Thực trạng và giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam sang thị trường EU - Pdf 64

Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hàng thủ công mỹ nghệ là một trong 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực
của Việt Nam trong những năm gần đây. Những sản phẩm của ngành mang
đậm nét văn hoá, tâm hồn và tư tưởng của người Việt Nam. Những sản phẩm
này không chỉ là những vật phẩm đáp ứng nhu cầu sử dụng trong cuộc sống
hàng ngày mà còn là những văn hoá phẩm phục vụ đời sống tinh thần, đáp
ứng nhu cầu thưởng thức những tinh hoa văn hoá của dân tộc. Quan tâm phát
triển ngành nghề này có ý nghĩa thiết thực trong việc bảo tồn và phát triển
một trong những di sản văn hoá quý giá của dân tộc Việt Nam.
Phát triển sản xuất và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ có tác dụng lớn
trong việc tạo việc làm và tăng thu nhập chính đáng cho lao động trong nước; góp
phần xoá đói giảm nghèo, giải quyết vấn đề lao động nhàn rỗi nhất là trong tầng
lớp trẻ; có tác dụng tích cực đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực, các tệ nạn xã hội góp
phần bảo đảm trật tự an ninh xã hội, nhất là trong điều kiện hiện nay tỉ lệ thất
nghiệp còn cao thì ý nghĩa chính trị xã hội của vấn đề nêu trên càng lớn. Bên cạnh
đó, phát triển sản xuất và xuất khẩu thủ công mỹ nghệ còn tạo cơ hội sử dụng
và đào tạo các nghệ nhân, thợ giỏi có tay nghề và kỹ xảo truyền thống góp
phần bảo tồn, phát triển và truyền lại cho đời sau vốn quý nghề nghiệp này
của dân tộc. Đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng truyền thống này còn góp phần
thúc đẩy du lịch địa phương phát triển, mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại
của nước ta.
Thị trường xuất khẩu chủ yếu của hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam là EU,
Mỹ và Nhật Bản, trong đó EU là một thị trường rộng lớn, giàu tiềm năng.
Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam sang thị trường EU
hàng năm vẫn gia tăng nhưng chưa phát triển tương xứng với tiềm năng của ngành
và nhu cầu của thị trường này. Nguyên nhân là do xuất khẩu mặt hàng này của

1
Việt Nam sang thị trường EU còn gặp nhiều khó khăn, chính sách hỗ trợ của các
cấp, các nghành chưa đem lại hiệu quả thiết thực. Vì vậy, việc xuất khẩu hàng thủ

gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ và những nét
chung về thị trường hàng thủ công mỹ nghệ của EU.
Chương 2: Thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam
sang thị trường EU.
Chương 3: Một số biện pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công
mỹ nghệ của Việt Nam sang thị trường EU.
Chương i
Tổng quan về xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ và những nét chung về thị trường
hàng thủ công mỹ nghệ eu
I. Tổng quan về xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
1. Một số khái niệm cơ bản
Theo Luật Thương Mại 2005, Điều 28 thì “xuất khẩu hàng hóa là việc hàng
hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên
lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp
luật”.
Hàng thủ công mỹ nghệ là mặt hàng được làm chủ yếu bằng tay từ những
nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên như: mây, tre, cói, guột, gỗ, dây rừng, bèo, bẹ
chuối…có giá trị sử dụng và giá trị nghệ thuật, được bán ra thị trường trong nước
và nước ngoài nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng và trang trí của con người [2].
Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ tiêu biểu như: đồ gỗ mỹ nghệ, đồ gốm sứ, hàng
mây, tre, đan, hàng thảm, hàng thêu ren, vàng bạc mỹ nghệ...
2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong nền kinh tế

3
Xuất nhập khẩu là hoạt động ngoại thương quan trọng trong nền kinh tế
mỗi quốc gia. Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu có một vị trí và vai trò to lớn
trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trên thế giới nói chung và Việt
Nam nói riêng. Thông qua xuất khẩu có thể thu được ngoại tệ, tăng thu cho ngân
sách, cải thiện cán cân thanh toán, kích thích đổi mới công nghệ, cải biến cơ cấu

triển làng nghề. Làng nghề tồn tại và phát triển khiến cho cái nhìn của người nông
thôn xa hơn, tinh tế hơn. Để có thể duy trì cho làng nghề của mình tồn tại và phát
triển, người làm nghề thủ công mỹ nghệ phải bươn chải ra bên ngoài tìm kiếm
nguồn nguyên liệu, tìm kiếm thị trường tiêu thụ. Đồng thời khách hàng bên ngoài
tìm đến làng nghề ngày càng nhiều để trao đổi sản phẩm. Quá trình này càng phát
triển đòi hỏi trình độ người làm nghề hàng thủ công mỹ nghệ phải được nâng lên,
cơ sở hạ tầng như đường xá, điện, nước, nhà xưởng...cũng cần được nâng cao hơn
nữa.
Bảo tồn và phát triển làng nghề là tăng thêm sức mạnh cội nguồn, gieo vào
lòng mỗi người dân Việt Nam tình cảm dân tộc, yêu quí, trân trọng giữ gìn bản
sắc văn hóa Việt Nam. Phát triển làng nghề còn là một giải pháp quan trọng để
góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn và nâng cao mức
sống vật chất, tinh thần cho người dân [10].
2.2. Tăng thu ngoại tệ
Một quốc gia muốn phát triển nền kinh tế cần tiến hành công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Quá trình này đòi hỏi phải nhập khẩu máy móc, thiết bị, vật
tư và công nghệ tiên tiến phục vụ sản xuất, phát triển các ngành công nghiệp thiết
yếu. Chính vì vậy mà việc tích lũy nguồn ngoại tệ để phục vụ nhập khẩu đóng vai
trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Thông thường
nguồn ngoại tệ tích lũy được của mỗi nước dựa vào các nguồn vốn chủ yếu là: đi
vay, viện trợ, đầu tư nước ngoài và xuất khẩu. Nguồn vốn vay rồi cũng phải trả,

5
còn viện trợ và đầu tư nước ngoài thì có hạn, hơn nữa các nguồn này thường bị
phụ thuộc vào nước ngoài. Vì vậy, nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu chính
là ngoại tệ thu từ xuất khẩu. Thực tế là nước nào gia tăng được xuất khẩu thì nhập
khẩu cũng tăng theo, ngược lại, nếu nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu làm cho cán cân
ngoại thương thâm hụt quá lớn có thể ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế quốc dân.
Ngày nay, khi cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao thì đời
sống tinh thần ngày càng được chú trọng. Con người ngày càng có xu hướng sống

của người dân. Khi các ngành sản xuất phát triển lại tạo thêm nhiều công ăn việc
làm mới cho người lao động và đời sống của họ sẽ càng được nâng cao.
2.4. Góp phần chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế
Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ cũng giống như xuất khẩu bất kỳ loại
hàng hóa nào cần xuất phát từ nhu cầu thị trường nước nhập khẩu để tổ chức sản
xuất và xuất khẩu những sản phẩm phù hợp, đáp ứng nhu cầu của thị trường đó.
Điều đó có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất
phát triển. Hơn nữa, xuất khẩu mặt hàng này tạo điều kiện cho các ngành liên
quan có cơ hội phát triển thuận lợi, mở rộng thị trường tiêu thụ, cung cấp đầu vào
cho sản xuất, khai thác tối đa sản xuất trong nước. Xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ cũng tạo ra những tiền đề kinh tế, kỹ thuật nhằm đổi mới thường xuyên năng
lực sản xuất trong nước, hay nói theo cách khác là cơ sở tạo thêm vốn và kỹ thuật,
công nghệ tiên tiến từ thế giới bên ngoài nhằm hiện đại hoá nền kinh tế, tổ chức
lại sản xuất cho phù hợp với nhu cầu thị trường thế giới.
Khi xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ phát triển sẽ kéo theo việc phát triển
các ngành công nghiệp phụ trợ như ngành công nghiệp chế biến gỗ, ngành giao
thông vận tải, ngành dệt, ngành công nghệ thông tin...Đối với mỗi thị trường khác
nhau thì có những yêu cầu sản phẩm cũng khác nhau nên ngành thủ công mỹ nghệ

7
cũng như các ngành công nghiệp phụ trợ cần phải phát triển theo hướng đáp ứng
những yêu cầu đó.
2.5. Góp phần phát triển du lịch địa phương
Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ thường gắn với các làng nghề truyền
thống. Mỗi làng nghề lại có điều kiện tự nhiên, nét văn hóa, phong tục tập quán, bí
quyết làng nghề khác nhau. Chính điều này hấp dẫn du khách đến thăm quan, tìm
hiểu. Từ nhu cầu thăm quan, du lịch như vậy mà đã xuất hiện và phát triển mạnh
loại hình du lịch làng nghề. Có rất nhiều tuor du lịch khác nhau đón khách quốc tế
đến thăm quan và xem những người thợ tài hoa thao tác, trình diễn các công đoạn
hoàn thiện sản phẩm rồi mua hàng lưu niệm. Đến tận nơi sản xuất, du khách sẽ

hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Công cuộc đổi mới đã thúc đẩy lực lượng sản
xuất phát triển, cơ cấu sản xuất chuyển dịch dần, từ đó thúc đẩy xuất khẩu và cải
thiện cơ cấu xuất - nhập khẩu. Xuất khẩu được đặt thành một nhiệm vụ trọng tâm,
sản xuất gắn liền với lưu thông, xuất khẩu. Trong quá trình phát triển nền kinh tế,
xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ nói riêng và xuất khẩu hàng hóa nói chung chịu
tác động bởi các nhóm nhân tố cơ bản sau:
3.1. Các nhân tố về cơ chế chính sách và môi trường pháp lý
Cơ chế và chính sách tác động trực tiếp tới các doanh nghiệp sản xuất hàng
hoá nói chung và hàng xuất khẩu nói riêng. Khi môi trường luật pháp từng bước
được cải thiện, rõ ràng, minh bạch thì chính cơ chế và chính sách đã giúp cho các
doanh nghiệp làm ăn thuận lợi hơn. Với một khối lượng quá lớn văn bản đủ loại
từ luật đến pháp luật, nghị quyết, nghị định, quyết định, thông tư của các cấp khi
hoạt động có hiệu quả hay không có hiệu quả đã tạo ra những thay đổi lớn trong
sự tăng trưởng của từng ngành cũng như từng doanh nghiệp. Các cơ chế chính
sách phù hợp, thông thoáng sẽ tạo thuận lợi cho các ngành sản xuất, các địa

9
phương và các thành phần kinh tế tham gia xuất nhập khẩu. Ngược lại, nếu cơ chế
chính sách không thông thoáng sẽ tạo nên rào cản cho việc xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ của các doanh nghiệp.
Mỗi một quốc gia đều có cơ chế chính sách thể hiện qua luật pháp. Chính
vì vậy mà nó chi phối tới hoạt động kinh doanh trong nước cũng như tới hoạt
động kinh doanh quốc tế. Tuy nhiên, dù luật pháp các nước có khác nhau thì nó
cũng ảnh hưởng tới các hoạt động xuất khẩu trên các mặt như: quy định về giao
dịch, hợp đồng; về cạnh tranh, độc quyền; về giá cả, các loại thuế; về vấn đề bảo
vệ môi trường, tiêu chuẩn chất lượng, bao bì, về thương hiệu, quảng cáo; về vấn
đề tự do thương mại hay bảo hộ mậu dịch...
Như vậy, cơ chế chính sách và môi trường pháp lý vừa tạo thuận lợi cho
các doanh nghiệp mở rộng thị trường, tăng lợi nhuận nhưng đồng thời cũng tạo ra
những hàng rào ngăn cản và hạn chế khả năng của doanh nghiệp trong việc khai

cố và nâng cấp sẽ giúp cho việc nâng cao năng lực sản xuất, tạo điều kiện cho việc
vận chuyển, lưu thông hàng hóa được nhanh hơn, giảm chi phí vận chuyển, giảm
thiểu các chi phí hao mòn vô ích...Những yếu tố này giúp cho việc giảm giá thành
sản phẩm, tạo cho doanh nghiệp đạt được tính kinh tế theo qui mô.
Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, nhiều
công nghệ tiến bộ mới ra đời thay thế các công nghệ cũ đã tạo ra những cơ hội
mới đối với tất cả các ngành nghề. Các doanh nghiệp có thể giao dịch với khách
hàng thông qua các phương tiện truyền thông đặc biệt như điện thoại, thư điện tử,
fax sẽ làm giảm được phần nào các chi phí giao dịch trực tiếp, nhất là đối với các
doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá khi mà khoảng cách địa lý là rất lớn. Thông qua
mạng Internet, các doanh nghiệp xuất khẩu và nhập khẩu có thể tiếp cận với nhau
dễ dàng và thuận tiện hơn, mở rộng cơ hội hợp tác giữa các doanh nghiệp. Ngoài
ra, khoa học công nghệ còn tác động tới các lĩnh vực như vận tải hàng hoá, giao

11
thông, ngân hàng, tài chính, hải quan...làm cho các khâu trong quá trình giao nhận
hàng hoá được thuận tiện và tăng độ an toàn.
3.4. Các nhân tố thị trường
Thị trường - một nhân tố không thể không có trong hoạt động kinh doanh.
Việc nắm bắt được thị trường và tăng sức cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ là một
việc hết sức khó khăn đối với xuất khẩu. Thị trường, nơi quan hệ cung cầu được
thực hiện thông qua giá cả, tạo động lực thúc đẩy cho sản xuất, phân phối và sử
dụng có hiệu quả nguồn lực của doanh nghiệp. Hơn nữa khi nắm bắt được các
điều có liên quan đến mặt hàng kinh doanh của mình trên thị trường nước ngoài
đó như: dung lượng thị trường, tập quán, thị hiếu tiêu dùng, các kênh tiêu thụ và
sự biến động giá cả sẽ giúp cho các đơn vị sản xuất và kinh doanh hàng xuất khẩu
có được những phương án kinh doanh kịp thời đáp ứng với xu thế phát triển của
nền kinh tế quốc tế. Thị trường cũng là nơi có sự cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp. Yếu tố cạnh tranh này có tác động mạnh mẽ đến phương hướng, chiến
lược sản xuất của mỗi doanh nghiệp. Dựa trên vị thế tương quan giữa mình và đối

qui mô và khuynh hướng sản xuất bên trong thị trường nhập khẩu; lượng hàng xuất
khẩu từ thị trường đó; các yếu tố sẽ làm thay đổi tỷ lệ nhập cảng trong tiêu thụ và
đặc biệt tỷ lệ mà sản phẩm của mình có thể chiếm lĩnh được; số lượng tiêu thụ sản
phẩm mỗi năm...[4].
3.5. Các nhân tố liên quan đến marketing xuất khẩu của doanh nghiệp
Thâm nhập vào thị trường nước ngoài là một thử thách lớn đối với mỗi
doanh nghiệp xuất khẩu. Bên cạnh sự hỗ trợ từ phía Nhà nước, mỗi doanh nghiệp
cần chủ động xây dựng các chiến lược marketing xuất khẩu cho riêng mình.
Muốn thành công trên thị trường quốc tế, mỗi doanh nghiệp cần phải sử dụng một
cách hài hòa và sáng tạo các chiến lược về sản phẩm, giá cả, phân phối và xúc tiến
thương mại.

13
Chiến lược về sản phẩm sẽ giúp doanh nghiệp cung cấp những sản phẩm với
chất lượng cao, phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của thị trường. Dựa trên kết quả
việc phân tích thị trường nhập khẩu một cách kỹ lưỡng và có hệ thống, các doanh
nghiệp sẽ nắm được thị hiếu của người tiêu dùng đối với từng loại sản phẩm và sẽ
phát triển sản phẩm theo hướng đáp ứng tối đa những nhu cầu này. Mỗi doanh
nghiệp có thể áp dụng nhiều giải pháp liên quan đến sản phẩm như: thích nghi sản
phẩm, đa dạng hóa sản phẩm, phát triển sản phẩm mới, phát huy và cải tiến sản
phẩm truyền thống, chuyên môn hóa sản phẩm, đổi mới cơ cấu mặt hàng xuất
khẩu...[6]. Tùy từng thị trường nhập khẩu khác nhau mà doanh nghiệp nên chọn
những giải pháp phù hợp cho sản phẩm của mình. Tuy nhiên, khi áp dụng bất kỳ
giải pháp nào doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ cũng nên nghiên cứu
kỹ các vấn đề như màu sắc, kích cỡ, chất liệu, thiết kế và mẫu mã của từng loại sản
phẩm, đặc biệt là yếu tố chất lượng sản phẩm luôn được đặt lên hàng đầu. Một sản
phẩm tốt sẽ là công cụ hữu hiệu tạo sức cạnh tranh cho doanh nghiệp đó trên thị
trường.
Chiến lược về giá cả sẽ giúp cho doanh nghiệp xác định được mức giá cả
phù hợp, cạnh tranh được với các sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh trên

lựa chọn các nhà phân phối. Để tìm ra người đại lý tốt nhất, các doanh nghiệp xuất
khẩu cần giải đáp được một số vấn đề sau: (1) Đã xác định được có hay không
một kênh phân phối bình thường, qua đó phần lớn các sản phẩm mẫu được nghiên
cứu phải đi qua; (2) Có phải kênh đó đã được bão hòa bởi các sản phẩm tương tự
như các sản phẩm mà doanh nghiệp mình đã làm ra hoặc bị phong tỏa bởi các
hiệp ước độc quyền với các nhà cung cấp hiện tại. Nếu xảy ra trường hợp như thế,
doanh nghiệp sẽ không cần phân phối sản phẩm thông qua các nhà buôn mà bán
trực tiếp cho những nhà bán lẻ; (3) Có phải một số yếu tố của mạng lưới phân phối
đã chiếm được hay mất chỗ đứng? Các nhà bán buôn, chẳng hạn, có phải đang bị

15
loại bởi các nhà bán lẻ lớn đã mua hàng trực tiếp; (4) Có hay không những cơ quan
mua những số lượng đặc biệt cao đối với thị trường?; (5) Đâu là diện tích địa lý
trong đó phân phối của mỗi một nhà bán buôn chiếm lĩnh được? Họ có đảm bảo
việc phân phối sản phẩm trong cả nước hay đơn giản hơn trong một vùng?...[21].
Chiến lược xúc tiến thương mại là một nhân tố không thể thiếu trong chiến
lược marketing xuất khẩu của mỗi doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ. Một sản phẩm thủ công mỹ nghệ xuất hiện trên thị trường nhưng không hề
có tên tuổi, không được quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng,
không được hỗ trợ bởi các hình thức xúc tiến sẽ có nguy cơ không thể tiêu thụ
được trên thị trường đó, hay chỉ có thể thực hiện được điều này bằng cách hạ giá
hàng của mình và do đó sẽ làm giảm mức sinh lời của doanh nghiệp. Vì vậy, các
doanh nghiệp cần đề ra các biện pháp xúc tiến thương mại hiệu quả như quảng bá
thương hiệu sản phẩm thông qua website, các phương tiện thông tin đại chúng,
hội trợ triển lãm, trưng bày sản phẩm...
ii. Tổng quan về xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam
1. Hình thức xuất khẩu
Xuất khẩu tại chỗ: Đây là hình thức xuất khẩu đơn giản và có hiệu quả cao
đối với hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam. Sản phẩm thủ công mỹ nghệ theo
như đặc điểm vốn có của nó thì nó là sản phẩm truyền thống, mang tính dân tộc và

theo hình thức này, họ bán cho các doanh nghiệp lớn ở trong nước hay nói khác đi
là các doanh nghiệp lớn đi thu mua sản phẩm của các cơ sở sản xuất nhỏ để xuất
khẩu sang các nước khác chẳng hạn như công ty xuất khẩu tạp phẩm Hà nội -
Tocontap. Các doanh nghiệp thực hiện theo hình thức xuất khẩu gián tiếp thì chịu
ít rủi ro hơn nhưng lợi nhuận cũng bị giảm do chi phí nhiều cho các khâu trung gian.
2. Kim ngạch xuất khẩu

17
Thời kỳ hoàng kim của hàng thủ công mỹ nghệ là giai đoạn 1975 đến 1986.
Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong tổng kim ngạch xuất
khẩu của Việt Nam đạt bình quân 40%, cao điểm đạt 53,4% (năm 1979).
Giai đoạn trước 1990, thị trường chủ yếu là khối các nước Đông Âu, Liên
Xô theo những thỏa thuận song phương. Sau 1990, thị trường này suy giảm bởi
những biến động chính trị (năm 2000 chỉ đạt 40 triệu USD). Từ sau năm 2000,
tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã có những thay đổi
tích cực, kim ngạch xuất khẩu liên tục gia tăng. Năm 2001 kim ngạch xuất khẩu là
235 triệu USD nhưng đến năm 2006 đã đạt 630,4 triệu USD ( xem biểu đồ 1.1).
Tốc độ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn này là 18,56%.
Biểu đồ 1.1. Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam
giai đoạn 2001-2006
235
331
367
450
560
630.4
0
100
200
300

2004 đạt 171,3 triệu USD, năm 2005 đạt 214,2 triệu USD, năm 2006 đạt 241,7
triệu USD. Giai đoạn 2000 - 2006 kim ngạch xuất khẩu hàng gốm sứ mỹ nghệ
tăng trưởng với tốc độ bình quân 17,63%. Đặc biệt tăng trưởng rất mạnh trong
năm 2002, kim ngạch tăng 44% so với năm 2001. Có được kết quả này là do các
doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam đã đạt bước đột phá trong khâu
cải tiến mẫu mã sản phẩm cho nên lượng tiêu thụ mặt hàng này tăng mạnh. Trong
5 tháng đầu năm 2007, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng gỗm sứ mỹ nghệ và gia
dụng của Việt Nam đạt 125,5 triệu USD, tăng 20,4% so với cùng kỳ năm 2006.
Nhóm hàng mây, tre đan: Đây là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đứng
thứ 2 trong số các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam. Những năm đầu của
thập kỷ 90, do thị trường Liên Xô cũ và Đông Âu bị thu hẹp đối với xuất khẩu của

19
ta nên sản xuất và xuất khẩu các loại hàng này bị đình trệ, giảm sút đáng kể.
Trong vài năm gần đây có khôi phục lại một phần. Kim ngạch xuất khẩu năm
2001 đạt 68,5 triệu USD, năm 2002 đạt 85,3 triệu USD, năm 2003 đạt 108 triệu
USD, năm 2004 đạt 134,9 triệu USD, năm 2005 đạt 169,4 triệu USD, năm 2006
đạt 191,5 triệu USD. Trong giai đoạn này, kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng với
tốc độ bình quân là 19,11%. Năm 2006 tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu
mặt hàng này chỉ đạt 13%, thấp hơn so với các năm trước. Nguyên nhân là do
hàng mây tre, đan phải cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của các đối thủ
cạnh tranh. Riêng đối với mặt hàng tre đan, trong 7 tháng đầu năm 2007, kim
ngạch xuất khẩu đạt 120,7 triệu USD, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm 2006. Các
mặt hàng xuất khẩu truyền thống bằng tre đan của Việt Nam là khay, bàn ghế,
bình, mành, giỏ, bát đĩa, rổ rá, sọt...
Nhóm hàng thêu ren thổ cẩm: Các mặt hàng thêu ren như khăn thêu trải
bàn, ga trải giường, áo gối thêu, áo thêu...trước đây Việt Nam cũng xuất khẩu với
khối lượng lớn vào thị trường Liên Xô (cũ) và Đông Âu. Sau năm 1990, xuất
khẩu các mặt hàng này giảm nhiều. Trong những năm gần đây, kim ngạch xuất
khẩu mặt hàng này đã có gia tăng tuy nhiên không ổn định, tăng giảm thất thường.

Nam xuất khẩu với khối lượng tương đối lớn (mỗi năm sản xuất và xuất khẩu
khoảng 3 triệu m
2
thảm đay, gần 2,5 triệu m
2
thảm cói, gần nửa triệu m
2
thảm
len...), sau năm 1990 ta gần như mất hẳn thị trường xuất khẩu mặt hàng này, số
lượng hàng năm giảm mạnh gây rất nhiều khó khăn cho sản xuất và lao động. Vài
năm gần đây tình hình có thay đổi: Thái Bình đã có thị trường xuất khẩu mặt hàng
đệm ghế cói (gần 500 ngàn chiếc với giá 0,7 USD/ chiếc), dự kiến sẽ tăng lên 1
triệu chiếc, ngoài ra còn xuất được loại thảm cói đay (1,5 USD/m
2
); Nam Định
cũng xuất khẩu mỗi năm khoảng 1 triệu sản phẩm đay, 300 ngàn sản phẩm cói;
Hải Phòng, Nam Định, Hà Tây...vẫn xuất khẩu thảm len: mỗi nơi khoảng

21
15-25.000 m
2
/năm. Kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm thảm tăng không ổn định
trong những năm gần đây. Cụ thể là năm 2001 đạt 6,4 USD, năm 2002 tăng lên
10,1 triệu USD, năm 2003 giảm xuống chỉ còn 7,4 triệu USD. Sự không ổn định
này là do các doanh nghiệp Việt Nam không đảm bảo được nguồn cung hàng ổn
định. Tuy nhiên từ năm 2004, do được sự quan tâm và hỗ trợ từ phía Nhà nước
đồng thời các doanh nghiệp cũng đẩy mạnh sản xuất đồng thời tăng cường liên kết
với các doanh nghiệp trong ngành nên kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này tăng
trưởng đều. Năm 2004 kim ngạch xuất khẩu đạt 11,7 triệu USD, năm 2005 đạt
15,1 triệu và năm 2006 đạt 16,4 triệu USD. Trong tương lai, Việt Nam cần đẩy

Nam vẫn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong kim ngạch nhập khẩu của quốc gia này.
Năm 2005 hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam chỉ chiếm 1,7% kim ngạch nhập
khẩu của nước này. Theo thống kê của Hải quan Việt Nam, năm 2006, Việt Nam
xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản 70,14 triệu USD hàng thủ công mỹ nghệ,
chiếm tỷ trọng 1,34% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào Nhật, trong đó 30,8
triệu USD hàng gốm sứ. Dự kiến đến năm 2010, tỷ lệ hàng thủ công mỹ nghệ của
Việt Nam sẽ đạt trên 4% (tương đương với kim ngạch khoảng 150 triệu USD)
tổng kim ngạch nhập khẩu của thị trường này.
Thị trường Bắc Mỹ: Thị trường này gồm có hai nước là Mỹ và Canada
nhưng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam vào 2 nước
này lại có sự chênh lệch khá rõ rệt. Mỹ nhập khẩu với khối lượng tương đối nhiều
nhưng Canada thì kim ngạch nhập khẩu vẫn còn nhỏ bé. Kim ngạch xuất khẩu
hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam vào thị trường Mỹ tăng nhanh, từ năm 2001
đến năm 2005 đã đạt được 43,609 triệu USD, trong khi đó kim ngạch xuất khẩu
mặt hàng này vào thị trường Canada chỉ đạt được có 6,415 triệu USD. Trung bình,
thị trường Mỹ nhập khẩu nhiều hơn gấp 6 lần thị trường Canada. Năm 2006, kim
ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam sang Mỹ đạt 76,4 triệu

23
USD tăng 27,6% so với năm 2005 và tăng gấp 7 lần so với năm 2002 (Theo thống
kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam). Tuy trước mắt hàng thủ công mỹ nghệ của
Việt Nam xuất khẩu vào thị trường này chưa lớn, mới đạt khoảng 50,024 triệu
USD vào năm 2005 nhưng triển vọng trong tương lai sẽ rất tốt vì nhu cầu hàng
thủ công mỹ nghệ là rất lớn và ngày càng gia tăng, bên cạnh đó chính sách, môi
trường luật pháp thuận lợi cho xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam.
Ngoài các thị trường chính trên, Việt Nam còn đẩy mạnh xuất khẩu các mặt
hàng thủ công mỹ nghệ sang các thị trường Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc,
Trung Đông và các một só thị trường khác. Tuy nhiên sức cạnh tranh của hàng
Việt Nam trên những thị trường này chưa cao, do vậy ta chưa xuất khẩu được vào
các thị trường này với dung lượng lớn.

yếu tố cơ bản của sản xuất: hàng hoá, sức lao động, dịch vụ và vốn.
- Lưu thông tự do hàng hoá: Để hàng hoá được tự do lưu thông trong thị
trường chung, các nước thành viên EU đều nhất trí áp dụng những biện pháp sau
đây: (1) Xoá bỏ hoàn toàn mọi loại thuế quan đánh vào hàng hoá xuất nhập khẩu
giữa các nước thành viên; (2) Xoá bỏ hạn ngạch (quota) áp dụng trong thương mại
nội khối; (3) Xoá bỏ tất cả các biện pháp tương tự hạn chế về số lượng (các biện
pháp hạn chế dưới hình thức là các qui chế và qui định về cấu thành sản phẩm,
đóng gói, tiêu chuẩn công nghiệp và an toàn kỹ thuật); (4) Xoá bỏ tất cả các rào
cản về thuế giữa các nước thành viên.
- Tự do đi lại và cư trú trên toàn lãnh thổ Liên Minh: Để đảm bảo việc tự
do đi lại và cư trú của công dân trong lãnh thổ EU, các nước thành viên đều nhất
trí đảm bảo các quyền sau cho công dân của họ: (1) Tự do đi lại về mặt địa lý; (2)
Tự do di chuyển vì nghề nghiệp; (3) Nhất thể hoá về xã hội; và (4) Tự do cư trú.
- Lưu chuyển tự do dịch vụ: Việc lưu chuyển tự do của dịch vụ có thể được
thực hiện theo những cách sau: (1) Tự do cung cấp dịch vụ; (2) Tự do hưởng các
dịch vụ; (3) Tự do chuyển tiền bằng điện tín; và (4) Công nhận lẫn nhau các văn bằng.

25

Trích đoạn Quan hệ thương mại của Việt Nam EU ngày càng được củng cố, tăng cường Nguồn nguyên liệu đầu vào chưa ổn định Các doanh nghiệp thiếu vốn đầu tư Qui mô sản xuất nhỏ, không đáp ứng được đơn hàng lớn Nguồn nhân lực trình độ còn thấp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status