BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài
Phương pháp chỉ số trong phân tích thống
kê và vận dụng vào tính chỉ số giá tiêu dùng
ở Việt Nam hiện nay
1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU.
Như chúng ta đã biết toàn cầu hoá, hợp tác quốc tế là một xu
thế tất yếu khách quan của thời đại, nhận thức đúng đắn được điều
này Đảng và Nhà nước ta, đặc biệt trong những năm gần đây, luôn
đẩy mạnh và thực hiện các chính sách mở cửa, tăng cường hợp tác
quốc tế nhằm đưa nền kinh tế nước ta hội nhập cùng nền kinh tế
thế giới. Khi chúng ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý
của Nhà nước, thì nền kinh tế của chúng ta sẽ hoạt động theo
những quy luật vốn có của nền kinh tế thị trường như quy luật
cung cầu, quy luật giá cả, quy luật cạnh tranh vv Và khi đó vai
trò của chính phủ lại càng được khẳng định trong việc định hướng
nền kinh tế, khắc phục những khuyết tật mà kinh tế thị trường gây
2
ra, đặc biệt trong quá trình hội nhập hiện nay, khi mà nền kinh tế
nước ta chịu sự tác động trức tiếp bởi những biến động của nền
kinh tế toàn cầu, thì việc ổn định vĩ mô nền kinh tế đã trở thành
yếu tố quyết định đảm bảo cho các đơn vị sản xuất kinh doanh
trong nước cũng như các nhà đầu tư từ nước ngoài yên tâm hoạt
động một cách có hiệu quả. Nhưng làm thế nào mà chính phủ có
thể nhận biết được những dấu hiệu bất ổn của nền kinh tế? Sự bất
ổn đó đang ở mức độ nào ? Xu hướng biến động của nó ra sao?.Có
một chỉ tiêu có thể giúp chính phủ đánh giá được mức ổn định của
nền kinh tế, đó là chỉ số giá tiêu dùng.
động sản xuất kinh doanh hàng ngày nói riêng,chúng ta thường
phải so sánh, phân tích, đánh giá các đại lượng khác nhau trong
những điều kiện không gian và thời gian khác nhau cũng như phải
tìm ra được các nguyên nhân, các nhân tố tác động đến từng đại
lượng đó để có thể điều chỉnh, xây dựng các chiến lược và kế
hoạch hành động hợp lý trong tương lai. Trong thực tế phương
pháp chỉ số có ý nghĩa thiết thực nhất, và người ta thường sử
dụng phương pháp chỉ số làm công cụ phân tích, nhưng để thực
hiện công việc này không phải đơn giản, nhất là khi có nhiều đai
lượng khó có thể đo lường được hay các đại lượng không có
chung đơn vị tính. Vậy thực chất của phương pháp chỉ số là gì?
Nó được vận dụng như thế nào? Chúng ta sẽ đi sâu vào nghiên
cứu để có câu trả lời một cách đầy đủ, và trước hết ta hãy tìm
hiểu những vấn đề về chỉ số.
I.Khái niệm, đặc điểm, và tác dụng của chỉ số trong thống kê.
1.Khái niệm về chỉ số.
Chỉ số là chỉ tiêu tương đối biểu hiện quan hệ so sánh giữa
hai mức độ của một hiện tượng nghiên cứu.
2. Đặc điểm của phương pháp chỉ số trong thống kê.
- Đây là phương pháp phân tích thống kê nghiên cứu sự biến
động của những hiện tượng kinh tế phức tạp bao gồm nhiều đơn
vị, nhiều phần tử mà các đại lượng không thể trực tiếp cộng được
với nhau.
Như vậy khi xây dựng chỉ số đối với các hiện tượng kinh tế
phức tạp thì những biểu hiện về mặt lượng của các phần tử phải
được chuyển về dạng chung để có thể trực tiếp cộng được với
nhau dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa nhân tố nghiên cứu với các
nhân tố khác.
Khi có nhiều nhân tố tham gia trong công thức chỉ số thì
việc phân tích sự biến động của một nhân tố phải được đặt ra
4. Quyền số của chỉ số thống kê.
- Khái niệm về quyền số:
Quyền số của chỉ số là nhân tố được giữ cố định trong công
thức chỉ số chung.
Ví dụ: Chỉ số tổng hợp giá cả: CPI=
∑
∑
qp
qp
0
1
Trong công thức trên khối lượng tiêu thụ q giữ vai trò là
quyền số. Quyền số có thể là một nhân tố hay nhiều nhân tố.
- Ý nghĩa của quyền số:
+ Quyền số nói lên tầm quan trọng hay vai trò của mỗi phần
tử trong tổng thể.
+ Quyền số chuyển các phần tử vốn không trực tiếp cộng
được với nhau thành dạng chung để có thể tổng hợp được từ đó
thiết lập quan hệ so sánh.
- Lựa chọn quyền số cho chỉ số chung:
+ Trước hết ta phải chọn các nhân tố có liên quan.
+ Sau đó phải xác định thời kỳ cho quyền số: điều này phụ
thuộc vào nhiều yếu tố liên quan, tuỳ thuộc vào điều kiện dữ liệu,
yêu cầu thông tin phân tích, thời kỳ quyền số của chỉ số chung có
5
thể được xác định ở kỳ gốc, kỳ báo cáo hoặc một thời kỳ nào đó
thích hợp.
5. Tác dụng của chỉ số trong phân tích thống kê.
- Phương pháp chỉ số nghiên cứu sự động về mức độ của
hiện tượng qua thời gian.
i
p
phản ánh biến động giá cả của từng mặt hàng trên thị
trường ở kỳ gốc so với kỳ nghiên cứu.
- Chỉ số đơn về khối lượng hàng tiêu thụ: đây là loại chỉ
số biểu hiện quan hệ so sánh khối lượng tiêu thụ của từng mặt
hàng qua thời gian.
i
q =
0
1
q
q
Trong công thức trên: q
1:
là khối lượng hàng hoá kỳ báo cáo
q
0:
là khối lượng hàng hoá kỳ gốc
i
q
phản ánh biến động khối lượng của từng loại hàng hoá ở
kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc.
- Các đặc tính của chỉ số đơn:
6
+ Tính nghịch đảo: Nếu ta hoán vị kỳ gốc và kỳ nghiên cứu,
kết quả thu được sẽ là gia trị nghịch đảo của chỉ số cũ.
+ Tính liên hoàn: Tích của các chỉ số liên hoàn hoặc tích của
các chỉ số định gốc liên tiếp sẽ bằng chỉ số định gốc tương ứng.
I
L
p
=
∑
∑
00
01
qp
qp
Trong công thức trên: I
L
p
: l à chỉ số tổng hợp giá cả Laspayres
q
0:
là khối lượng của mặt hàng nào đó kỳ gốc
p
1
, p
0
là giá của mặt hàng đó tương ứng ở kỳ nghiên
cứu và kỳ gốc.
7
Ta thấy
∑
01
qp
qp
qp
Trong công thức trên: I
p
p
: là chỉ số tổng hợp giá cả Paache
q
1:
là khối lượng của mặt hàng nào đó kỳ nghiên cứu
p
1:
p
0
là giá của mặt hàng đó tương ứng ở kỳ nghiên cứu và kỳ
gốc.
Ta thấy
∑
10
qp
chỉ mang ý nghĩa giả định còn
∑
11
qp
mang ý
nghĩa thực tế.
∑
11
qp
-
∑
qp
Chỉ số Fisher được vận dụng trong trường hợp có sự chênh lệch
quá lớn giữa chỉ số Laspayres và chỉ số Paache do sự ảnh hưởng
của cơ cấu tiêu thụ các mặt hàng.
Theo cách tính này ta không xác định được giá trị tuyệt đối của
doanh thu. Mặt khác chỉ số giá là một chỉ tiêu kinh tế, nó đựơc
xây dựng trên cơ sở lý luận kinh tế, có đối tượng là hiện tượng
kinh tế phức tạp chứ không phải là chỉ tiêu bình quân nên không
thể giải thích chỉ số theo quan điểm xác suất, không chỉ có xuất
phát từ những tiêu chuẩn toán học mà quên đi nội dung kinh tế.
Hơn nữa trong thực tế việc tính toán hệ thống quyền số kỳ báo
8
cáo ở phạm vi rộng khó thực hiện, và nó cũng không có ý nghĩa
kinh tế nên nó không thiết thực.
- Chỉ số tổng hợp giá cả theo phương thức số bình quân:
Được sử dụng để tính chỉ số tổng hợp giá cả I
p
từ các chỉ số
đơn về giá bán của từng mặt hàng i
p
.
+ Xét trường hợp chỉ số giá Laspayres:
I
L
p
=
∑
∑
00
00
qp
qp
Thì ta lại có: I
L
p
=
∑
∑
0
0
d
di
p
Trong công thức trên d
0
đóng vai trò là quyền số.
+ Xét trường hợp chỉ số Paache:
I
P
p
=
∑
∑
10
11
qp
qp
=
p
i
i
i
d
d
- Chỉ số tổng hợp giá cả theo công thức bình quân với trọng số:
Trong trường hợp không cập nhật trực tiếp về doanh thu các
mặt hàng, thì yếu tố trọng số được sử dụng để thể hiện sự khác
biệt hay vai trò của từng mặt hàng hoặc nhóm mặt hàng.
9
I
p
=
∑
∑
m
mi
p
Trong đó m là trọng số tương ứng đối với mặt hàng thứ i.
1.2.2. Chỉ số tổng hợp lượng hàng hoá tiêu thụ (I
q
).
Chỉ số tổng hợp số lượng cũng có tầm quan trọng rộng lớn.
Khi quan sát sự biến động của tổng sản phẩm trong nước(GDP)
hoặc sản lượng sản phẩm hiện vật (của từng ngành), ta phải dùng
giá so sánh (chọn từ một mốc thời gian nào đó) để loại trừ ảnh
I
L
q
=
∑
∑
00
01
pq
pq
I
P
q
=
∑
∑
10
11
pq
pq
I
F
q
=
P
q
L
q
II
Doanh thu pq
q
II
2.Chỉ số không gian.
Là loại chỉ số biểu hiện quan hệ so sánh giữa hai mức độ của
hiện tượng nghiên cứu ở hai điều kiện không gian khác nhau.
2.1. Chỉ số đơn.
10
Là loại chỉ số biểu hiện quan hệ so sánh từng mặt hàng ở hai
thị trường:
- Chỉ số đơn giá:
I
p A/B =
B
A
p
p
Trong đó: I
p A / B
là chỉ số đơn giá
P
A
là giá của hàng hoá ở thị trường A
P
B
là giá của hàng hoá ở thị trường B
- Chỉ số lượng tiêu thụ:
I
q A/B =
B
A
+
là quyền số, phản ánh giá bình quân
từng mặt hàng tính chung ở hai thị trường.
q
A
, q
B
là lượng của hàng hoá ở hai thị trường tương ứng A và B
2.2.2. Chỉ số không gian về giá bán.
Công thức tính: I
q A/B =
∑
∑
Qp
Qp
B
A
Trong đó
Q
phản ánh tổng khối lượng tiêu thụ tương ứng từng
mặt hàng
p
A
, p
B
là giá của hàng hoá ở hai thị trường tương ứng Avà B
III. Hệ thống chỉ số.
Trong thực tế có nhiều các nhân tố nguyên nhân khác nhau
cùng ảnh hưởng đến một nhân tố kết quả, khi ta phân tích mối
- Trong hệ thống chỉ số, chỉ số toàn bộ bằng tích các chỉ số
nhân tố và mẫu số của chỉ số nhân tố nhân tố đứng trước tương
ứng là tử số của chỉ số nhân tố đứng sau.
- Chênh lệch tuyệt đối giữa tử số và mẫu số của chỉ số toàn
bộ bằng tổng các chênh lệch tuyết đối giữa tử số và mẫu số của
các chỉ số nhân tố, đặc điểm này dùng để phân tích biến động
trong mối liên hệ giữa các chỉ tiêu.
3.1.2. Các bước xây dựng hệ thống chỉ số.
- Phân tích chỉ tiêu tổng hợp hay chỉ tiêu nghiên cứu ra các
nhân tố cấu thành.
12
- Sắp xếp các nhân tố theo thứ tự tính chất lượng giảm dần và
tính số lượng tăng dần.
- Viết hệ thống chỉ số trong đó các chỉ số nhân tố được thiết
lập theo nguyên tắc:
+ Đối với nhân tố chất lượng sử dụng quyền số là nhân tố số
lượng kỳ nghiên cứu.
+ Đối vơi nhân tố số lượng sử dụng quyền số là nhân tố chất
lượng ở kỳ gốc.
*. Ta hãy xét mối quan hệ sau:
Doanh thu =
∑
(
giá cả hàng hoá*số hàng hoá tiêu thụ)
Nhìn chung quan hệ này đựơc biểu hiện bằng:
Giá trị =
∑
(
giá * lượng)
Từ đây ta cũng có:
11
qp
qp
=
∑
∑
10
11
qp
qp
*
∑
∑
01
11
qp
qp
Hai hệ thống trên không cho ta đẳng thức để đảm bảo quan hệ
tích số đã nêu ở phần đầu.
Theo cách của Fisher, ta có đẳng thức, nhưng cách tính toán rất
phức tạp:
∑
∑
00
11
qp
qp
=
00
11
qp
qp
=
∑
∑
10
11
qp
qp
*
∑
∑
00
10
qp
qp
Trong công thức này, chỉ số tổng hợp giá cả là của Paache, còn
chỉ số tổng hợp số lượng là của Laspayres. Trong một thời gian
dài trước đây, ở nước ta đã dùng hệ thống chỉ số này để phân tích
kinh tế và sau này cũng còn tiếp tục dùng vì nó có nhiều ưu điểm:
13
+ Bảo đảm đẳng thức về mặt toán học, thuận tiện cho việc
tính toán trong phân tích.
+ Có thể dùng để tính một chỉ số khi đã biết các chỉ số khác
trong hệ thống.
Hệ thống chỉ số tổng hợp được dùng để phân tích ảnh hưởng của
các nhân tố cấu thành đối với một hiện tượng phức tạp, cho ta các
khi ghép thành hệ thống chỉ số cần chú ý sử dụng các trọng số
giống nhau để đảm bảo đẳng thức toán học của hệ thống.
3.2. Phương pháp biểu hiện ảnh hưởng biến động riêng biệt.
3.2.1. Đặc điểm của phương pháp:
- Là phương pháp nêu lên ảnh hưởng biến động riêng của mỗi
nhân tố đối với sự biến động của hiện tượng phức tạp, trong đó
các chỉ số phản ánh biến động riêng của mỗi nhân tố được thiết
lập với quyền số kỳ gốc.
- Trong hệ thống chỉ số ngoài chỉ số nhân tố còn có chỉ số liên
hệ biểu hiện ảnh hưởng chung của các nhân tố cùng biến động
hoặc cùng tác động lẫn nhau.
3.2.2. Các bước xây dựng hệ thống chỉ số:
- Phân tích chỉ tiêu tổng hợp ra các nhân tố cấu thành.
- Sắp xếp các nhân tố theo thứ tự tính chất lượng giảm dần,
tính số lượng tăng dần.
- Viết hệ thống chỉ số trong đó mỗi chỉ số nhân tố sử dụng
quyền số kỳ gốc và chỉ số liên hệ- là chỉ số đảm bảo cân bằng của
hệ thống chỉ số.
*. Ví dụ ta hãy phân tích tổng doanh thu theo phương pháp biểu
hiện biến động riêng biệt:
Ta có chỉ số toàn bộ:
14
∑
∑
00
11
qp
qp
=
qp
Δ
=
∑
11
qp
-
∑
00
qp
=
001
)( qpp
∑
−
+
001
)( pqq
−
∑
+
)).((
0101
qqpp
−−
∑
∑
11
và tổng lượng biến tiêu thức.
4.1. Hệ thống chỉ số phân tích biến động của chỉ tiêu bình
quân.
Hệ thống chỉ số của số trung bình có tác dụng rất rõ rệt trong
phân tích kinh tế- xã hội. Bất kỳ một sự thay đổi cơ cấu nào trong
tổng thể hiện tượng cũng đều tác dụng ( có lợi hoặc có hại, tuỳ
theo chiều hướng chuyển dịch của cơ cấu) đến các chỉ tiêu phản
ánh các mặt của hiện tượng. Vì vậy cần có hệ thống chỉ số này để
hiểu rõ cơ chế của ảnh hưởng đó và có cách xử lý cần thiết. Ta có
mô hình phân tích như sau:
15
=
Xo
X
1
∑
∑
∑
∑
0
00
1
11
f
fX
f
fX
X
1
01
1
X
X
.
0
01
X
X
hay I
(
X
)
=
I
(X) .
I
(f)
Biến động tuyệt đối:
∆
=
1
X
-
0
kỳ gốc.
01
X
là chỉ tiêu bình quân kỳ báo cáo giả định các lượng biến
không thay đổi so với kỳ gốc.
f
1
, f
0
là các trọng số tương ứng của các lượng biến ở kỳ báo cáo
và kỳ gốc.
Ý nghĩa:
(1) là chỉ số cấu thành khả biến: nêu lên biến động của chỉ tiêu
bình quân do ảnh hưởng của các nhân tố cấu thành.
(2) là chỉ số cấu thành cố định: nêu lên biến động của chỉ tiêu
bình quân do ảnh hưởng biến động của lượng biến tiêu thức trong
điều kiện kết cấu tổng thể theo tiêu thức nghiên cứu không đổi.
(3) là chỉ số ảnh hưởng kết cấu: nêu lên biến động của chỉ tiêu
bình quân do ảnh hưởng biến động kết cấu tổng thể.
4.2. Hệ thống chỉ số phân tích biến động tổng lượng biến
tiêu thức.
Tổng lượng biến tiêu thức được biểu hiện theo công thức chung:
∑
Xf
=
X
.
∑
- Xét mô hình 2: có thể có các dạng sau:
+ Mô hình do ảnh hưởng của hai nhân tố:
∑
∑
00
11
fX
fX
=
∑
∑
10
11
fX
fX
*
∑
∑
00
10
fX
fX
Dạng rut gọn:
∑
∑
00
11
-
0
X
)
1
∑
f
+ (
1
∑
f
-
0
∑
f
)
0
X
+ Mô hình do ảnh hưởng của ba nhân tố :
∑
∑
00
11
fX
fX
=
∑
∑
(
1
X
-
01
X
)
1
∑
f
+(
01
X
-
0
X
)
1
∑
f
+(
1
∑
f
-
0
∑
f
)
0
00
11
qp
qp
=
∑
∑
10
11
ss
ss
qp
qp
*
∑
∑
00
10
ss
ss
qp
qp
*
∑
∑
11
11
ss
qp
qp
là lượng các mặt hàng tương ứng ở kỳ nghiên cứu và kỳ
gốc thuộc bộ phận so sánh được.
∑
∑
11
11
ss
qp
qp
phản ánh biến động tổng doanh thu do ảnh hưởng xuất
hiện của các mặt hàng mới.
∑
∑
00
00
qp
qp
ss
phản ánh biến động của tổng doanh thu do ảnh hưởng
của việc mất đi các mặt hàng cũ thuộc bộ phận không so sánh
được.
PHẦN II: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP CHỈ SỐ
TRONG VIỆC TÍNH CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
Như chúng ta đã biết, hiện nay ổn định giá cả là một trong
những mục tiêu lớn của bất cứ một nền kinh tế vĩ mô nào, vì sự
∑
00
0
pq
pq
t
.
100%
=
∑
0
D
.
0
p
p
t
.100
Trong đó : I
p
là chỉ số giá tiêu dùng
P
t
là giá kỳ báo cáo
P
0 ,
q
0
là giá và lượng các mặt hàng kỳ gốc
19
phương pháp hồi tưởng và tính giá bình quân bằng phương pháp
bình quân số học giản đơn các mặt hàng đó của các tháng.
3. Lập quyền số kỳ gốc.
Quyền số năm 2000 được sử dụng để tính chỉ số giá tiêu dùng
và được cố định trong khoảng 5 năm, quyền số này là cơ cấu chi
tiêu hộ gia đình năm 2000, là tỷ trọng từng nhóm hàng trong danh
mục so với tổng chi của hộ gia đình.
Ví dụ năm 2003 ta xác định được quyền số như sau:
Quyền số 10 nhóm tiêu dùng cấp 1 của Việt Nam.
STT Nhóm hàng Quyền số (%)
1 Lương thực, thực phẩm:
+ Lương thực
+ Thực phẩm
47,90
13,08
28,58
2 Đồ uống và thuốc lá 4,50
3 May mặc, giày dép, mũ nón 7,63
4 Nhà ở và vật liệu xây dựng 8,23
5 Thiết bị và đồ dùng gia đình 9,20
6 Dược phẩm, y tế 2,40
7 Phương tiện đi lại, bưu điện 0,07
8 Giáo dục 2,89
9 Văn hoá, thể thao, giải trí 3,81
10 Hàng hoá và dịch vụ khác 3,36
( Nguồn: Niên giám Thống kê năm 2003)
4. Chọn danh mục mặt hàng đại diện.
Khi chúng ta tính chỉ số giá tiêu dùng, ta phải tính được giá tiêu
dùng, giá này được thống kê trên cơ sở giá bán lẻ của các mặt
- Đối với các mặt hàng có nhiều nhãn hiệu, chủng loại, qui cách
phẩm cấp, kích cỡ khác nhau, dễ bị nhầm lẫn với một mặt hàng
khác – (ví dụ: sữa bột, đồ dùng nhà bếp, quần áo may sẵn ) cần
hướng dẫn kỹ để điều tra viên thu giá đúng mặt hàng có phẩm cấp
qui cách đã xác định trong danh mục.
- Đối với dịch vụ, tuy có khó khăn hơn trong việc xác định đặc
tính, chất lượng của chúng, tuy nhiên cần chọn những tiêu thức
mô tả nổi bật về từng loại dịch vụ để đưa vào danh mục. Ví dụ:
trong dịch vụ y tế, nếu chọn dịch vụ chữa răng thì cần phải ghi rõ:
công hàn một răng thường tại phòng khám tư nhân; hoặc công
khám đa khoa thông thường tại phòng khám dịch vụ của bệnh
viện; hoặc trong dịch vụ vui chơi giải trí, chọn vé vào bể bơi .
Danh mục hàng hóa ở chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ
được xét theo tiêu thức người bán còn chỉ số giá tiêu dùng dựa
trên tiêu thức người mua, do đó việc phân chia các nhóm hàng,
ngành hàng có khác nhau, cụ thể như sau:
Trong điều tra doanh số bán lẻ hàng hoá và dịch vụ, toàn bộ
hàng hoá và dịch vụ được chia thành hai nhóm lớn là hàng hoá và
dịch vụ. Trong mỗi nhóm lớn lại được chia thành nhiều nhóm,
trong từng nhóm chia thành các phân nhóm nhỏ, và trong mỗi
phân nhóm nhỏ sẽ có một hay nhiều mặt hàng đại diện, cụ thể như
sau:
Toàn bộ hàng hoá và dịch vụ được chia thành 2 nhóm lớn là :
Hàng hoá và dịch vụ.
Hàng hoá được chia thành:
+Hàng lương thực, thực phẩm.
21
+Hàng phi lương thực, thực phẩm.
Hàng lương thực, thực phẩm được chia thành:
+Hàng lương thực
ơ
5. Mạng lưới thu thập giá.
5.1. Lựa chọn số lượng khu vực điều tra, điểm điều tra.
Công việc tiếp theo cần được thực hiện là ta phải thu thập được
giá của các mặt hàng đã được lựa chọn. Ở nước ta việc thu thập
giá theo danh mục được thực hiện thông qua mạng lưới điều tra
giá ở các tỉnh, thành phố trên cả nước bao gồm các khu vực điều
tra và các điểm điều tra như tại các chợ, các điểm buôn bán, các
cơ sở, các trung tâm dịch vụ phục vụ khách hàng vv Các điểm
điều tra nhiều hay ít tuỳ thuộc vào số lượng dân cư của từng địa
22
phương, cũng như sức tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ để lựa chọn
một cách chính xác, sao cho có thể đảm bảo tính đại diện cao nhất
của toàn vùng. Muốn vậy khi lựa chọn các khu vực, địa điểm điều
tra với một số lượng hợp lý ta phải lưu ý những vấn đề sau:
-Về lựa chọn khu vực điều tra: Các tỉnh, thành phố thuộc trung
ương cần chọn các khu vực điều tra ở cả thành thị và nông thôn,
các khu vực điều tra này phải có đủ các mặt hàng và dịch vụ đại
diện cho tiêu dùng cảu địa phương để cung cấp giá cho việc tính
chỉ số giá khu vực nông thôn, thành thị và cả tỉnh, thành phố.
Những thành phố trực thuộc trung ương, khu vực điều tra ở thành
thị là khu vực ở các quận, khu vực điều tra ở nông thôn là khu
vực ở các huyện. Những tỉnh còn lại, khu vực điều tra ở thành thị
là khu vực ở thành phố, thị xã của tỉnh, khu vực điều tra ở nông
thôn là khu vực ở các huyện.
-Về lựa chọn điểm điều tra: ta cũng cần lưu ý các điểm sau:
+ Địa điểm điều tra phải là nơi tập trung bán lẻ hàng hoá hoặc
nơi tập trung các dịch vụ phục vụ có tính chất đại chúng.
+ Phải kết hợp nhiều địa điểm điều tra đề phòng khi có một số
địa điểm điều tra không có mặt hàng trong danh mục.
1 Hà Nội 6 20
23
2 Hải Phòng 5 17
3 Thái Nguyên 4 14
4 Sơn La 3 11
5 Quảng Ninh 3 11
6 Lạng Sơn 3 11
7 Thái Bình 3 11
8 Thanh Hoá 4 14
9 Thừa Thiên Huế 4 14
10 TP Đà Nẵng 3 11
11 Bình Định 3 11
12 Khánh Hoà 4 14
13 Bình Thuận 3 11
14 Lâm Đồng 3 11
15 TP Hồ Chí Minh 6 20
16 Bình Dương 3 11
17 Đồng Nai 4 14
18 An Giang 4 14
19 Kiên Giang 3 11
20 Cần Thơ 4 14
Tổng số 75 265
(Nguồn: Phụ lục Bảng quy định số lượng khu vực điều tra và
điều tra viên cho từng tỉnh, thành phố- năm 2004-Tổng Cục
Thống Kê)
5.2. Phương pháp điều tra giá tiêu dùng.
Việc điều tra giá tiêu dùng được thực hiện như sau:
Trước tiên căn cứ vào danh mục hàng hoá và dịch vụ đại diện
của tỉnh/thành phố để chọn khu vực, điểm điều tra và phân công
cho từng điều tra viên cần thu thập giá các mặt hàng, dịch vụ cụ
giá vào các ngày sau:
- Kỳ 1 vào ngày 25 tháng trước tháng báo cáo.
- Kỳ 2 vào ngày 05 tháng báo cáo.
- Kỳ 3 vào ngày 15 tháng báo cáo.
Tuy nhiên điều này cũng có thể thay đổi tuỳ tình hình cụ thể.
Về thời điểm thu thập giá: những mặt hàng chỉ thu thập giá 1
kỳ/tháng thu thập giá vào kỳ 3. Những mặt hàng do Nhà nước
quản lý thu thập giá của ngày điều chỉnh, sau đó tính lại giá bình
quân tháng theo số ngày trong tháng.
6. Phương pháp tính chỉ số giá tiêu dùng.
Như đã trình bày ở trên để tính chỉ số giá tiêu dùng chúng ta
phải trải qua nhiều giai đoạn phức tạp, khó khăn nhất là quá trình
tổ chức thu thập thông tin. Giai đoạn tính toán là giai đoạn cuối
cùng và cũng phải được thực hiện qua nhiều bước tính toán.
Chỉ số giá tiêu dùng có thể được tính cho mỗi tỉnh, thành phố và
cả nước trên cơ sở chỉ số giá của khu vực thành thị và khu vực
nông thôn.
Chỉ số giá tiêu dùng của mỗi tỉnh, thành phố được tính theo các
bước sau đây:
+ Tính giá bình quân từng kỳ điều tra cho tưng khu vực nông
thôn, thành thị và cho cả tỉnh, thành phố.
25