bày. Số phận cá nhân, những con người phản bội Tổ quốc, những mâu
thuẫn trong nội bộ chưa được phanh phui. Hiện thực chiến tranh cụ thể với
những trận đánh lớn, dữ dội đã bị đẩy lùi về sau. Truyện ngắn Bảo Ninh xây
dựng chiến tranh với cái nhìn của một người nghĩ về chiến tranh và viết sau
chiến tranh, nhưng cuộc chiến ấy vẫn đầy máu và nước mắt. Thế giới con
người luôn là niềm khao khát được khám phá của văn học, trong mảng đề tài
chiến tranh của văn học giai đoạn 1945 -1975 việc miêu tả con người thực sự
đang còn những non yếu. Bước sang giai đoạn mới, con người trong chiến
tranh được miêu tả toàn vẹn hơn, mỗi nhân vật là một con người lưỡng diện,
con người với tất cả những mặt tốt xấu của đời đó là Lực trong Cỏ lau, Hòa

truyện ngắn Bảo Ninh còn thể hiện sự đa chiều, đa diện trong việc dùng thủ
pháp đồng hiện biến đổi không gian, thời gian, miêu tả dòng độc thoại, nội
tâm con người
Bên cạnh 13 truyện ngắn viết về đề tài chiến tranh chống Mỹ, Bảo Ninh
có cuốn tiểu thuyết Thân phận của tình yêu, đây là tiểu thuyết đạt giải thưởng
của Hội Nhà văn năm 1991. Trong tác phẩm này, Bảo Ninh đã cho người đọc
thấy toàn bộ nỗi buồn chiến tranh, nỗi buồn tình yêu, những thân phận con
người, thân phận tình yêu Đó là sự sáng tạo của nhà văn Bảo Ninh trước sự
đổi mới cách tiếp cận đề tài chiến tranh, anh đã kịp thời bắt nhịp với hướng đi
mới, đã cho độc giả những trang văn viết về đề tài chiến tranh ở hai thể loại
truyện ngắn và tiểu thuyết rất sống động, trung thực và đầy tính nhân văn.
Điều này dường như đã làm nên một phong cách rất riêng của nhà văn xứ
Quảng Bình cát trắng này. 13
1.2. VẤN ĐỀ CHIẾN TRANH VÀ NHÂN CÁCH CON NGƯỜI TRONG TRUYỆN
NGẮN BẢO NINH
Chiến tranh là một nhân tố có tác động cực kỳ to lớn đối với nhân cách
con người. Nhân cách là "tư cách và phẩm chất con người" [42,687], mỗi con
người ai cũng có tư cách và phẩm chất. Tư cách, phẩm chất đó như thế nào
phụ thuộc vào hoàn cảnh sống, điều kiện sống của mỗi cá nhân. Bùi Việt
Thắng cho rằng: "quan niệm về nhân cách là biểu hiện một trình độ cao của sự
khái quát nghệ thuật đời sống " [49,17]. Tác giả còn khẳng định: "nhân cách là
một khái niệm rộng và cao hơn khái niệm nhân vật tích cực" [49,17]. Nói đến
nhân cách con người là nói đến những điểm tốt đẹp của người trước cuộc
sống (Bùi Việt Thắng). Nhưng cuộc sống hôm nay "vốn đa sự" liệu con người
có còn giữ được nhân cách của mình không? Chiến tranh đối với người lính
hậu chiến như thế nào?
Chiến tranh chống Mỹ chiếm trọn hai mươi năm của thế kỷ. Con người

phản ánh hiện thực chiến tranh từ số phận, từ những bi kịch cá nhân như Biển
cứu rỗi (Võ Thị Hảo), Tiếng chuông trôi trên sông (Vũ Hồng)
Theo Bùi Việt Thắng: "Quan niệm con người vẫn được coi là thước
đo sự tiến bộ nghệ thuật từ xưa tới nay" [49,17]. Tìm hiểu nhân vật cũng là
tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người. Nhân vật văn học là con người
được nhà văn sáng tạo trong tác phẩm: "là con người được miêu tả thể hiện
trong tác phẩm bằng phương tiện văn học" [17,12]. Nhân vật là biểu hiện trực
tiếp của những quan niệm khác nhau về con người của từng tác giả, từng thể
loại, từng giai đoạn văn học. Bất cứ một nền văn học nào ra đời cũng xuất
hiện những con người mới, mỗi thời đại văn học có những kiểu con người
khác nhau. Gắn với thời cổ xưa, văn học có con người thần thoại, con người
sử thi , gắn với văn học Trung Đại là con người tỏ chí, tỏ lòng Kiểu con
người khác nhau ấy thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người của các nhà
văn. 15
1.2.1 Người lính dưới góc nhìn con người cá nhân
Văn học hôm nay đã tiếp cận cuộc sống con người cá thể hơn. Nhìn
tổng thể, trong văn học sau 1975, quan niệm nghệ thuật về con người xuyên
suốt, nổi bật là quan niệm về con người cá thể. Nhìn nhận con người trong
cuộc sống với đầy biến động, Bảo Ninh đã đem đến cho người đọc con người
cá thể với giọng nói riêng, tính cách riêng. Mỗi con người một số phận, mỗi
con người với niềm đau hạnh phúc riêng trong một cảm nhận về thực tại Tất
cả họ hiện lên trang giấy như là nỗi ám ảnh về một quá khứ đầy đau thương
nhưng rất đỗi anh hùng.
Con người cá thể bắt đầu xuất hiện ở phương tây từ thời đại Phục hưng,
trong những tác phẩm của Sexpia, của Kant , giải phóng cá nhân con người
đó là mục tiêu của chủ nghĩa nhân văn thế kỷ XVI chống lại lễ giáo phong
kiến và nhà thờ.

của Nguyễn Huy Thiệp, con người bản năng của Dạ Ngân, Phạm Hoa, đều
là những dạng thức của con người cá thể. Nghiên cứu con người - người lính
dưới góc nhìn cá thể trong truyện ngắn Bảo Ninh chúng tôi sẽ làm rõ nhân
cách con người trong chiến tranh và sau chiến tranh.
a. Người lính dưới biểu hiện con người tự nhận thức (hay con người
với khát vọng, kiếm tìm)
Trong mảng viết về chiến tranh chống Mỹ của truyện ngắn Bảo Ninh,
có thể thấy người lính dưới góc nhìn con người cá nhân biểu hiện khá rõ nét ở
dạng thức con người tự nhận thức. Quan niệm này bộc lộ chiều sâu trong
quan niệm nghệ thuật về con người, gắn liền với sự thức tỉnh ngày càng cao
của ý thức con người. Con người thao thức, tự nhận thức trong truyện ngắn
Bảo Ninh thể hiện rõ nét nhân cách con người trong và sau chiến tranh.
Ở phương Tây, người ta thấy con người tự nhận thức xuất hiện từ rất
sớm, Hăm lét của Sêxpia là một điển hình về con người tự nhận thức. Trong
văn học Việt Nam thời trung đại con người tự nhận thức xuất hiện nhiều trong
văn học giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX với kiệt tác
Truyện Kiều (Nguyễn Du), với Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan,

17
Đoàn Thị Điểm, nhưng ở đó con người tự nhận thức còn nằm trong khuôn
khổ hạn hẹp của lễ giáo phong kiến. Trong văn học cận hiện đại con người
này từng xuất hiện trong các sáng tác của Nam Cao, Vũ Trọng Phụng và ở
đó con người tự nhận thức với nhiều hạn chế. Con người tự nhận thức tiếp tục
xuất hiện trong văn học sau năm 1975 ở sáng tác của Nguyễn Minh Châu,
Nguyễn Huy Thiệp Đến Bảo Ninh, con người tự nhận thức trong hoàn cảnh
trước và sau chiến tranh trở thành một hình tượng sâu sắc.
Con người tự nhận thức trong truyện ngắn Bảo Ninh thể hiện ở khát
vọng kiếm tìm, ở sự chiêm nghiệm, ở sự không hoàn thiện. Một loạt truyện
ngắn viết về chiến tranh của Bảo Ninh thể hiện người lính trong khát vọng
kiếm tìm. Kiếm tìm tình yêu, kiếm tìm hạnh phúc đó là giá trị tinh thần mà

tự nhận thức là con người có chiều sâu tâm trạng. Các nhân vật trong các
truyện ngắn kể trên hầu hết được Bảo Ninh xây dựng theo môtíp lặng theo
suy tưởng về một vùng ký ức xa xăm. Đó là ký ức về những ngày chiến tranh
mà các nhân vật chính trong vai người kể chuyện ở ngôi thứ nhất bày tỏ: "như
tôi còn thời nào nữa ngoài thời đã qua" (Hà Nội lúc không giờ); "Giờ đây nhớ
lại những ngày tháng cuối cùng của đời bộ đội lòng tôi vô hạn một nỗi buồn
nhớ sâu lặng" (Rửa tay gác kiếm); hoặc là nỗi thổn thức của ông Phúc - người
phía bên kia giới tuyến trong truyện ngắn Thời tiết của ký ức: "Những nỗi
niềm đã yên nghỉ từ lâu âu sầu thức dậy, lần lượt hiện hình, lần lượt trôi qua,
dằng dặc và chậm rãi, theo nhịp đếm của chiếc đồng hồ để bàn" Kiếm tìm
về quá khứ - đó là phản ứng của tâm hồn nhạy cảm khi thời cuộc đã đổi thay.
Tất cả các nhân vật của Bảo Ninh đều nhận thức quá khứ đã vời xa và trong
quá khứ lưu giữ kỷ niệm của một thời trai trẻ. Có một điều đáng lưu ý là các
nhân vật trong truyện ngắn viết về chiến tranh của Bảo Ninh đều là những
người đàn ông đã bước qua ngưỡng của tuổi trẻ, nên khi bước vào độ tuổi
trung niên họ có những suy tư chiêm nghiệm của con người từng trải trong
chiến tranh. ''Dĩ nhiên với dòng đời vô cùng vô tận bốn mươi năm có là bao,
chỉ là một khúc đò ngang ngắn ngủi, nhưng với đời người, đó là cả một thời
gian mênh mang như biển mà từ bờ này sang bờ bên kia ngang với từ kiếp

19
này qua kiếp khác'' (Thời tiết của ký ức). Thời gian bốn mươi năm qua đối với
ông Phúc thật là dài, bao nỗi niềm yên nghỉ tưởng như vùi chôn cùng năm
tháng, nào ngờ kí ức như những thước phim quay chậm. Quãng đời phía trước
mang theo cả đớn đau, hạnh phúc trở về. Những dòng suy tưởng mang tính
chất triết lí về cuộc đời, về thân phận. Có thể thấy điều này rất nhiều trong
truyện ngắn Bảo Ninh. Dường như chiến tranh đã tạo nên con người chiêm
nghiệm, suy tư - những con người tự lí giải cho đau khổ, mất mát của mình.
Quang (Rửa tay gác kiếm) bị vợ phụ bạc ''bỏ nhà đi theo trai'', vẫn thông cảm
với vợ: ''Lấy nhau mới được có bảy ngày là tớ đã lên đường đi Bê. Như vậy là

''Vóc người anh to ngang, bè ra. Vai rộng lạ lùng, lưng gấu, hơi còng còng.
Da dẻ dường như dày cộp, màu rỉ sắt, nom khô và ráp. Tay chân ngắn nhưng
rất khỏe, không cuồn cuộn bắp thịt mà to xù xụ còn khuôn mặt hiếm khi
thấy một bộ mặt trông thô như thế" (Trại bảy chú lùn). Hay là vẻ đáng sợ của
lão ăn mày trong La mác- xây-e: "Hai con mắt của lão thụt sâu trong hai hốc
xương'', ''Cái miệng đen ngòm'', ''cổ họng ông lão chằng chịt gân trắng gân
xanh. Yết hầu chạy giật cục'', ''bàn tay khô khỏng" xây dựng con người không
hoàn thiện, Bảo Ninh còn chú ý đến con người tàn rựa về nhân cách, con
người tha hóa (La-mác-xây-e), con người chưa hoàn thiện trong truyện ngắn
Bảo Ninh còn thể hiện ở việc nhận thức về cách mạng của nhân vật, đó là sự
lầm đường lạc lối về chiến tranh của ông Phúc trong Thời tiết của kí ức. Suốt
cả quãng đời trai trẻ ông Phúc không đứng về phía nhân dân, Tổ quốc. Con
đường ông chọn là phục vụ cho ngụy quyền. Do đó mãi trong lòng ông luôn
thổn thức những ăn năn, sám hối. Đây chính là nét mới rất nhân văn trong
truyện ngắn Bảo Ninh khi quan tâm đến cả số phận của những con người từng
ở bên kia chiến tuyến. Đó là một trong những khát vọng khám phá đến tận
cùng số phận đời tư được thể hiện sâu sắc trong cái nhìn đa diện về con
người.
b. Người lính với thế giới tâm linh
Một trong những biểu hiện của con người cá thể trong truyện ngắn viết
về chiến tranh của Bảo Ninh là sự đề cập đến con người tâm linh. Điều này

21
chịu ảnh hưởng của hai nguồn triết học Đông -Tây, cụ thể là triết thuyết Phật
giáo và học thuyết Bergson đề cao trực giác, linh cảm, hướng về thế giới vô
thức của con người. Là "sản phẩm của trực giác" con người tâm linh xuất hiện
khá lâu trong văn học truyền thống (Việt điện u linh, Truyền kỳ mạn lục,
Truyện Kiều). Trong văn học hiện đại, ở một số sáng tác của Nguyễn Tuân,
Thạch Lam cũng thoáng bóng con người tâm linh nhưng khái niệm này nói
chung còn xa lạ, bỡ ngỡ. Ở văn học cách mạng 1945-1975 vì một số lý do đặc

Bảo Ninh khai thác những giấc mơ để thể hiện nhân vật. Có khi trong
cùng một truyện ngắn tác giả dựng lên các nhân vật với những giấc mơ khác
nhau. Tác giả viết: "tất cả anh em trong phòng đều ít nhiều gặp phải ác mộng
di chứng từ trận mạc. Bao giờ cũng là những ác mộng sinh động". Mỗi người
một giấc mơ - thế giới tâm linh đầy rẫy những hồn ma bóng quỷ vật vờ: "tôi
cũng thường nằm mơ thấy những tên Mỹ. Không phải tất cả những âm hình
trong mơ đều là anh em đồng đội. Có những giấc mơ thật kỳ lạ, trong đó chỉ
toàn gặp những bóng ma quân thù. Chúng lững thững xuyên qua tường, êm
như ru bước vào phòng, lượn sát đầu giường tôi nằm". Những năm tháng
chiến tranh đi qua nhưng âm hồn của những con người tử trận vẫn đeo đẳng
tâm hồn người lính. Thế giới vô thức kéo con người trở về với nỗi sợ hãi của
chiến tranh. Những bóng ma: "phần đa chỉ nhè nhẹ diễu lướt qua, nhưng cũng
có vài bóng nấn ná dừng lại, hé cửa màn ra, và phà hơi thở lạnh toát, cúi sát
xuống, như thể nhận mặt tôi". Trong hư vô những người lính thấy kẻ thù của
mình từ cõi chết trở về nhưng vẫn không quên ân oán cũ.
Đằng sau thế giới hiện thực, đằng sau hòa bình, chiến tranh vẫn là nỗi
nhức nhối đeo bám trong mỗi giấc mơ của những người lính. Mọi chuyện của
chiến tranh tưởng như đã chấm dứt vào năm 1975, mọi chuyện tưởng như sẽ
được "rửa tay gác kiếm", ấy vậy mà với Khương (Rửa tay gác kiếm) đêm nào:
"cũng nói mớ và rên rỉ", "ban ngày, nom anh hoàn toàn bình thường song cứ
đến nửa đêm. Khương bảo rằng hồi đang đánh nhau chẳng hề bị như vậy, chỉ
từ hòa bình, nhập trại an dưỡng mới sinh ra thế". Khương đau đớn không phải do
vết thương tái phát, mà đau đớn bởi Khương: "mơ thấy lại cảm giác đau của
những lần bị thương trước đây". Người ta bảo đấy là di chứng từ chiến tranh, có lẽ

23
đúng - bởi con người xác thịt ấy từng phải "ăn đạn hàng chục lần, vỡ thịt toác
xương" thế mà vẫn sống, vượt qua chết chóc, nghiến răng gượng dậy được để rồi
bây giờ trong thế giới vô thức anh: "lần hồi duyệt lại các vết thương".
Thể hiện thế giới tâm linh, Bảo Ninh khẳng định dẫu chiến tranh đã kết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status