Luận văn Đề tài nghiên cứu Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong năm - Pdf 13

LUẬN VĂN
ĐỀ TÀI
TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU HÀNG THỦ
CÔNG MỸ NGHỆ TRONG NĂM
TP HỒ CHÍ MINH
1
MỞ ĐẦU
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ là mặt hàng có truyền thống lâu đời của Việt
Nam, và được xuất khẩu khá sớm so với các mặt hàng khác, đã đóng góp tích cực
vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước, đồng thời có một vai trò quan trọng trong
giải quyết một số vấn đề kinh tế xã hội tại nông thôn.
Hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam ngày càng mở rông thị trường tiêu thụ.
Hiện tại hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam đã có mặt tại 163 quốc gia và vùng lãnh
thổ trên thế giới, cũng là mặt hàng có tiềm năng tăng trưởng xuất khẩu rất lớn. Mặc
dù ngành thủ công mỹ nghệ có kim ngạch xuất khẩu không cao so sánh nhiều mặt
hàng xuất khẩu khác, nhưng hàng mỹ nghệ lại mang về cho đất nước thực thu ngoại
tệ có một tỷ trọng rất cao trong kim ngạch xuất khẩu của mình. So với một số mặt
hàng khác như may mặc, gỗ và giày da do nguyên liệu đều phải nhập khẩu từ nước
ngoài giá trị gia tăng của các ngành này chủ yếu là chi phí gia công và khấu hao
máy móc thiết bị, cho nên giá trị thực thu ngoại tệ mang về cho đất nước chỉ chiếm
một tỷ trọng từ 5-20% trong tổng giá trị kim ngạch nhập khẩu. Nhưng đối với hàng
thủ công mỹ nghệ do sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước đặc biệt là các nguồn
nguyên vật liệu, được thu lượm từ phế liệu và thứ liệu của nông lâm sản, chẳng
những mang lại hiệu quả từ thực thu giá trị ngoại tệ rất cao, có những mặt hàng thủ
công mỹ nghệ như đạt 100% giá trị xuất khẩu, còn lại cũng đạt trên 80% giá trị kim
ngạch xuất khẩu, đồng thời xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đã giúp xã hội thu hồi
một bộ phận chất thải nôngnghiệp sau chế biến và thu hoạch, đã biến phế liệu trở
thành những sản phẩm xuất khẩu, góp phần tích cực cho việc bảo vệ môi trường và
phát triển kinh tế đất nước.
Tuy nhiên mức độ phát triển của ngành thủ công mỹ nghệ vẫn còn hạn chế so
với tiềm năng của nó: đặc biệt những năm gần đây doanh thu xuất khẩu của ngành

nâng cao chất lượng lẫn số lượng sản phẩm.
3
Những khó khăn trên là lý do làm cho kim ngạch suất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ năm 2011 có những giảm sút đáng kể, sự phân tích sẽ góp phần đưa ra giải
pháp cho hướng đi của hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam trong tương lai.
NỘI DUNG
I. Tình hình chung của việc xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam có sự tăng trưởng
mạnh trong 10 năm gần đây, từ 274 triệu USD năm 2000 đến 880 triệu USD năm
2009. Trong năm 2009, kim ngạch xuất khẩu có sự chững lại do tác động của khủng
hoảng kinh tế toàn cầu.
BIỂU ĐỒ KIM NGẠCH XUẤT KHẨU THỦ CÔNG MỸ NGHỆ
QUA CÁC NĂM
Nguồn số liệu: theo Cục tài chính hải quan
1. Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong năm 2010
4
Kim ngạch xuất khẩu thủ công trong quý I nặm 2010 đạt gần 180 triệu USD.
Thị trường xuất khẩu thủ công mỹ nghệ chủ yếu trong quý I là Mỹ, Nhật Bản,Pháp,
Đức, Đài Loan, Trong đó, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Pháp tăng khá
mạnh, tăng tới 31.4% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, kim ngạch xuất khẩu
sang thị trường Mỹ và Đức cũng tăng nhẹ, tăng 2,3% và 1,1%. Trong khi đó, kim
ngạch xuất sang thị trường Nhật Bản giảm 35,2%; Australia giảm 86,4%. Trong các
mặt hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu quý I năm nay, kim ngạch xuất khẩu gốm sứ
đạt cao nhất với 80,6 triệu USD, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước.
Trong quý 2/2010, tình hình xuất khẩu có những tiến triển rất tích cực. Tính
chung 5 tháng đầu năm 2010, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm mây tre lá của Việt
Nam đạt 82,3 triệu USD chiếm 0,32% tổng kim ngạch, tăng 14,92% so với cùng kỳ.
Tính chung 5 tháng đầu năm 2010, Nhật Bản là thị trường chủ yếu nhập khẩu sản
phẩm mây, tre, cói thảm của Việt Nam. 5 tháng đầu năm 2010, Việt Nam đã xuất
khẩu 12,7 triệu USD sản phẩm mây, tre, cói thảm sang thị trường Nhật Bản, chiếm

Hoa kỳ, Nhật Bản, Đức, Pháp, Ôxtraylia… là những thị trường chính nhập
khẩu hàng mây , tre, cói thảm của Việt Nam. Hoa kỳ - thị trường chính, chiếm
15,8% tỷ trọng, đạt kim ngạch cao nhất trong 3 quý đầu năm 22,7 triệu USD, giảm
4,98% so với cùng kỳ, tính riêng tháng 9 xuất khẩu mặt hàng này sang thị trường
Hoa Kỳ đạt 2,38 triệu USD, giảm 15,44% so với tháng 8 và giảm 17,74% so với
tháng 9/2010.
Tuy đứng thứ hai về kim ngạch, 2,36 triệu USD trong tháng 9, nhưng xuất
khẩu mây, tre, cói thảm sang Nhật Bản trong tháng 9 lại tăng so với tháng liền kề
6
trước đó, tăng 4,76% và tăng 2,37% so với tháng 9/2010. Tuy nhiên, nếu tính 3 quý
đầu năm 2011, thì xuất khẩu mây, tre, cói thảm sang thị trường này lại giảm
13,82% so với cùng kỳ năm trước, tương đương với 20,2 triệu USD.
Nhật Bản là thị trường tiêu thụ hàng mây, tre, cói và thảm lớn của Việt Nam,
chiếm trên khoảng 15% tổng kim ngạch xuất khẩu thủ công mỹ nghệ của cả nước.
Năm 2010, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sang Nhật đạt gần 29 triệu USD,
tăng 10% so với năm 2009. Tính đến hết tháng 4 năm 2011, kim ngạch mặt hàng
này của Việt Nam đạt 64,67 triệu USD, riêng thị trường Nhật thì đạt 9,41 triệu
USD, giảm nhẹ 10% so với cùng kỳ năm ngoái. Riêng tháng 4, kim ngạch giảm 8%
(đạt 2,9 triệu USD).
THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM MÂY, TRE, CÓI THẢM
NỬA ĐẦU NĂM 2011 (ĐVT: USD)

Thị trường
KNXK
T6
KNXK
6T/2011
KNXK
6T/2010
% tăng

Thuỵ Điển 139.490 1.232.774 924.831 18,63 -23,26 33,30
Đan Mạch 152.452 1.043.606 861.042 -26,69 22,64 21,20
Nguồn số liệu: theo Cục tài chính hải quan
THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM MÂY, TRE, CÓI THẢM
QUÍ 3/2011 (ĐVT: USD)
Thị trường KNXK
T9/2011
KNXK
9T/2011
KNXK
9T/2010
% tăng
giảm so
T8-2011
% tăng
giảm so
T9/2010
% tăng
giảm so
cùng kỳ
Tổng KN 15.211.973 143.904.606 151.488.454 -9,15 -5,75 -5,01
Hoa Kỳ 2.388.259 22.740.917 23.933.018 -15,44 -17,74 -4,98
Nhật Bản 2.363.196 20.268.681 23.518.091 4,76 2,37 -13,82
Đức 1.904.775 19.355.480 19.598.626 1,62 4,48 -1,24
Pháp 987.360 6.867.025 7.122.788 13,64 32,93 -3,59
Oxtrâylia 835.519 6.570.580 7.401.700 2,08 -6,46 -11,23
Đài Loan 686.549 5.937.762 6.165.535 -5,95 -1,11 -3,69
Anh 364.895 4.851.835 4.791.131 -23,44 -32,39 1,27
Ba Lan 596.845 4.755.298 2.981.147 -40,54 63,69 59,51
Hà Lan 300.880 4.706.200 6.395.405 4,89 -47,73 -26,41

Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu hàng gốm sứ sang các thị trường trong
tháng 9 đều giảm về kim ngạch so với tháng liền kề trước đó. Đáng chú ý, xuất
khẩu sang thị trường Anh trong tháng 9 là có kim ngạch tăng mạnh hơn cả các thị
trường khác so với tháng 8, tăng 45,61%, tương đương với 690,5 nghìn USD.
BẢNG THỐNG KÊ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM GỐM
SỨ 9 THÁNG ĐẦU NĂM 2011(ĐVT: USD)

Thị trường

KNXK
T9/2011

KNXNK
9T/2011

KNXK
9T/2010
% tăng
giảm
so T8 -
2011
% tăng
giảm so
T9 –
2010
% tăng
giảm so
cùng kỳ
Trị giá 27.052.265 253.449.329 212.082.823 -7,38 22,39 19,50
10

Tuy nhiên do nhu cầu thị trường, đến thời điểm hiện tại ngành gạch ốp lát
Việt Nam chỉ phát huy được khoảng 70% công suất và liên tục tồn kho gần 30 triệu
m2 tương ứng gần 2000 tỷ đồng.
Nguyên nhân là do năm 2011 thị trường xây dựng giảm trong khi mọi chi phí
đầu vào cho sản xuất như vốn, nguyên liệu, lao động… đều tăng cao. Hầu hết các
doanh nghiệp trong ngành đều phải tiết giảm năng lực sản xuất, có đơn vị giảm tới
40% dẫn tới chi phí bình quân càng tăng cao, tính cạnh tranh kém, nhiều doanh
nghiệp phải đối mặt với tình trạng thua lỗ. Mặt khác, Việt Nam vẫn đang phải nhập
khẩu một lượng lớn gạch ốp lát và gốm sứ từ Trung Quốc và việc kiểm soát lượng
gạch nhập khẩu còn gặp khó khăn. Năm 2011, gạch ốp lát Trung Quốc nhập vào
nước ta ngày càng tăng. Trong đó hàng lậu và gian lận thương mại diễn ra phức tạp,
tinh vi và gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp sản xuất gạch ốp lát trong
nước.
12
Để ngăn chặn tình trạng hàng lậu và gian lận thương mại, Hiệp hội Gốm sứ
xây dựng vừa có công văn gửi Bộ Tài Chính và các cơ quan chức năng nhằm kiểm
soát chặt lượng gạch nhập khẩu từ Trung Quốc nhằm bảo vệ sản xuất trong nước.
Khi sản xuất hàng xuất khẩu thường các lò sẽ làm dư ra một ít để trừ hao dự
phòng sản phẩm bị lỗi. Số dư này sau đó sẽ được bán cho các cửa hàng kinh doanh
đồ gốm trong nước với giá thấp hơn khá nhiều so với giá xuất khẩu, giá gần như là
hòa vốn. Như vậy, doanh nghiệp sản xuất không phải bỏ những sản phẩm đó, còn
người chơi đồ gốm trong nước có cơ hội mua được sản phẩm mẫu mã mới như
khách nước ngoài nhưng với giá rẻ hơn. Nếu là hàng đặt sản xuất phải có số lượng
lớn nếu không giá thành khá cao, rất ít khách dám bỏ tiền ra mua, như vậy việc mua
lại hàng xuất khẩu dôi dư là hợp lý nhất. Được biết, các lò gốm sau một năm đều
thay đổi hàng loạt mẫu sản phẩm. Trung bình mỗi lò cho ra từ 70 đến 100 mẫu hàng
mới/năm. Các mẫu này phần thì do chủ lò sáng tác và phần do khách có sẵn mẫu
đặt hàng. Việc các điểm bán đồ gốm trang trí sân vườn tận dụng hàng xuất khẩu dôi
dư cũng khá phù hợp với tình hình người chơi đồ gốm trong nước hiện nay. Đây
cũng là cơ hội để khách hàng trong nước luôn được tiếp cận với những dòng sản

hàng thủ công mỹ nghệ.
Hiện nay, nhiều làng nghề, nhiều doanh nghiệp vẫn tự hào về truyền thống lâu
đời, về tay nghề, tính nghệ thuật, sự độc đáo, ý nghĩa văn hoá của sản phẩm, các
thiết kế sản phẩm mang tính độc nhất và của riêng làng nghề mình, doanh nghiệp
mình. Trong khi đó, khả năng ứng dụng và tính thương mại của sản phẩm chưa
được chú ý nhiều. Nếu chỉ đề cao tính nghệ thuật, sự đơn chiếc của sản phẩm thì đó
chỉ là những mặt hàng lưu niệm đơn thuần, đối tượng mua hàng đa phần chỉ là
những người khách du lịch. Loại hàng này hầu như không có cơ hội nhận được
những đơn hàng lớn.
14
Một ví dụ cụ thể, đó là trước đây, hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam rất được
ưa chuộng ở thị trường Nhật Bản do sự mới lạ và giá rẻ nhưng gần đây, sức hấp dẫn
đó đã bị giảm nhiều mà nguyên nhân chính là nhiều mẫu mã đã không có sự thay
đổi trong suốt thời gian dài.
Một chuyên gia trong lĩnh vực thiết kế hàng hóa của Nhật Bản cho rằng, chất
lượng sản phẩm của Việt Nam ngày càng tốt hơn nhưng mẫu mã các sản phẩm xuất
đi Nhật Bản thì hầu như chưa có tiến bộ. Theo ông, để khắc phục tình trạng này cần
phải ngay lập tức cải tiến mẫu mã sản phẩm.
Một khảo sát của Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam cũng cho thấy,
hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam yếu nhất ở hai khâu thông tin thị trường và kiểu
dáng mẫu mã.
Việc sản xuất theo đơn đặt hàng của nhà nhập khẩu nước ngoài thường đem
lại giá trị rất thấp. Anh Nguyễn Văn Bền, chủ một doanh nghiệp mây tre đan ở xã
Phú Nghĩa cho một ví dụ: Đối với sản phẩm làn đựng quần áo loại lớn, khi hoàn
thiện đến công đoạn đóng vào container, công ty anh được trả gần 300 nghìn đồng
cho mỗi sản phẩm, tính ra xấp xỉ 15 USD. Trong khi đó, giá bán ở nước ngoài trung
bình là 120- 150 USD. Hay mặt hàng khay đựng bằng mây tre đan, doanh nghiệp
Việt Nam chỉ bán được 24 nghìn đồng, trong khi giá bán đến tay người tiêu dùng là
10 bảng Anh. Doanh nghiệp nước ngoài chỉ việc nhập hàng về phân phối, còn
doanh nghiệp Việt Nam phải lo hoàn thiện tất cả các khâu, thậm chí phải dán sẵn

chất lượng và hiệu quả tổ chức các đoàn xúc tiến thương mại ở nước ngoài (nghiên
cứu, khảo sát thị trường, tham gia hội chợ, giao dịch thương mại, tổ chức hội nghị
khách hàng ), nhất là đối với các thị trường lớn và nhiều tiềm năng đối với hàng
16
thủ công mỹ nghệ xuất khẩu của Việt Nam như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Nga, Úc,
các nước Nam Mỹ và Bắc Âu.
IV. Những dự đoán trong xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ giai đoạn 2010-
2015
Nếu so sánh với một số mặt hàng khác như may mặc, gỗ và giày da… thì
ngành thủ công mỹ nghệ thực sự có giá trị lớn. Với nguyên, vật liệu được thu lượm
từ phụ phẩm nông, lâm nghiệp (nguyên, phụ liệu nhập ước tính chỉ chiếm 3-3,5%
giá trị xuất khẩu), mặt hàng thủ công mỹ nghệ đa phần đạt 100% giá trị, còn lại ít
nhất cũng đạt trên 80% giá trị nội địa hóa trong kim ngạch xuất khẩu. Theo tính
toán, cứ 1 triệu USD xuất khẩu của ngành thủ công mỹ nghệ thì lãi gấp 5-10 lần so
với ngành khai thác tài nguyên; giải quyết việc làm cho 3.000-5.000 lao động…
Để phát huy giá trị của hàng thủ công mỹ nghệ cũng như nâng cao tỷ trọng
của ngành vào kim ngạch xuất khẩu, mới đây Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn đã phê duyệt Đề án xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ giai đoạn 2010-2015.
Chính phủ đã đưa thủ công mỹ nghệ là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ
lực của Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015, do vậy mặt hàng này được Chính phủ
hỗ trợ để xuất khẩu.
Thủ công mỹ nghệ được ưu tiên như một mặt hàng xuất khẩu chính trong 5
năm tới vì ngành này có những đóng góp tích cực trong việc tăng thu nhập và xóa
đói giảm nghèo tại các vùng nông thôn.
Đề án này phấn đấu đến hết năm 2015, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công
mỹ nghệ đạt 1,6 tỷ USD. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu nhóm ngành mây tre lá
đạt 530 triệu USD, chiếm tỷ trọng 33%; nhóm ngành gốm sứ đạt 480 triệu USD,
chiếm tỷ trọng 30%; nhóm ngành dệt thủ công đạt 270 triệu USD, chiếm tỷ trọng
17%; nhóm ngành gỗ chạm khảm và gia dụng đạt 130 triệu USD, chiếm 8% và các
nhóm khác đạt 190 triệu USD, chiếm 12%.

my-nghe/mn-HDC-264-1.asmx
3.
4.
cong-my-nghe-Nganh-hang-duoc-coi-la-mui-nhon.aspx
5.
thu-cong-my-nghe-va-nhung-giai-phap-quan-trong-de-mo-rong-
6.
7.
Viet-Nam-sang-Nhat-ban-trong-mot-vai-nam-gan-day_b_51638.html
8.
%20h%C3%A0ng%20th%E1%BB%A7%20c%C3%B4ng%20%20m
%E1%BB%B9%20ngh%E1%BB%87.html
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status