TRƯỜNG.........................................
KHOA............................................. LUẬN VĂN
Thực trạng sản xuất và xuất
khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ của Việt Nam Khoá luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế Ngoại thương Vũ Hùng Kiên Trung 2 - K38
1
CHƯƠNG I
VAI TRÒ CỦA HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ ĐỐI VỚI
SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ
Giới thiệu chung về nghề truyền thống hàng thủ công mỹ nghệ
Nghề thủ công mỹ nghệ Việt Nam vốn có truyền thống từ lâu đời.
độc đáo cho cả dân tộc Việt Nam. Môi trường văn hoá làng nghề cũng chính là
khung cảnh làng quê, cây đa, bến nước, đình chùa, đền miếu…, các lễ hội và
hoạt động phường hội, phong tục tập quán, nếp sống đậm nét dân gian và chứa
đựng tính nhân văn sâu sắc. Truyền thống đó từ lâu đã trở thành một bộ phận
không thể thiếu và làm phong phú thêm truyền thống văn hoá Việt Nam.
Chúng ta có thể khẳng đị
nh một cách chắc chắn rằng, trước khi có nền
sản xuất cơ khí hoá và hiện đại hoá, kể cả tự động hoá như hiện nay, thì mọi
sản phẩm trong xã hội đều được làm ra bởi một nền công nghệ duy nhất, đó là
công nghệ truyền thống với đôi bàn tay và khối óc sáng tạo của các thế hệ thợ
thủ công cùng việc sử dụng các loại công cụ sản xuất thô s
ơ. Nói khác đi, mọi
giá trị vật phẩm vật chất (vật thể) và tinh thần (phi vật thể) trong các thời kỳ
lịch sử – xã hội lúc đó của dân tộc ta, cũng như các dân tộc khác trên thế giới,
đều là sản phẩm thủ công, đều hội tụ ở các sản phẩm thủ công.
Hơn thế nữa, ngay cả ở thời hiện đại, khi mà máy móc đã thay thế phần
lớ
n sức lao động của con người, nền sản xuất và sản phẩm thủ công cũng
không mất đi. Chúng tồn tại, phát triển song song với công nghệ và sản phẩm
hiện đại.
Với sự giúp đỡ của máy móc và thiết bị hiện đại, công nghệ truyền
thống sẽ được hiện đại hoá, nền sản xuất thủ công thủ công truyền thống ngày
càng phát triển thuận lợi và mạnh mẽ hơn.
Nói chung, với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, biết
bao sản phẩm hiện đại được tạo ra từ những máy móc hết sức thông minh.
Bên cạ
nh đó, tuy được làm từ những đôi bàn tay cần cù chịu khó của những
người lao động thủ công, hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam vẫn tồn tại và
bước vào đời sống thường nhật một cách giản dị, tự nhiên, dần phát triển
Gốm sứ là loại hàng phổ biến trong cuộc sống của mọi tầng lớp dân cư.
Sản phẩm của nghề này có thể dùng phổ biến trong cuộc sống hàng ngày (bát
đĩa, ấm chén, nồi, chum vại…), trong xây dựng (chân sứ, vật cách điện…) hay
làm đồ
thờ (bát hương, lọ đựng hương, các tượng, lọ hoa…), tranh tượng và đồ
lưu niệm… Gốm sứ được sản xuất ở mọi nơi trên đất nước ta.
Các làng nghề truyền thống sản xuất gốm sứ nổi tiếng là Bát Tràng (Hà
Nội), làng Cậy (Hải Dương), Thổ Hà (Bắc Ninh), Móng Cái (Quảng Ninh),
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế Ngoại thương Vũ Hùng Kiên Trung 2 - K38
4
Hương Canh, Hiến Lễ (Vinh Phú), Thanh Hoá, Phước Phú (Huế), Thanh Hà
(Quảng Nam), Đồng Nai, Sông Bé, Thủ Dỗu Một… Các sản phẩm nổi tiếng
truyền trong dân gian là “Sứ Móng Cái, vại Hương Canh” hay “chiếu Nga
Sơn, gạch Bát Tràng”…
Gốm sứ có nhiều loại: men ngọc, men nâu (hay hoa nâu) xuất hiện từ thời
Lý, hoa lam (đời Trần)… Kỹ thuật làm gốm sứ vẫn xoay quanh hai vấn đề lớn là
kỹ thuật bàn xoay và lò nung. Ngoài lò hộp (nung bằng than) và lò vồng (nung
bằng c
ủi) hiện nay đã xuất hiện kiểu lò tunel đốt gas.
Sản phẩm gốm sứ không những tràn ngập trong nước mà còn rất có giá
trị ở nước ngoài. Cách đây 200 năm, khúc sông xã Bát Tràng còn có một bến
cảng chở đồ gốm sứ sang Nhật Bản. Ngày nay nhiều mặt hàng bị nhái, làng
nghề lan tỏa nhưng ở những làng truyền thống vẫn giữ được bí quyết của
mình đối với những mặt hàng tinh x
ảo chẳng hạn Thổ Hà vẫn giữ được sành
nâu, Hương Canh, Phù Lãng vẫn giữ được gốm da lươn, Chu Đậu (Hải
Dương) vẫn giữ được men hoa lam, gốm Tức Mặc (Nam Định) gọi là “Thiên
Hàng Tiện xưa là nơi buôn bán các hàng tiện gỗ như mâm bồng, ống
hương, đài rượu, khuôn oản… do người làng Nhị Khê làm (nay là Hàng
Hành, phố Tô Tịch ). Phố Hàng khay chuyên bán sản phẩm đồ gỗ của làng
Đồng Kỵ.
Chạm khắc gỗ nổi tiếng ở Việt Nam có làng Phù Khê, Hương Mạc,
Đồng Kỵ, Đồng Quang (Bắc Ninh), Bích Chu (Vĩnh Phú), Vân Hà (Hà Nội),
Võ Lăng (Hà Tây), Lý Nhân (Hà Nam), La Xuyên (Nam Định), làng Sinh,
Kim Bồng (Quảng Nam), Nhạn Tháp (Bình Định), Phú Lộc (Ninh Bình), Bảo
Hà (Hải Phòng), Mỹ Xuyên (Huế). Trong các cơ sở nổi tiếng trên, Đồng Kỵ là
cơ sở sản xuất gỗ mỹ nghệ lớn nhất ở nước ta.
Mặt hàng của đồ gỗ rất phong phú, nghề mộc là nghề phổ biến trong
dân gian. Các thợ sau khi học được nghề có thể tách nhóm để làm ăn ở nơi
khác vì mọi nơi đều cần đồ gỗ. Tại những nơi mới đó, người thợ vừa học, vừa
làm và lại có cơ hội tách nhóm. Không giống các nghề khác, nghề này được
nhân rộng rất nhanh. Quá trình lao động cần cù say mê đó đã t
ạo nên các lớp
thợ giỏi, sáng tạo… (“nhất nghệ tinh, nhất tinh vinh”) và từ đó nhiều mẫu mã
hàng mới xuất hiện. Quá trình phát triển của nghề này gắn liền với sự ra đời
của nghề điêu khắc, khảm trai. Nhiều mẫu mã của sản phẩm đồ gỗ được lấy từ
Trung Quốc, đặc biệt là các hàng gắn với điển tích như tùng cúc trúc mai,
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế Ngoại thương Vũ Hùng Kiên Trung 2 - K38
6
long ly quy phượng, ngai thờ, các loại tượng, tủ chè, sập gụ…Từ các đường
lèo, các hoạ tiết khác thường được nảy sinh trong sáng tạo của các nghệ
nhân… Vì vậy, trình độ sáng tạo nhanh được nhân lên ở các tay thợ cả, các
Vũ Hùng Kiên Trung 2 - K38
7
thiểu số, các bà mẹ, cô gái thường thêu những sản phẩm cho riêng mình. Thêu
ren là một nghề sớm có ở nước ta, phạm vi sản xuất khá hạn hẹp, thị trường tiêu
thụ lại nhỏ so với khả năng sản xuất nên lượng hàng tồn đọng nhiều.
2.5. Hàng thổ cẩm
Đây là một loại hàng đặc biệt của đồng bào dân tộc thiểu số. Sản xuất ra
hàng thổ cẩm có ngườ
i Chăm ở Chương Mỹ (Ninh Thuận), Phan Hoà (Bình
Thuận). Dệt vải Riêng của người Cà Ho (Lâm Đồng), người Thái, Mường, Tày,
Dao, Lự ở miền Bắc, người Khơ me, Xê đăng, Gia rai, Bana, Chăm, Ê đê, Giả -
Triêng ở miền Nam đều có nghề dệt gia đình. Ở Miền Bắc nổi tiếng dệt thổ cẩm
với các làng nghề Nà phồn, Xâm Khoè, Mai Tịch, Chiềng Châu (Hoà Bình) của
dân tộc Thái; 4 làng nổi tiếng của dân tộ
c Mường là Mường Bí, Mường Vang,
Mường Thành, Mường Đậu (Hoà Bình).
Hàng mỹ nghệ thổ cẩm có rất nhiều loại: quần áo, túi xách, ví… với rất
nhiều kiểu dáng kích cỡ khác nhau, tiêu dùng nội bộ theo tập tục của các đạo
giáo trong các lễ hội là chủ yếu. Nghề thổ cẩm phát triển với những bước thăng
trầm và thị trường hạn hẹp, người thợ thủ công chỉ tận dụ
ng thời gian những lúc
nông nhàn. Thu nhập của họ chủ yếu là từ nông nghiệp. Vì vậy, chỉ có những
người yêu nghề hơn yêu mình mới gắn bó với nghề.
Trong khi đó, nghề này tương đối phát triển ở ngoài Bắc (ở Hoà Bình).
Sản phẩm được bán ở các chợ và nhiều người nước ngoài có mặt tại các điểm
du lịch thường say sưa ngắm nhìn và mua sắm loại sản phẩm này.
3.
Đặc thù của hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống
Hàng thủ công mỹ nghệ do các nghệ nhân và thợ thủ công trong các
hoá Việt Nam. Giá trị mỗi sản phẩm thủ công được khách hàng trong và
ngoài nước nhìn nhận chủ yếu từ góc độ vă
n hoá nghệ thuật dân tộc, sau đó
mới đến vấn đề kỹ thuật và kinh tế.
3.2. Hàng thủ công mỹ nghệ mang đậm tính cá biệt, phong cách của
mỗi nghệ nhân và nét đặc trưng địa phương, tồn tại trong sự giao lưu với
cộng đồng
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế Ngoại thương Vũ Hùng Kiên Trung 2 - K38
9
Hàng chạm trổ trên từng chất liệu khác nhau (gỗ, đá, đồng, sừng,
xương…), hàng sơn (sơn quang, sơn then, sơn thếp vàng bạc, sơn mài), hàng
thêu, dệt (tơ lụa, chiếu, thảm…) hàng mây tre đan, kim hoàn, đồ chơi… ở
mỗi làng nghề đều có màu sắc riêng, từng nghệ nhân cũng có những nét
riêng. Những nét riêng đó được thử thách qua thời gian, qua giao lưu, được
chọn lọc, được thừa nhận để tồ
n tại và phát triển, cùng với sự bổ sung lẫn
nhau, trở thành những kiểu mẫu hoàn thiện hoàn mỹ cho những sản phẩm
cùng loại được sản xuất tiếp theo.
3.3. Hàng thủ công mỹ nghệ là loại sản phẩm nghệ thuật, kết tinh từ
những thành tựu kỹ thuật - công nghệ truyền thống, phương pháp thủ
công tinh xảo với đầu óc sáng tạo nghệ thuật
Sự giao kết gi
ữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ
thuật của nghệ nhân và người thợ thủ công đã tạo ra hàng thủ công mỹ nghệ
nói riêng và sản phẩm thủ công truyền thống nói riêng.
Sự giao kết này kéo theo những đặc thù khác trong sự phát triển hàng
thủ công:
mở rộng các ngành nghề sản xuất, giải quyết công ăn việc làm cho xã hội. Với
ý nghĩa đó, việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ - một trong
những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta, có một vai trò vô cùng to lớn
đối v
ới phát triển kinh tế xã hội Việt Nam.
1. Thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Văn kiện Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định con
đường phát triển của đất nước là thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, nhằm xây dựng nước Việt Nam thành nước công nghiệp, cơ sở vật chất
kỹ thuật hiện
đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất tinh thần cao,
quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn
minh. Để làm được điều đó, chúng ta cần vốn để nhập máy móc, thiết bị, khoa
học kỹ thuật tiên tiến, hiện đạ
i… Vốn để nhập khẩu có thể lấy từ nhiều nguồn
khác nhau như: đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ, hoạt động du lịch, xuất
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế Ngoại thương Vũ Hùng Kiên Trung 2 - K38
11
khẩu sức lao động… Các nguồn vốn đó tuy quan trọng nhưng cũng phải trả
bằn cách này hay cách khác vào thời kỳ sau. Như vậy, để thúc đẩy nhanh quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá một cách có hiệu quả và vững chắc, đạt
mục tiêu biến nước ta thành nước công nghiệp vào năm 2020, phải dựa vào
một nguồn vốn vô cùng quan trọng – xuất khẩu. Trong đó, xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ đ
óng một vai trò rất quan trọng. Kim ngạch xuất khẩu luôn
không ngừng tăng lên trong khi diện tích đất đai vẫn giữ nguyên, thậm chí
còn bị chiếm dụng để sử dụng cho mục đích khác. Vì vậy, nhu cầu tìm việc
cho người dân nông thôn và cho những người lao động không có đất canh tác
ở những vùng nông thôn hiện nay đã trở thành nhu cầu vô cùng cấp thiết. Sản
xuất và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ là m
ột trong những biện pháp hữu
hiệu giải quyết tình trạng này. Bởi lẽ, hàng thủ công mỹ nghệ chủ yếu được
làm bằng tay nên thu hút nhiều lao động có trình độ tay nghề vừa phải, không
đòi hỏi cao về chuyên môn kĩ thuật, nghiệp vụ hay ngoại ngữ như những
ngành khác.
Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tạo điều kiện cho hàng nghìn lao
động nông thôn có việc làm, tạo đầu ra cho sản xuấ
t và thu nhập ổn định cho
người dân. Theo tính toàn, cứ xuất khẩu được 1 triệu USD hàng thủ công mỹ
nghệ thì tạo việc làm và thu nhập cho khoảng từ 3000 đến 4000 lao động chủ
yếu lao động từ các làng nghề nông thôn. Như vậy, với kim ngạch xuất khẩu
hàng thủ công mỹ nghệ như hiện nay, đã thu hút và tạo việc làm cho tà
500.000 đến 600.000 lao động có thu nhập khá. Nếu tính cả lao động nông
nhàn thì con số này lên tới hơn 1 tri
ệu người.
Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ có tác dụng lớn trong việc tạo ra công ăn
việc làm và tăng thu nhập chính đáng cho lao động trong nước, góp phần xoá đói
giảm nghèo. Từ đó, giải quyết được vấn đề thất nghiệp, đẩy lùi các hiện tượng
tiêu cực, các tệ nạn xã hội, góp phần đảm bảo trật tự an ninh xã hội.
3. Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh t
ế có hiệu quả, thúc đẩy sản xuất
phát triển
Xu thế phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại
kéo theo sự thay đổi của cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới. Để theo
kịp và hoà nhập vào xu thế chung đó, chúng ta không thể không tìm một cơ
Thứ tư, xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tạo điều kiện cho các ngành
cùng có điều kiện và cơ hội phát triển.
4. Góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế
Đầu tư nước ngoài, vay n
ợ, viện trợ, du lịch, xuất khẩu lao động …
phần nào giúp ta cân bằng cán cân thanh toán quốc tế nhưng khoản tiền đó có
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế Ngoại thương Vũ Hùng Kiên Trung 2 - K38
14
thể giảm và lẽ dĩ nhiên sẽ làm ảnh hưởng đến cán cân thanh toán quốc tế. Nếu
phát triển xuất khẩu, nhất là những ngành có tỷ lệ thực thu ngoại tệ cao như
thủ công mỹ nghệ (chiếm từ 95 – 97% giá trị xuất khẩu), Việt Nam không
những có vốn để nhập vật tư, thiết bị, công nghệ mới, hiện đại phục vụ sản
xuất hàng thủ công m
ỹ nghệ mà còn có thể tích luỹ thêm vào nguồn thu nhập
ngoại tệ của đất nước để thanh toán các khoản nợ đó đến kỳ hạn, tạo uy tín
cho các kỳ vay tiếp theo. Nếu không làm như vậy đến một lúc nào đó sẽ phải
áp dụng một biện pháp tiêu cực là cắt giảm nhu cầu nhập khẩu của mình.
Điều này không chỉ làm ảnh hưởng đến tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống nhân dân.
5. Mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của Việt Nam
Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại, phụ
thuộc lẫn nhau. Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại, có thể có sớm
hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác, tạo điều ki
ện thúc đẩy các quan hệ
này phát triển. Chẳng hạn xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ thúc đẩy quan hệ
tín dụng, đầu tư, mở rộng vận tải quốc tế… Ngược lại, chính các hoạt động
kinh tế đối ngoại lại tạo tiền đề cho mở rộng xuất khẩu hàng thủ công mỹ
Ông là người đầu tiên ở Trường Đại học Harvard mở ra môn học sách lược
cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh. Năm 1990, ông cho ra đời cuốn sách “ Lợi thế
cạnh tranh quốc gia”. Lĩnh vực nghiên cứu của Porter chủ yếu tập trung vào
hai mặt quản lí chiến lược doanh nghi
ệp và tổ chức ngành. Trong tác phẩm
“Lợi thế cạnh tranh quốc gia”, Porter vận dụng lí luận về lợi thế cạnh tranh
trong nước của ông vào lĩnh vực cạnh tranh quốc tế và đề ra lí luận nổi tiếng
là “ Lí luận hình kim cương. Lí luận của Porter về lợi thế cạnh tranh giải thích
hiện tượng thương mại quốc tế ở góc độ doanh nghiệp tham gia cạnh tranh
quốc tế, vì thế
đã lấp được chỗ trống của lí luận về lợi thế so sánh. Trong đa
số các công trình lí luận, người đóng vai trò chủ yếu là chính phủ, nhưng
Porter lại chú trọng nêu bật vai trò của doanh nghiệp. Ông cho rằng, của cải
nhiều hay ít là do năng suất sản xuất quyết định. Năng suất sản xuất phụ thuộc
vào môi trường cạnh tranh của mỗi nước. Môi trường cạnh tranh sinh ra trong
một khuôn kh
ổ nào đó, khuôn khổ ấy, về kết cấu mà nói, giống như một viên
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế Ngoại thương Vũ Hùng Kiên Trung 2 - K38
16
kim cương có 4 cạnh cơ bản. Do đó thường gọi đó là lí luận hình viên kim
cương.
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế Ngoại thương Vũ Hùng Kiên Trung 2 - K38
17
Lý luận này được mô tả qua sơ đồ dưới đây:
Vũ Hùng Kiên Trung 2 - K38
18
doanh nghiệp nước mình có năng suất cao hơn và nhập khẩu những hàng hóa
và dịch vụ do đối thủ cạnh tranh ở nước ngoài sản xuất mà trong nước chỉ có
thể sản xuất với năng suất thấp, để từ đó nâng cao năng suất bình quân trong
nước. Mặt khác, khi một nước trực tiếp tham gia cạnh tranh quốc tế thì tiêu
chuẩn về năng suất đối với mỗi ngành trong nước
ấy không còn là tiêu chuẩn
trong nước nữa mà là tiêu chuẩn quốc tế. Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp
trong nước chẳng những phải cạnh tranh với nhau trong nước mà còn phải
cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài. Trong lí luận của mình, Porter
dành cho chính phủ và doanh nghiệp một vai trò mới, có tính chất xây dựng
và khả thi trong tiến trình nâng cao sức cạnh tranh và thực hiện phồn vinh
kinh tế. Đỗi với chính phủ thì nhiệm vụ quan trọng hàng đầ
u là tích cực tạo
ra môi trường thúc đẩy nâng cao năng suất. Có nghĩa là chính phủ cần phải
tạo ra môi trường tốt cho cạnh tranh, chứ không phải là trực tiếp tham gia
cạnh tranh.
Tóm lại, lí luận của Porter về lợi thế cạnh tranh quốc gia rất giàu tính chất
gợi mở, rất có giá trị đối với việc nghiên cứu sức cạnh tranh quốc tế. Khóa luận
này cũng xin được phép lấy lí thuyết về l
ợi thế cạnh tranh của ông làm cơ sở lí
luận . Đây cũng chính là cơ sở giúp chúng ta phân tích những điểm mạnh, điểm
yếu của một ngành và những yếu tố tác động đến nó để từ đó rút ra những bài
học kinh nghiệm hữu ích và những giải pháp tháo gỡ khó khăn.
IV. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ
lần nhu cầu. Riêng năm 2000, kim ngạch nhập khẩu các nguyên liệu trên
khoảng gần 50 triệu USD. Nguyên nhân chính là do trong mấy năm qua,
chúng ta chỉ tập trung xây dựng các nhà máy sản xuất gốm sứ hiện đại với tốc
độ sản lượ
ng tăng chóng mặt nhưng lại chưa quan tâm đến đầu tư khai thác,
chế biến nguyên liệu. Theo hiệp hội gốm sứ Việt Nam, với sự phát triển
nhanh chóng của ngành công nghiệp gốm sứ hiện nay, nhu cầu nguyên liệu để
sản xuất không ngừng tăng lên. Nếu như năm 2002 là 960.000 tấn nguyên liệu
và 52.000 tấn men màu thì dự báo năm 2005 sẽ là 1.4 triệu tấn nguyên liệu,
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế Ngoại thương Vũ Hùng Kiên Trung 2 - K38
20
80.000 tấn men màu và năm 2010 sẽ lên đến 1.7 triệu tấn nguyên liệu và
100.000 tấn men màu.
Phần lớn mỏ nguyên liệu ở nước ta có trữ lượng lớn nhưng lại chưa
được khai thác hợp lý. Công nghệ khai thác, chế biến còn quá lạc hậu, chủ
yếu khai thác thủ công, bán cơ giới, phân tán và manh mún, chưa đáp ứng
được nhu cầu công nghệ sản xuất gốm sứ hiện đại. Phần lớn nguồn nguyên
liệu khi
đưa vào nhà máy sản xuất đều tiếp tục phải gia công xử lý.
Về cao lanh, ta có 105 mỏ với trữ lượng 639 triệu tấn, nhưng đến nay
chỉ có 20 mỏ đang khai thác với công suất nhỏ từ 10.000 – 30.000 tấn/năm
với công nghệ khai thác, tuyển lọc cao lanh ở mức thấp, chất lượng chưa cao,
lẫn nhiều tạp chất.
Về men màu, các cơ sở sản xuất trong nước tự sản xu
ất mới chỉ đáp
ứng
10 % nhu cầu và các doanh nghiệp đang phải nhập khẩu với giá đắt.
nghiệp lại không vay được. Sau một số vụ đổ bể thất thoát như Minh Phụng,
EPCO… ngành ngân hàng đã tỏ ra thận trọng hơn đối với việc cho vay. Ngoài
tài sản thế chấp, cầm cố, ngân hàng còn kiểm tra cả phương án kinh doanh,
phương thức kinh doanh rất cụ thể rồi mới cho vay.
Vì vậy, doanh nghiệp đã ph
ải tìm mọi cách để huy động được nguồn
vốn đầu tư cho sản xuất. Ngoài nguồn vốn của bản thân người chủ doanh
nghiệp, còn có nguồn vốn của cán bộ công nhân trong doanh nghiệp, của các
xã viên trong hợp tác xã và thậm chí cả những khoản ứng trước của khách
hàng.
3. Nhu cầu thị trường đối với hàng thủ công mỹ nghệ
Trong những năm qua, ngành xuất khẩu hàng thủ công mỹ ngh
ệ đã tạo
được nhiều thị trường lớn như EU, Nhật Bản, Đài Loan, Bắc Mỹ. Ngoài ra,
Nga, Đông Âu… cũng được coi là những thị trường tiềm năng lớn của Việt
Nam . Hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đến nay đã có mặt tại hơn 50
nước và lãnh thổ ở khắp các châu lục của thế giới . Thị trường xuất khẩu loại
hàng này trong mấ
y chục năm qua có những giai đoạn thăng trầm, nhưng nhìn
chung những năm gần đây có chiều hướng phát triển tốt, có nhiều chủng loại
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế Ngoại thương Vũ Hùng Kiên Trung 2 - K38
22
hàng hoá mới và mở rộng thị trường theo hướng đa phương hoá và đa dạng
hoá quan hệ thị trường với các nước trên thế giới .Tuy nhiên, trong xuất khẩu
những loại hàng hoá này, chúng ta phải đương đầu với một số đối thủ cạnh
tranh có nhiều tiềm năng và kinh nghiệm như Trung Quốc, Indonesia,
Philippines, Thái Lan… Để nâng cao sức cạnh tranh, cần phải tìm hiểu,
23
Vĩnh Long đã xuất khẩu mạnh sang khu vực Tây, Bắc Âu. Ngoài ra, các mặt
hàng như mây, tre, hàng thêu ren … cũng xuất khẩu được sang khu vực thị
trường này với khối lượng đáng kể : Xí nghiệp Rapexco xuất khẩu hàng song
mây tre của Nha Trang, hợp tác xã mây tre Hàng Kênh ( Hải Phòng) có nhiều
mặt hàng mây tre xuất sang Tây Âu; các mặt hàng thảm, đệm ghế cói của
Thái Bình xuất sang Hà Lan, Tây Ban Nha, Italy… hay công ty Barotex
trong năm 1999 cũng đã xuất khẩu 2,5 triệu chiếc nón lá buông sang Tây Ban
Nha và Italy.
4. Các đối thủ c
ạnh tranh
Hiện tại hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt
với hàng thủ công mỹ nghệ của Trung Quốc, Thái Lan, Singapore … Tuy
nhiên, theo đánh giá của nhiều chuyên gia thì hàng thủ công mỹ nghệ của Việt
Nam có nhiều lợi thế hơn nhờ độ tinh xảo và khéo léo thể hiện trên từng
đường nét sản phẩm. Hơn nữa nhiều mặt hàng của ta vượt trội về chất lượng
cũng như mẫu mã. Song để nâng cao sức cạnh tranh cần có những sản phẩm
đặc trưng, đa dạng hơn về mẫu mã, kiểu dáng. Bên cạnh việc phát huy những
lợi thế của những sản phẩm làm bằng tay có độ tinh xảo cao, cần đầu tư các
phương tiện thiết bị máy móc và công nghệ hiện đại để tạo nên những sản
phẩm có chất lượng đồng đề
u và ổn định. Một kinh nghiệm từ các nhà sản
xuất Trung Quốc là để đưa ra được nhiều sản phẩm của mình vào thị trường
Nhật Bản là họ đã mời các chuyên gia Nhật sang tư vấn và tham gia điều hành
sản xuất để sản phẩm làm ra phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Nhật Bản.
5. Các chính sách của nhà nước liên quan đến hàng thủ công mỹ nghệ
Thời gian gầ
n đây chính phủ đã có nhiều tháo gỡ khó khăn cho các
doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ. Ngày 24/1/2000,
Thủ tướng chính phủ đã ra Quyết định 132/2000/QĐ-TTg về một số chính
được xuất khẩu trực tiếp theo nghị quyết 05/2001/NQ - CP ngày 24/5/2001 đã
mở rộng: “Khuyến khích thương nhân Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế
xuất khẩu tất cả các loại hàng hóa mà pháp luật không cấm, không phụ thuộc
vào ngành nghề đã đăng kí kinh doanh”. Các cơ sở
sản xuất kinh doanh kể cả
vừa và nhỏ đều được quyền lựa chọn tham gia trực tiếp xuất khẩu hay ủy thác
xuất khẩu. Một khuyến khích rất cụ thể nữa đã được áp dụng là chính sách
thưởng xuất khẩu cho doanh nghiệp theo 5 tiêu chuẩn: có mặt hàng mới, thị