BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LƯU THỊ THANH TRÀ
ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH CHỐNG MỸ
TRONG TRUYỆN NGẮN BẢO NINH
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SỐ: 60.22.32
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Chương
1.
Chiến tranh và nhân cách con người
7
1.1. Nhìn qua truyện ngắn về đề tài chiến tranh sau 1975 7
1.2. Vấn đề chiến tranh và nhân cách con người trong truyện
ngắn Bảo Ninh
11
1.3 Sự tác động của chiến tranh đến nhân cách con người
trong truyện ngắn Bảo Ninh
29
Chương
2.
Chiến tranh và tình yêu
40
2.1. Những đặc điểm nổi bật của truyện ngắn Bảo Ninh khi
thể hiện tình yêu thời chiến tranh
41
2.2. So sánh đề tài chiến tranh và đề tài tình yêu trong truyện
ngắn và tiểu thuyết Thân phận của tình yêu của cùng tác giả
55
Chương
3.
Hai điểm nhìn chiến tranh
67
3.1. Chiến tranh được hồi tưởng lại 67
3.2. Chiến tranh được miêu tả như đang diễn ra 75
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Bảo Ninh là một trong số những nhà văn viết về đề tài chiến tranh có
đóng góp trong cách nhìn về đề tài chiến tranh trong văn học hậu chiến. Đề tài
chiến tranh được Bảo Ninh thể hiện trên hai thể loại: truyện ngắn và tiểu
thuyết. Nghiên cứu về các sáng tác của Bảo Ninh đang thu hút sự quan tâm
của người cầm bút bởi những đặc trưng về thể loại và nội dung phản ánh.
Trong Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Bùi Việt Thắng khẳng định Bảo Ninh là
một trong những nhà văn có duyên với truyện ngắn [13,337]. Bích Thu trong
Những thành tựu của truyện ngắn sau 1975 cũng xem Bảo Ninh là một cây
bút ấn tượng với người đọc [51,32]. Đi vào tìm hiểu nghiên cứu thi pháp
truyện ngắn Bảo Ninh, tác giả cuốn sách Bình luận truyện ngắn chỉ ra truyện
ngắn Khắc dấu mạn thuyền là kiểu tình huống tượng trưng [50,49]. Hay
WayneKarlin trong lời giới thiệu cho tuyển tập truyện ngắn Tình yêu sau
3
chiến tranh nhận thấy truyện ngắn Bí ẩn của làn nước của Bảo Ninh: "in dấu
niềm khao khát tình yêu" [59,12], "đối diện trực tiếp với hậu quả chiến tranh,
những bậc cha mẹ bị mất con" [59,14]. Đó là những gợi ý tuy ít ỏi của các tác
giả đi trước song rất có ý nghĩa cho chúng tôi khi nghiên cứu từng truyện
ngắn Bảo Ninh để làm rõ những đặc sắc của truyện ngắn Bảo Ninh trong việc
thể hiện đề tài chiến tranh chống Mỹ.
Bảo Ninh là tác giả của cuốn tiểu thuyết rất thành công về đề tài chiến
tranh chống Mỹ: Thân phận của tình yêu, tác phẩm đạt giải nhất của Hội Nhà
văn Việt Nam năm 1991. Nghiên cứu về đề tài chiến tranh trong tác phẩm này
đã trở thành mối quan tâm của các nhà văn, nhà nghiên cứu và người đọc.Tác
giả Đỗ Đức Hiểu trong Thi pháp hiện đại đã khẳng định: "Trong văn học mấy
chục năm nay, có thể Thân phận của tình yêu là quyển tiểu thuyết hay về tình
yêu, quyển tiểu thuyết về tình yêu xót thương nhất", tác giả nhấn mạnh: "nỗi
buồn chiến tranh thể hiện một điểm nhìn mới về cuộc chiến tranh kéo dài 35
năm", "những cảnh tả chiến tranh, những định nghĩa về chiến tranh la liệt
thời gian của Bảo Ninh trong Thân phận của tình yêu. Cả quãng đời thơ ấu, đi
học, trước chiến tranh, sau chiến tranh của nhân vật Kiên không phải liên tục,
đều đặn mà lần giở theo hồi ức" [21,143], "sự xê dịch trong Thân phận của
tình yêu mới thật là một thách thức đối với người đọc. Nó không có dấu hiệu
báo trước và cũng chẳng biết kết thúc lúc nào" [21,131].
Trên tạp chí Văn học số 6 (1991), với bài viết Văn xuôi gần đây và
quan niệm về con người Bùi Việt Thắng đã đưa ra nhận định hết sức xác đáng
về quan niệm nhân cách con người trong tiểu thuyết Thân phận của tình yêu.
Ông viết: "Cái phần được của Thân phận của tình yêu chính là ở chỗ Kiên
mới dám nhìn thẳng, nhìn sâu vào quá khứ, mới dám đối diện với hiện tại, rất
công bằng mà phán xét lịch sử. Cao hơn nữa là đối diện với chính mình, rồi
xám hối, tranh đấu và vượt lên" [49,17]. Đó là những định hướng quý báu cho
chúng tôi khi nghiên cứu so sánh tiểu thuyết Thân phận của tình yêu và
truyện ngắn Bảo Ninh cùng viết về đề tài chiến tranh chống Mỹ.
5
Ngoài tập truyện ngắn và tiểu thuyết Thân phận của tình yêu, gần đây
Bảo Ninh còn viết một số bài trên báo Văn nghệ trẻ bàn về sự đổi mới của
văn học. Trong phần hai của bài viết Văn học đổi mới đến từ cuộc kháng
chiến, Bảo Ninh đã chỉ trích một số quan niệm ấu trĩ khi xử lí Cánh đồng bất
tận của Nguyễn Ngọc Tư và lý giải về việc thưởng thức văn học của độc giả.
Đồng thời đã khen ngợi sự đổi mới đề tài chiến tranh của Thái Bá Lợi (truyện
ngắn) và Lê Lựu (tiểu thuyết). Tác giả viết: "Tôi nghĩ rằng họ, chẳng hạn nhà
văn Thái Bá Lợi của Hai người trở lại trung đoàn, nhà văn Lê Lựu của Thời
xa vắng, có ý chí đổi mới sáng suốt và mãnh liệt đồng thời quả cảm và gan lỳ
chẳng kém gì người nông dân gan dạ dám chọn con đường đúng đắn nhưng
đầy cay đắng và cô đơn của bí thư Kim Ngọc. Tôi tự hỏi rằng nếu không có
những người nông dân cựu chiến binh kháng chiến chống Mỹ ấy thì liệu nền
kinh tế của đất nước và đời sống của mọi người ngày hôm nay sẽ như thế
nào?" [40,3]. Bảo Ninh là một trong những nhà văn góp phần đổi mới văn học
chiến tranh chống Mỹ trong truyện ngắn Bảo Ninh là một vấn đề cần thiết.
3. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU CỦA VIỆC GIẢI QUYẾT ĐỀ TÀI
3.1 Chỉ ra được phương thức tiếp cận và thể hiện đề tài chiến tranh
trong truyện ngắn Bảo Ninh.
3.2 So sánh việc thể hiện đề tài chiến tranh trong tập truyện ngắn này
với việc thể hiện đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết Thân phận của tình yêu.
3.3 Từ việc giải quyết những vấn đề trên, góp phần hiểu thêm một số
đặc điểm của truyện ngắn.
4. GIỚI HẠN CỦA VIỆC GIẢI QUYẾT ĐỀ TÀI
1. Luận văn nghiên cứu đề tài chiến tranh trong những truyện ngắn Bảo
Ninh được tập hợp trong Truyện ngắn Bảo Ninh do Nxb Công an ấn hành
năm 2002. Đó là những truyện ngắn: Trại bảy chú lùn, Thời tiết của ký ức, Hà
Nội lúc không giờ, Rửa tay gác kiếm, Mây trắng còn bay, Hữu khuynh, Khắc
dấu mạn thuyền, Ngôi sao vô danh, Bí ẩn của làn nước, Bên lề cuộc tấn công,
Lá thư từ Quý Sửu, Ba lẻ một, La-mác xây-e.
7
2. Đối sánh với tiểu thuyết Thân phận của tình yêu của cùng tác giả ở
những vấn đề liên quan.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Vận dụng những phương pháp nghiên cứu văn học phổ biến: phương
pháp khảo sát - thống kê, phương pháp miêu tả - phân tích và chú trọng
phương pháp so sánh: so sánh trong nội bộ tập truyện ngắn, so sánh những
vấn đề liên quan ở tiểu thuyết Thân phận của tình yêu.
6. DỰ KIẾN ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Luận văn đi sâu tìm hiểu nghiên cứu về đề tài chiến tranh chống Mỹ
trong truyện ngắn Bảo Ninh một cách có hệ thống trong sự đối sánh với tiểu
thuyết Thân phận của tình yêu của cùng tác giả.
7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn được
đế quốc Mỹ là một sự nghiệp vĩ đại đòi hỏi những hy sinh to lớn. Con người
không thể vì hạnh phúc cá nhân mà yên lặng trước sự giày xéo của quân thù.
Cuộc chiến đấu với giặc ngoại xâm giống như một cuộc trường chinh không
ngưng nghỉ, chiến tranh là một chuỗi dài khó khăn gian khổ. Các nhà văn
thời kỳ này có nhiệm vụ phải nhận lấy sự ký thác của lịch sử là ca ngợi chủ
nghĩa anh hùng. Trách nhiệm lớn lao của các nhà văn là: "phải có những tác
phẩm xứng đáng chẳng những để biểu dương sự nghiệp kháng chiến kiến
quốc bấy giờ mà còn để lưu truyền cái lịch sử oanh liệt kháng chiến kiến quốc
cho hậu thế" [61,27].
Trong văn học 1945-1975 (9 năm văn học kháng Pháp và hơn 20 năm
văn học chống Mỹ) với tư duy sử thi, các cây bút phản ánh cuộc tử sinh của
dân tộc với những quan tâm là "viết cái gì?" hơn là "viết như thế nào?". Bởi
vậy, ở giai đoạn này, trong các bài, thư, báo bàn về văn nghệ, Đảng và Hồ Chí
Minh đều nhấn mạnh các yếu tố về nội dung được yêu cầu như: "biểu dương",
"ghi lại cho được", "phản ánh chân thật". Văn học Việt Nam ở thời kỳ này cái
nhìn về cuộc chiến còn phiến diện, chỉ ca ngợi mà chưa khơi sâu, mô tả
những đau khổ của chiến tranh, những con người dù cận kề cái chết vẫn được
lý tưởng hóa. Đó là hình ảnh của những người anh hùng như anh Núp, Tnú...,
đó là hình ảnh của chị Sứ, chị út Tịch... Những điều đó đã đem lại cho văn
9
xuôi trong thời kỳ này ít nhiều hạn chế khi viết về đề tài chiến tranh. Trải qua
bảy thế kỷ truyện ngắn dân tộc từ Lý Tế Xuyên (thế kỷ XIV) đến nay, có thể
thấy rằng truyện ngắn Việt Nam đã đạt đến trình độ của truyện ngắn hiện đại,
với "một kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt cuộc
sống rất riêng, mang tính chất thể loại" [17,37]. Thế nhưng ở giai đoạn 1945-
1975 ở thể loại truyện ngắn còn có những hạn chế ở cái nhìn về cuộc chiến.
Ngôn ngữ và nghệ thuật trần thuật trong các tác phẩm còn phẳng lặng, một
chiều, cái gai góc, đau đáu khi viết về chiến tranh thật sự mờ nhạt hoặc là
không có. Sau năm 1975, đất nước bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ xây
niệm từ chiến trường gian khổ. Trong hành trang tinh thần của anh, chiến
tranh là nỗi nhớ, là nỗi buồn nguyên khối. Viết về chiến tranh sau cuộc chiến
tranh với Bảo Ninh cũng như các nhà văn quân đội là niềm hạnh phúc hay
chính là món nợ văn chương cần phải trả đối với cuộc đời. Trong Truyện ngắn
Bảo Ninh do Nxb Công an Nhân dân ấn hành năm 2002 có tất thảy là 16 truyện
ngắn thì có đến 13 truyện viết về đề tài chiến tranh chống Mỹ: Trại "Bảy chú
lùn", Ba lẻ một, Bên lề cuộc tấn công, Lá thư từ Quý Sửu, Bí ẩn của làn nước,
Ngôi sao vô danh, Rửa tay gác kiếm, Mây trắng còn bay, Khắc dấu mạn
thuyền, Thời tiết của ký ức, Hữu khuynh, Hà Nội lúc không giờ, La- mác-xâye.
Trong 13 truyện ngắn viết về chiến tranh, chỉ có một truyện đứng ở thời
điểm quá khứ (Bên lề cuộc tấn công) và hai truyện đứng ở thời điểm hiện tại
(Mây trắng còn bay, La-mác-xây e) còn lại là truyện đan xen giữa hiện tại và
quá khứ. Trong 13 truyện ngắn ấy có 9 nhân vật chính là người lính. Đó là các
truyện: Trại "bảy chú lùn", Ba lẻ một, Là thư từ Quí Sửu, Ngôi sao vô danh,
Rửa tay gác kiếm, Khắc dấu mạn thuyền, Bên lề cuộc tấn công, Hữu khuynh,
Hà Nội lúc không giờ (trong đó có 8 nhân vật chính là người lính trở về).
Thống kê như thế để thấy rằng Bảo Ninh nhìn nhận cuộc chiến hầu hết là từ
hơn hai mươi năm sau. Tác giả đã cố gắng thoát ra khỏi khuôn khổ sáo mòn
của đề tài chiến tranh.
Có thể nói mạch chảy xuyên suốt trong nền văn học Việt Nam tính từ
sau cách mạng tháng tám là đề tài chiến tranh. Văn học của 30 năm chiến
tranh "tiêu biểu cho nền nghệ thuật còn tươi ròng sự sống, một nền nghệ thuật
11
thấm đẫm mồ hôi, khói và thuốc súng, một nền nghệ thuật chân chất, đẹp và
khỏe như những chàng trai đang độ lớn". Do yêu cầu của thời chiến tranh mỗi
tác phẩm văn học phải phục vụ cho mục đích chính trị nên những tác phẩm
văn học của thời kỳ này đã miêu tả hiện thực cần có, nên có chứ chưa phải là
miêu tả hiện thực đang tồn tại. Bởi vậy những hiện thực chiến tranh khốc liệt
còn bị khuất lấp, bao khó khăn, gian khổ trong đời sống người lính chưa được
cuộc đời của họ".
Độ lùi của thời gian là một lợi thế của Bảo Ninh để nhìn lại những gì đã
diễn ra trong chiến tranh. Thời gian tạo cho nhà văn có cơ hội nhìn chiến
tranh như một hiện tượng xã hội tổng thể và nhất là cho phép nhà văn kiểm
chứng những hậu quả xã hội của nó. Văn học hậu chiến của bất kỳ dân tộc
nào cũng có trách nhiệm lớn lao là bằng tư duy nghệ thuật nhận thức lại, đo
lại những "chấn động" về mọi mặt xã hội do chiến tranh để lại cho dân tộc
mình. Và cũng dễ hiểu vì sao những tác phẩm viết về chiến tranh thời hậu
chiến có cái nhìn bình tĩnh hơn, khách quan hơn và vì thế mà đọc nó, ta thấy
thấm thía hơn những gì được viết trong khói lửa. Đề tài chiến tranh trong
truyện ngắn Bảo Ninh còn thể hiện sự đa chiều, đa diện trong việc dùng thủ
pháp đồng hiện biến đổi không gian, thời gian, miêu tả dòng độc thoại, nội
tâm con người...
Bên cạnh 13 truyện ngắn viết về đề tài chiến tranh chống Mỹ, Bảo Ninh
có cuốn tiểu thuyết Thân phận của tình yêu, đây là tiểu thuyết đạt giải thưởng
của Hội Nhà văn năm 1991. Trong tác phẩm này, Bảo Ninh đã cho người đọc
thấy toàn bộ nỗi buồn chiến tranh, nỗi buồn tình yêu, những thân phận con
người, thân phận tình yêu... Đó là sự sáng tạo của nhà văn Bảo Ninh trước sự
đổi mới cách tiếp cận đề tài chiến tranh, anh đã kịp thời bắt nhịp với hướng đi
mới, đã cho độc giả những trang văn viết về đề tài chiến tranh ở hai thể loại
truyện ngắn và tiểu thuyết rất sống động, trung thực và đầy tính nhân văn.
Điều này dường như đã làm nên một phong cách rất riêng của nhà văn xứ
Quảng Bình cát trắng này. 13
1.2. VẤN ĐỀ CHIẾN TRANH VÀ NHÂN CÁCH CON NGƯỜI TRONG TRUYỆN
NGẮN BẢO NINH
Chiến tranh là một nhân tố có tác động cực kỳ to lớn đối với nhân cách
trung đoàn của Thái Bá Lợi khám phá theo lối tư duy mới, những người lính
ở đây không thể hiện phẩm chất anh hùng trong chiến đấu mà chủ yếu được
khám phá trong các quan hệ đời thường, đời tư. Đó là những con người không
còn mang vẻ đẹp lý tưởng của văn học thời chiến mà là con người với lẫn lộn
tốt xấu, trắng đen.
Nhìn lại chặng đường đổi mới nhiều nhà nghiên cứu cho rằng từ 1975
đến 1980 đề tài chiến tranh vẫn viết theo quán tính cũ [32,23]. Phải đến đầu
năm 1980, đặc biệt từ sau 1986, mảng văn học mới này mới có nhiều biến đổi
sâu sắc đối với từng tác giả và cả đội ngũ sáng tác. Không còn những tác phẩm
trực tiếp mô tả tái hiện lại hoàn cảnh chiến tranh như Chiều vô danh (Hoàng Dân),
Thung lũng hoa vàng (Huỳnh Thạch Thảo) mà thường gặp những truyện ngắn
phản ánh hiện thực chiến tranh từ số phận, từ những bi kịch cá nhân như Biển
cứu rỗi (Võ Thị Hảo), Tiếng chuông trôi trên sông (Vũ Hồng)...
Theo Bùi Việt Thắng: "Quan niệm con người vẫn được coi là thước
đo sự tiến bộ nghệ thuật từ xưa tới nay" [49,17]. Tìm hiểu nhân vật cũng là
tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người. Nhân vật văn học là con người
được nhà văn sáng tạo trong tác phẩm: "là con người được miêu tả thể hiện
trong tác phẩm bằng phương tiện văn học" [17,12]. Nhân vật là biểu hiện trực
tiếp của những quan niệm khác nhau về con người của từng tác giả, từng thể
loại, từng giai đoạn văn học. Bất cứ một nền văn học nào ra đời cũng xuất
hiện những con người mới, mỗi thời đại văn học có những kiểu con người
khác nhau. Gắn với thời cổ xưa, văn học có con người thần thoại, con người
sử thi..., gắn với văn học Trung Đại là con người tỏ chí, tỏ lòng... Kiểu con
người khác nhau ấy thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người của các nhà
văn. 15
1.2.1 Người lính dưới góc nhìn con người cá nhân
Văn học hôm nay đã tiếp cận cuộc sống con người cá thể hơn. Nhìn
tập thể, của cả dân tộc. Con người được nhìn nhận, đánh giá trước hết chủ yếu
ở tư cách quan hệ với số phận của dân tộc, của nhân dân, của cách mạng. Một
thời kỳ theo cách nói của Chế Lan Viên: "những năm đất nước có chung tâm
hồn, có chung khuôn mặt nụ cười tiễn đưa con, nghìn bà mẹ như nhau".
Từ sau 1975, nhất là những năm 80 đến nay, người lính dưới góc nhìn
con người cá nhân được quan niệm đúng đắn và có chiều sâu hơn, đặc biệt là
ở truyện ngắn. Bằng nhiều cách khám phá và thể hiện độc đáo, truyện ngắn đã
khắc họa chân dung con người cá thể một cách sinh động, sâu sắc và đa chiều
''Cuộc đời vốn đa sự, con người vốn đa đoan'' (Nguyễn Minh Châu). Mỗi nhà
văn một quan niệm riêng, biến thái, châu tuần chung quanh quan niệm chung
nhất. Đó là con người tự ý thức của Nguyễn Minh Châu, con người trần tục
của Nguyễn Huy Thiệp, con người bản năng của Dạ Ngân, Phạm Hoa,... đều
là những dạng thức của con người cá thể. Nghiên cứu con người - người lính
dưới góc nhìn cá thể trong truyện ngắn Bảo Ninh chúng tôi sẽ làm rõ nhân
cách con người trong chiến tranh và sau chiến tranh.
a. Người lính dưới biểu hiện con người tự nhận thức (hay con người
với khát vọng, kiếm tìm)
Trong mảng viết về chiến tranh chống Mỹ của truyện ngắn Bảo Ninh,
có thể thấy người lính dưới góc nhìn con người cá nhân biểu hiện khá rõ nét ở
dạng thức con người tự nhận thức. Quan niệm này bộc lộ chiều sâu trong
quan niệm nghệ thuật về con người, gắn liền với sự thức tỉnh ngày càng cao
của ý thức con người. Con người thao thức, tự nhận thức trong truyện ngắn
Bảo Ninh thể hiện rõ nét nhân cách con người trong và sau chiến tranh.
Ở phương Tây, người ta thấy con người tự nhận thức xuất hiện từ rất
sớm, Hăm lét của Sêxpia là một điển hình về con người tự nhận thức. Trong
văn học Việt Nam thời trung đại con người tự nhận thức xuất hiện nhiều trong
văn học giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX với kiệt tác
Truyện Kiều (Nguyễn Du), với Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan,
17
18
chiếm trọn cả quãng đời trai trẻ. Chiến tranh không cho phép tuổi thanh xuân
của anh gặp gỡ quen biết để yêu thương một người phụ nữ, cho nên trong trái
tim anh vẫn cháy bỏng một mối tình không có thực với một phụ nữ lớn tuổi
hơn ở cùng khu xóm. Truyện ngắn Khắc dấu mạn thuyền lại đem đến một
hình tượng khác, đó là hình ảnh một người lính tìm về kỷ niệm khắc sâu trong
tâm khảm. Một tình cảm biết ơn trìu mến về người con gái dưới trời mưa bom
bão đạn từ hơn hai mươi năm trước. Đó cũng là một sự kiếm tìm vô vọng.
Thế giới nội tâm của con người luôn là miền đất bí ẩn và có sức thu hút
với nhiều ngòi bút. Đôxtôiepxki đã từng khẳng định: "con người là một điều
bí ẩn. Tôi tìm kiếm điều bí ẩn ấy vì tôi muốn trở thành con người". Con người
tự nhận thức là con người có chiều sâu tâm trạng. Các nhân vật trong các
truyện ngắn kể trên hầu hết được Bảo Ninh xây dựng theo môtíp lặng theo
suy tưởng về một vùng ký ức xa xăm. Đó là ký ức về những ngày chiến tranh
mà các nhân vật chính trong vai người kể chuyện ở ngôi thứ nhất bày tỏ: "như
tôi còn thời nào nữa ngoài thời đã qua" (Hà Nội lúc không giờ); "Giờ đây nhớ
lại những ngày tháng cuối cùng của đời bộ đội lòng tôi vô hạn một nỗi buồn
nhớ sâu lặng" (Rửa tay gác kiếm); hoặc là nỗi thổn thức của ông Phúc - người
phía bên kia giới tuyến trong truyện ngắn Thời tiết của ký ức: "Những nỗi
niềm đã yên nghỉ từ lâu âu sầu thức dậy, lần lượt hiện hình, lần lượt trôi qua,
dằng dặc và chậm rãi, theo nhịp đếm của chiếc đồng hồ để bàn"... Kiếm tìm
về quá khứ - đó là phản ứng của tâm hồn nhạy cảm khi thời cuộc đã đổi thay.
Tất cả các nhân vật của Bảo Ninh đều nhận thức quá khứ đã vời xa và trong
quá khứ lưu giữ kỷ niệm của một thời trai trẻ. Có một điều đáng lưu ý là các
nhân vật trong truyện ngắn viết về chiến tranh của Bảo Ninh đều là những
người đàn ông đã bước qua ngưỡng của tuổi trẻ, nên khi bước vào độ tuổi
trung niên họ có những suy tư chiêm nghiệm của con người từng trải trong
chiến tranh. ''Dĩ nhiên với dòng đời vô cùng vô tận bốn mươi năm có là bao,
chỉ là một khúc đò ngang ngắn ngủi, nhưng với đời người, đó là cả một thời
gian mênh mang như biển mà từ bờ này sang bờ bên kia ngang với từ kiếp
học hiện thực 1930-1945. Văn xuôi 1945-1975 cũng đã khai thác con người
20
như một sản phẩm bất toàn và hướng đến việc làm cho nó được hoàn thiện.
Sau 1975, con người trở về với cuộc sống bình thường, cũng có nghĩa là trở
về với cuộc sống đời thường phồn tạp, muôn vẻ, lẫn lộn tốt xấu, trắng đen, bi
hài..., các nhà văn lại đề cập đến con người với tư cách là sản phẩm bất toàn.
Nhưng nhìn chung trong quá trình thể hiện khiếm khuyết, ít người kể đến
khiếm khuyết của con người trong và sau chiến tranh. Đến Bảo Ninh sự
không hoàn thiện của con người thời hậu chiến được tác giả nêu ra như một
vấn đề trọng tâm trong truyện của mình. Đó là kiểu người xấu xí của Mộc:
''Vóc người anh to ngang, bè ra. Vai rộng lạ lùng, lưng gấu, hơi còng còng.
Da dẻ dường như dày cộp, màu rỉ sắt, nom khô và ráp. Tay chân ngắn nhưng
rất khỏe, không cuồn cuộn bắp thịt mà to xù xụ... còn khuôn mặt... hiếm khi
thấy một bộ mặt trông thô như thế" (Trại bảy chú lùn). Hay là vẻ đáng sợ của
lão ăn mày trong La mác- xây-e: "Hai con mắt của lão thụt sâu trong hai hốc
xương'', ''Cái miệng đen ngòm'', ''cổ họng ông lão chằng chịt gân trắng gân
xanh. Yết hầu chạy giật cục'', ''bàn tay khô khỏng" xây dựng con người không
hoàn thiện, Bảo Ninh còn chú ý đến con người tàn rựa về nhân cách, con
người tha hóa (La-mác-xây-e), con người chưa hoàn thiện trong truyện ngắn
Bảo Ninh còn thể hiện ở việc nhận thức về cách mạng của nhân vật, đó là sự
lầm đường lạc lối về chiến tranh của ông Phúc trong Thời tiết của kí ức. Suốt
cả quãng đời trai trẻ ông Phúc không đứng về phía nhân dân, Tổ quốc. Con
đường ông chọn là phục vụ cho ngụy quyền. Do đó mãi trong lòng ông luôn
thổn thức những ăn năn, sám hối. Đây chính là nét mới rất nhân văn trong
truyện ngắn Bảo Ninh khi quan tâm đến cả số phận của những con người từng
ở bên kia chiến tuyến. Đó là một trong những khát vọng khám phá đến tận
cùng số phận đời tư được thể hiện sâu sắc trong cái nhìn đa diện về con
người.
b. Người lính với thế giới tâm linh
vừa rên ư ử, vừa nói lảm nhảm''. Giấc mơ chính là điều thẳm sâu con người chưa
thể bộc lộ , là thế giới vô thức mà ở đó vẫn ngổn ngang câu chuyện cuộc đời. Nếu
như trong thế giới hiện thực Quang che dấu nỗi đau của mình thì trong giấc mơ anh
22
đã bộc lộ nỗi đau đớn tột cùng. Và có đêm mọi người đã ''nghe thấy trong màn anh
văng vẳng tiếng khóc thút thít sụt sịt''. Thế giới của những giấc mơ cho Quang được
sống với nỗi đau buồn, cho anh nhận diện nhân tình thế thái. Quang không phải
là thánh nhân, anh không thể bàng quan được trước mọi việc - Bảo Ninh đã
xây dựng nên một người lính "rất người", có lòng tự trọng, có sự tổn thương,
có nỗi đau bị bội bạc không thể nào xoa dịu được.
Bảo Ninh khai thác những giấc mơ để thể hiện nhân vật. Có khi trong
cùng một truyện ngắn tác giả dựng lên các nhân vật với những giấc mơ khác
nhau. Tác giả viết: "tất cả anh em trong phòng đều ít nhiều gặp phải ác mộng
di chứng từ trận mạc. Bao giờ cũng là những ác mộng sinh động". Mỗi người
một giấc mơ - thế giới tâm linh đầy rẫy những hồn ma bóng quỷ vật vờ: "tôi
cũng thường nằm mơ thấy những tên Mỹ. Không phải tất cả những âm hình
trong mơ đều là anh em đồng đội. Có những giấc mơ thật kỳ lạ, trong đó chỉ
toàn gặp những bóng ma quân thù. Chúng lững thững xuyên qua tường, êm
như ru bước vào phòng, lượn sát đầu giường tôi nằm". Những năm tháng
chiến tranh đi qua nhưng âm hồn của những con người tử trận vẫn đeo đẳng
tâm hồn người lính. Thế giới vô thức kéo con người trở về với nỗi sợ hãi của
chiến tranh. Những bóng ma: "phần đa chỉ nhè nhẹ diễu lướt qua, nhưng cũng
có vài bóng nấn ná dừng lại, hé cửa màn ra, và phà hơi thở lạnh toát, cúi sát
xuống, như thể nhận mặt tôi". Trong hư vô những người lính thấy kẻ thù của
mình từ cõi chết trở về nhưng vẫn không quên ân oán cũ.
Đằng sau thế giới hiện thực, đằng sau hòa bình, chiến tranh vẫn là nỗi
nhức nhối đeo bám trong mỗi giấc mơ của những người lính. Mọi chuyện của
chiến tranh tưởng như đã chấm dứt vào năm 1975, mọi chuyện tưởng như sẽ
được "rửa tay gác kiếm", ấy vậy mà với Khương (Rửa tay gác kiếm) đêm nào:
đàn ông của Nga mà còn cảm nhận được rất rõ "nỗi buồn niềm mong nhớ "
của Nga với người đàn ông kia. Bảo Ninh còn khai thác sự huyễn cảm ở con
người nơi Mộc. Huyễn cảm là khả năng đặc biệt của con người. Nó là khả
năng cảm biết về một điều gì đó, và thường xảy ra giữa những người thân
thiết, những người ruột thịt, cùng huyết thống. Mộc yêu Nga, có lẽ vì tình yêu
cao lớn thiết tha đó mà anh có khả năng cảm biết về Nga. Trong sự nhạy cảm