NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ - Pdf 70

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT
KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ
2.1. Sản phẩm thủ công mỹ nghệ và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ.
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản.
Trong quá trình phát triển của lịch sử cũng như hiện nay đề cho thấy làng
xã Việt Nam có vị trí hết sức quan trọng trong sản xuất cũng như đời sống nhân
dân ở nông thôn. Qua thử thách của những biến động thăng trầm, những lệ làng
phép nước và phong tục tập quán ở nông thôn vẫn được duy trì đến ngày nay.
Làng xã Việt Nam phát triển từ rất lâu đời, nó thường gắn liền với nông
nghiệp và sản xuất nông thôn. Theo kết quả nghiên cứu sử học, làng xã Việt
Nam xuất hiện từ thời các vua Hùng dựng nước, những xóm làn định canh đã
hình thành, dựa trên cơ sở những công xã nông thôn. Mỗi công xã gốm một số
gia đình sống quây quần trong một khu vực địa giới nhất định. Đồng thời là nơi
gắn bó các thành viên với nhau bằng khế ước sinh hoạt cộng đồng, tâm thức tín
ngưỡng,lễ hội, tập tục, luật lệ riêng nhằm liên kết với nhau trong quá trình sản
xuất và đời sống.
Từ buổi ban đầu, ngay trong một làng, phần lớn người dân đều làm nông
nghiệp, càng về sau có những bộ phận dân cư sống bằng nghề khác, họ liên kết
chặt chẽ với nhau, khiến cho nông thôn Việt Nam có thêm một số tổ chức theo
nghề nghiệp, tạo thành các phường hội: phường gốm, phường đúc đồng,
phường dệt vải…từ đó, các nghề được lan truyền và phát triển thành làng nghề.
Bên cạnh những người chuyên làm nghề thì đa phần vừa sản xuất nông nghiệp,
vừa làm nghề phụ. Nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hoá, các nghề mang tính
chuyên môn sâu hơn và thường chỉ giới hạn trong quy mô nhỏ dần dần tách
khỏi nông nghiệp để chuyển hẳn sang nghề thủ công. Những làng nghề phát
triển mạnh, số hộ, số lao động làm nghề truyền thống tăng nhanh và sống bằng
nghề đó ngày càng nhiều.
Như vậy, làng xã Việt Nam là nơi sản sinh ra nghề thủ công truyền thống
và các sản phẩm mang dấu ấn tinh hoa của nền văn hoá, văn minh dân tộc. Quá
trình phát triển của làng nghề là quá trình phát triển của tiểu thủ công nghiệp ở
nông thôn. Lúc đầu sự phát triển đó từ một vài gia đình rồi đến cả họ và lan ra

hiện từ lâu trong lịch sử phát triển kinh tế của nước ta còn tồn tại cho đến ngày
nay, bao gôm cả ngành nghề mà phương pháp sản xuất được cải tiến hoặc sử
dụng những máy móc hiện đại để hỗ trợ cho sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công
nghệ truyền thống.
Như vậy từ các định nghĩa trên ta có thể hiểu cụ thể về hàng thủ công mỹ nghệ
như sau: sản phẩm thủ công mỹ nghệ là những sản phẩm mang tính truyền
thống và độc đáo của từng vùng, có giá trị chất lượng cao, vừa là hàng hoá, vừa
là sản phẩm văn hoá, nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí có thể trở thành di sản văn
hoá của dân tộc, mang bản sắc văn hoá của vùng lãnh thổ hay quốc gia sản xuất
ra chúng.
Hàng thủ công mỹ nghệ bao gồm các nhóm hàng sau:
- Nhóm sản phẩm từ gỗ( gỗ mỹ nghệ)
- Nhóm hàng mây tre đan
- Nhóm sản phẩm gốm sứ mỹ nghệ
- Nhóm hàng thêu
2.1.2 Đặc điểm của hàng thủ công mỹ nghệ
2.1.2.1.Tính văn hoá
Khác với sản xuất công nghiệp, trong sản xuất tiểu thủ công, lao động
chủ yếu dựa vào đôi bàn tay khéo léo và đầu óc sáng tạo của người thợ, người
nghệ nhân. Sản phẩm làm ra bừa có giá trị sử dụng nhưng lại vừa mang dấu ấn
bàn tay tài hoa của người thợ và phong vị độc đáo của một miền quê nào đó.
Cũng chính vì vậy mà hàm lượng văn hoá ở các sản phẩm thủ công mỹ nghệ
được đánh giá cao hơn nhiều so với hang công nghiệp sản xuất hàng loạt. Ngay
từ khi phát hiện ra các sản phẩm trống đồng Đông Sơn, trống đồng Ngọc Lũ, thế
giới đã biết đến một nền văn hoá Việt Nam qua những sản phẩm phản ánh sinh
động và sâu sắc nền văn hoá, tư tưởng và xã hội thời đại Hùng Vương. Cho đến
nay, những sản phẩm thủ công mỹ nghệ mang đậm tính văn hoá như gốm Bát
Tràng, hay bộ chén đĩa, tố sứ cao cấp có hình hoa văn Châu á, mang đâm nét
văn hoá Việt Nam như chim lạc, thần kim quy, hoa sen…đã được xuất khẩu
rộng rãi ra khắp thế giới, người ta đã có thể tìm hiểu phần nào văn hoá của Việt

mỹ nghệ Việt Nam mang hồn của dân tộc Việt Nam , mang nét văn hoá và bản
sắc của dân tộc Việt Nam , chính vì vậy hàng của Trung Quốc hay Nhật bản
cho dù có phong phú hay đa dạng đến đâu cũng không thể có được những nét
đặc trưng đó,cho dù kiểu dáng có thể giống nhưng không thể mang “hồn” của
dân tộc Việt Nam . Cùng với đặc trưng về văn hoá, tính riêng biệt đã mang lại
ưu thế tuyệt đối cho hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam trong xuất khẩu . Đối
với Việt Nam và cả khách hàng nước ngoài, nó không những có giá trị sử dụng
mà còn thúc đẩy quá trình giao lưu văn hoá giữa các dân tộc.
2.1.2.4. Tính đa dạng
Tính đa dạng của sản phẩm thủ công mỹ nghệ thể hiện ở phương thức,
nguyên liệu làm nên sản phẩm đó và chính nét văn hoá trong sản phẩm. Nguyên
liệu làm nên sản phẩm có thể là gạch, đất, cói , dây chuối, xơ dừa…mỗi loại sẽ
tạo nên một sản phẩm thủ công mỹ nghệ với những sắc thái khác nhau, cho
người sử dụng có những cảm nhận khác nhau về sản phẩm. Là một đôi dép đi
trong nhà, nhưng dép làm bằng cói đã quá cũ đối với người tiêu dùng nên hiện
nay, các nghệ nhân sử dụng chất liệu dây chuối, tạo cảm giác rất mới lạ, vừa có
màu vàng ngà của chuối vừa có mầu mốc tự nhiên của thân chuối…Bên cạnh
đó, tính đa dạng còn được thể hiện qua những nét văn hoá trên sản phẩm thủ
công mỹ nghệ bởi vì mỗi sản phẩm thủ công mỹ nghệ đêù mang những nét văn
hoá đặc trưng của từng vùng, từng thời đại sản xuất ra chúng. Chính vì vậy trên
thị trường có rất nhiều loại sản phẩm thủ công mỹ nghệ, mỗi loại đều có sự khác
biệt rõ rệt, không đồng nhất. Cũng là đồ gốm sứ nhưng người ta vẫn có thể thấy
đâu là gốm Việt Nam , gốm Nhật Bản , gốm Trung quốc…
2.2.2.4. Tính thủ công
Có thể cảm nhận ngay tính thủ công qua tên gọi của sản phẩm thủ công
mỹ nghệ. Tính chất thủ công thể hiện ở công nghệ sản xuất, các sản phẩm đều là
sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinh xảo và sáng tạo nghệ thuật. Chính
đặc tính này tạo nên sự khác biệt giữa sản phẩm thủ công mỹ nghệ và những sản
phẩm công nghiệp hiện đại được sản xuất hàng loạt và ngày nay,cho dù không
sánh kịp tính ích dụng của các sản phẩm này nhưng sản phẩm thủ công mỹ nghệ

quốc tế => Khách hàng. Đây là kênh tổ chức xuất khẩu phổ biến hiện tại đối
với các đơi vị sản xuất hàng TCMN. Mô hình này sẽ xuất hiện 2 khâu trung
gian trong nước và quốc tể đảm nhận 2 khâu gom hàng trong nước về một
mối và tìm kiếm phân phối ở đầu bên kia. 2 Nhà trung gian nàu sẽ đóng vai
trò 2 “thương lái” ở 2 khu vực địa lý, một bên am hiểu nội địa và thạo các
nghiệp vụ xuất khẩu, tạo tìm kiếm đối tác, một bên am hiểu khách hàng, địa
bàn và có hệ thống bán lẻ sẵn có. Kênh 1 này làm cho nhà sản suất thủ công
mỹ nghệ chỉ chuyên vào khâu sản suất và giao phó toàn bộ các vấn đề còn
lại cho chuỗi hệ thống. Nó cũng là gia tăng hàng loạt chi phí lưu thông làm
giảm lợi nhuậ của nhà sản xuất và tăng tính phụ thuộc, bị động chiến lược
- Kênh 2: Nhà sản xuất => Trung gian quốc tế => Nhà phân phối quốc tế =>
Khách hàng. Kênh này tương tự kênh 1, tuy nhiêm điểm khác biệt duy nhất
là đầu mối tiếp xúc với nhà sản xuất không phải là tổ chức trung gian trong
nước, nó được thay bằng một đối tác ngoại đã am hiểm thị trường Việt Nam
hoặc đang tìm kiếm các mặt hàng kinh doanh. Họ sẽ đóng vai trò xúc tác
thúc đẩy các đơn vị sản xuất thủ công mỹ nghệ phát triển và cũng bao tiêu
luôn mảng thị trường “bên kia”. Trong nhiều trường hợp kênh 2 có thể được
coi như một hình thức quá độ để đơn vị sản xuất làm quen với các hoạt động
xuất khẩu vốn còn khá lạ lẫm với họ.
- Kênh 3: Đơn vị sản xuất => Văn phòng giới thiệu sản phẩm của đơn vị sản
xuất => Chuỗi bán lẻ quốc tế => Khách hàng hoặc Đơn vị sản xuất => Văn
phòng giới thiệu sản phẩm của đơn vị sản xuất => Khách hàng. Đây là hình
thức kênh tương đối khó tổ chức với đơn vị sản xuất trong giai đoạn hiện tại
do yếu kém về nhân sự, quy mô vốn, am hiệu thị trường. Theo kênh này, đơn
vị sản xuất sẽ chú trong xây dựng chuỗi nhận diện của mình, chuỗi này sẽ
đảm trách việc đưa hàng ra bên ngoài. Hình thức đưa hàng có thể là thông
qua hệ thống bán lẻ quốc tế hoặc cũng có thể là các điểm bán trực tiếp của
họ tại các nước. Mô hình này là mục tiêu cần hướng tới của đơn vị xuất
khẩu, nếu thành công nó sẽ giúp đơn vị gia tăng lợi nhuận, tiết giảm chi phí,
xây dựng được vị thế hình ảnh, tăng cường năng lực cạnh tranh và hoàn toàn

làng nghề truyền thống dẫ có vai trò tích cực trong việc góp phần tăng tỉ trọng
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng của nông nghiệp,
chuyển từ lao động sản xuất nông nghiệp thu nhập thấp sang ngành nghề nông
nghiệp có thu nhập cao hơn. Ngay từ đầu khi nghề thủ công xuất hiện thì kinh
tế nông thôn không chỉ có ngành nông nghiệp thuần nhất mà bên cạnh còn có
các ngành thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ cùng tồn tại phát triển.
Mặt khác có thể thấy kết quả sản xuất ở các làng nghề cho thu nhập va
giá trị sản lượng cao hơn hẳn so với sản xuất nông nghiệp. Do từng bước tiếp
cận với nền kinh tế thị trường, năng lực thị trường được nâng lên người lao
động nhanh chóng chuyển sang đầu tư cho các ngành nghề phi nông nghiệp, dặc
biệt là những sản phẩm có khả năng tiêu thụ mạnh ở thị trường trong nước và
ngoài nước. Khi đó khu vực sản xuất nông nghiệp sẽ bị thu hẹp , khu vực sản
xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp được tăng lên.
Làng nghề truyền thống phát triển đã tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ ở
nông thôn mở rộng địa bàn hoạt động thu hút nhiều lao động. Khác với sản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status