Sáng kiến kinh nghiệm
Trường THPT Thạch Thành 3
MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ VIỆC DẠY HỌC THƠ CHỮ HÁN
ĐƯỜNG LUẬT TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT
A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Hiện nay việc dạy thơ trong nhà trường THPT nói chung và dạy thơ chữ Hán
nói riêng gặp rất nhiều những khó khăn. Tìm hiểu thơ nói chung và thơ chữ Hán
nói riêng phải hiểu ngôn từ và hình tượng trong bài thơ. Trong thơ chữ Hán,
muốn hiểu ngôn từ đòi hỏi người đọc phải hiểu rõ từ ngữ, hình ảnh, điển cố, yếu
tố liên văn bản. Các em phải liên tưởng, tưởng tượng, bổ sung, cụ thể hoá các
chi tiết, phát hiện các mối liên hệ ngầm giữa các hình tượng và đồng thời còn
cảm nhận cái hay qua nghệ thuật văn bản. Mặt khác, thơ chữ Hán thường thể
hiện những tình cảm có tính tiêu biểu, tượng trưng hơn là cái cá thể cá biệt. Nhà
thơ thường không nói hết không nói trực tiếp ý mình mà để cho người đọc tự
suy nghĩ, cảm thụ. Ngôn ngữ thơ chữ Hán lại tinh luyện hàm súc mà lại có dư
ba, lời ít ý nhiều, ý tại ngôn ngoại hết sức sâu sắc mà ngay bản thân chúng ta đôi
khi còn khó hiểu. Từ thực trạng đó tôi xin trình bày một số suy nghĩ về việc dạy
học thơ chữ Hán Đường luật trong chương trình Ngữ văn THPT với mong
muốn tìm tòi khám phá ra một số hướng đi thích hợp cho việc giảng dạy các tác
phẩm thơ chữ Hán sao cho có hiệu quả.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Thơ chữ Hán Đường luật vốn ra đời trong môi trường văn hóa xã hội
phong kiến. Một xã hội tồn tại và duy trì được là bởi dựa vào những lề lối phép
tắc quy củ, đạo đức và nguyên tắc ứng xử của triết học Nho giáo vì vậy văn học
nghệ thuật cũng không thể tồn tại ngoài những quy tắc này. Sự ảnh hưởng của
những phép tắc quy củ ấy không chỉ ở mặt hình thức ( như những quy định về
luật thơ) mà còn ảnh hưởng đến cả mặt nội dung của thơ. Đó là tư duy nghệ
thuật, là tư tưởng thẩm mĩ hay những quan điểm thẩm mĩ và những nguyên tắc
- Giáo viên không giỏi chữ Hán và học sinh không được học Hán ngữ nên
trong quá trình tiếp cận văn bản gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc hiểu sâu
phần phiên âm của nguyên bản.
- Về phía giáo viên khi giảng dạy thường không bám vào nguyên tác bài thơ mà
bám vào phần dịch nghĩa để dạy cho học sinh dễ hiểu.
- Trong quá trình dạy quá chú trọng khâu phân tích phải theo kết cấu của thơ
Đường với Thất ngôn tứ tuyệt là: Khai – Thừa – Chuyển – Hợp, với Thất ngôn
bát cú là: Đề – Thực – Luận – Kết….
- Chủ yếu phân tích ý (vì là bản dịch) chứ không chú ý phân tích từ ngữ trong
câu.
- Bản thân giáo viên đôi khi cũng tự biến mình thành những người nói lại những
điều mà sách giáo khoa, sách giáo viên và tài liệu đã nói chứ chưa dám dũng
cảm từ bỏ một lối mòn để tìm những hướng khám phá cảm thụ mới.
2. Về phía học sinh
Một trong những hiện trạng chung là học sinh bây giờ ngại học môn Văn bởi
thường thì đây không phải là môn các em chọn thi đại học. Mặt khác xu hướng
của giới trẻ bây giờ có lối học thực dụng hơn chứ không có thời gian để dành
cho việc tìm hiểu hay ngâm ngợi một áng văn chương hay nữa. Chính vì vậy
việc dạy văn trong nhà trường gặp không ít khó khăn, nhất là đối với các bài thơ
chữ Hán lại là những bài thơ khó học. Trong thơ chữ Hán Đường luật có rất
nhiều các điển tích, điển cố khó hiểu khó nhớ, ngôn ngữ thơ lại hàm súc, ý tứ
sâu xa nên lứa tuổi của các em cũng chưa thể lĩnh ngộ được hết cái hay cái đẹp
của nó. Do vậy đại đa phần các em không có sự nhiệt hứng khi tiếp cận đối với
những bài thơ này. Đây là một thực trạng đáng buồn của bao thầy cô tâm huyết.
Tôi nghĩ rằng chính sự trì trệ trên lại khiến chúng ta càng quyết tâm đổi mới
mày mò để tìm lại tình yêu môn văn của các em. Hơn thế tôi cho rằng đây một
di sản văn hoá quý báu của dân tộc và nhân loại mà thế hệ chúng ta cần phải gìn
giữ, truyền tụng đến mai sau. Vì vậy tôi mạnh dạn xin đưa ra "Một số suy nghĩ
về việc dạy học thơ chữ Hán Đường luật trong chương trình Ngữ Văn THPT"
III. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
西 西 西 西 西 西 西西
Sách giáo khoa dịch nghĩa là: Vườn hoa bên Tây Hồ đã thành bãi hoang rồi.
Với cách dịch này người dịch nghĩa đã bỏ đi mất từ 西? ( tẫn) có nghĩa là hết.
Như vậy đúng ra phải dịch là: Vườn hoa bên Tây Hồ nay đã chuyển hết thành
bãi hoang rồi.
Câu thơ phá đề đã gợi lên một nỗi niềm xót xa trước sự biến đổi của tạo
hóa gợi cho người đọc nhớ đến câu nói của người xưa: “ Sự đời thường vẫn có
chuyện bãi bể nương dâu”. Vẻ đẹp của Tây Hồ xưa kia ( nơi Tiểu Thanh đã từng
ở ) giờ đã thành bãi hoang, và những con người tài hoa một thời giờ cũng chỉ
còn là cát bụi.
Đến câu thứ hai trong nguyên tác là:
西 西 西 西 西 西 西西
Sách giáo khoa dịch là: Chỉ viếng nàng qua một tập sách đọc trước cửa sổ.
Nếu dịch như vậy cả giáo viên và học sinh đều có thể hiểu chữ “ độc” ở đây với
chữ “độc” trong nhan đề là hoàn toàn giống nhau. Nhưng thực ra trong nguyên
tác thì không phải vậy. Hai từ “độc” này chỉ đồng âm nhưng khác nghĩa.
Từ “ độc” ở nhan đề là: 西 có nghĩa là “ đọc” còn từ “ độc” ở câu thứ hai là : 西
có nghĩa là : đơn độc( cô độc). Như vậy đáng lẽ ra câu thơ nên dịch là:
Một mình ta ( đơn độc) viếng nàng qua một tập sách đọc trước cửa sổ
Và câu thơ này nên hiểu là lúc sinh thời Nguyễn Du là một người đơn độc
không có kẻ tri âm chính vì thế mà ông cảm thông sâu sắc với những người cùng
cảnh ngộ như nàng Tiểu Thanh khi phải sống cô đơn trên núi Cô Sơn cạnh vườn
hoa bên Tây Hồ (thuộc tỉnh Chiết Giang – Trung Quốc). Mặt khác hiểu như vậy
thì mới thấy được sự xót xa trong niềm băn khoăn của tác giả khi viết hai câu
cuối:
“Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như.”
Sách giáo khoa dịch (dịch thơ): " Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không " dịch
chưa sát từ " cô vân " và " mạn mạn ": " cô " là cô đơn, lẻ loi nhưng bản dịch thơ
làm mất đi ý thơ ấy; từ " mạn mạn " là trôi lững lờ nhưng bản dịch thơ dịch "
trôi nhẹ " chưa thấy hết được trạng thái của đám mây. Câu thơ phần dịch thơ làm
mất đi ý thơ: thiên nhiên đã mang tâm trạng của con người; không thể hiện rõ
được bút pháp tả cảnh ngụ tình của nhà thơ. Câu 3 dịch thừa chữ " tối ".
Trên thực tế những tác phẩm thơ chữ Hán Đường luật được đưa vào
chương trình sách giáo khoa giảng dạy cho các em học sinh còn rất nhiều những
chỗ chưa có sự thống nhất giữa bản phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ. Bởi việc
tìm được tiếng nói chung giữa các văn bản này là một điều rất khó. Điều mà
chúng tôi quan tâm hơn cả là bản thân mỗi giáo viên chúng ta cần phải có một
sự tu dưỡng rèn luyện nhất định, cần trau dồi cho mình một vốn Hán ngữ nhất
định để tránh việc hiểu sai và dạy sai ý nghĩa của văn bản. Mặt khác hiểu được
chữ Hán cũng là cách chúng ta tiếp cận với văn bản của tác giả một cách gần gũi
nhất. Bởi thơ chữ Hán Đường luật thường cô đọng thâm thúy, ý nghĩa sâu sắc
và hàm xúc. Hiểu và cảm thụ được cái hay cái đẹp của nó không phải là vấn đề
đơn giản. Không những thế chúng ta còn phải hướng dẫn học sinh cảm thụ
những văn bản ấy. Vậy thì làm thế nào để hướng dẫn học sinh vượt qua đươc rào
cản về ngôn ngữ để giúp các em cảm thụ tốt được những văn bản này. Tôi xin
tham góp một vài cách làm như sau:
- Hướng dẫn các em đọc kỹ các phần phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ và phần chú
giải. Trong quá trình cảm thụ cần chú ý thêm đến những thông tin bên ngoài tác
phẩm hoặc giáo viên nên dành một khoảng thời gian nhất định để tái tạo lại bối
cảnh và không gian xã hội để làm cơ sở cho việc tiếp cận văn bản.
-- Hướng dẫn học sinh so sánh giữa bản phiên âm và bản dịch thơ.
4
Người thực hiện:Lê Đăng Chung.
Tổ Ngữ Văn
tập thơ chữ Hán. “Độc Tiểu Thanh kí” là
một trong những bài thơ chữ Hán nổi tiếng
của ông Nguyễn Du rất quan tâm tới số
phận bất hạnh của những người phụ nữ có tài
hoa nhan sắc.
- Phần tiểu dẫn trong sách giáo
khoa đã cung cấp cho chúng ta
những thông tin gì về nàng Tiểu
Thanh ?
2. M ấy vấn đề xung quanh vi ệc tìm hi
ểu bài thơ.
a. Về nhân vật Tiểu Thanh
+ Tiểu Thanh người Quảng Lăng, tỉnh
Giang Tô, Trung Quốc, nàng rất thông
minh và nhiều tài nghệ. Năm mươi sáu tuổi
làm vợ lẽ một người ở Hàng Châu, tỉnh
Chiết Giang nàng họ Phùng và lấy chồng
tên là Phùng. Vợ cả ghen bắt ở riêng biệt
trên một ngọn núi thuộc địa phận Hàng
Châu. Ngọn núi ấy là Cô Sơn. Tiểu Thanh
buồn khổ làm nhiều thơ, từ. Nàng lâm bệnh
5
Người thực hiện:Lê Đăng Chung.
Tổ Ngữ Văn
Sáng kiến kinh nghiệm
vậy bài thơ được sáng tác trước khi
Nguyễn Du lên đường đi sứ sang Trung
Quốc.
II . ĐỌC HIỂU:
1. Đọc và biện giải những từ khó.
Bài thơ có tên là Độc Tiểu Thanh kí, có thể
có những cách lí giải như sau :
- Đọc tập kí ( ghi chép, chứ không phải thơ)
của nàng Tiểu Thanh.
- Đọc tập kí ( ghi chép) về nàng Tiểu Thanh
( Có thể là Tiểu Thanh truyện)
- Đọc tập thơ của Tiểu Thanh( phần dư)
Cả ba cách hiểu này đều có những căn cứ
riêng. Chúng ta nên hiểu là : Đọc tập kí ghi
chép về nàng Tiểu Thanh. Dù hiểu theo
cách nào thì điều quan trọng nhất là
Nguyễn Du đọc về cuộc đời, đọc những
dòng tâm tư của Tiểu Thanh, về số phận tài
hoa bạc mệnh của nàng Tiểu Thanh cảm
thông với thân phận nàng tri âm cùng nàng
mà làm nên bài thơ. ( Đây là cảm hứng chủ
đạo của bài thơ)
- Độc : có nghĩa là một mình. Nghĩa cả câu
là : Một mình ta ( đơn độc) viếng nàng qua
một tập sách đọc trước cửa sổ
6
Người thực hiện:Lê Đăng Chung.
Tổ Ngữ Văn
người thể nghiệm ý vị của cuộc đời và lĩnh hội mọi quan hệ có ý nghĩa muôn
màu muôn vẻ của bản thân và thế giới xung quanh. Nhưng khác với các nhà
khoa học, nghệ sĩ không diễn đạt trực tiếp ý nghĩ và tình cảm bằng khái niệm
trừu tượng, bằng định lí công thức mà bằng hình tượng, nghĩa là bằng cách làm
sống lại một cách cụ thể và gợi nhưng sự việc những hiện tượng làm ta đáng suy
nghĩ về tính cách số phận, về tình đời , tình người. ” ( Trần Đình Sử). Thông qua
các hình tượng nghệ thuật bao giờ nhà văn cũng gửi gắm những tâm tư tình cảm
và sự trải nghiệm của bản thân. Vấn đề quan trọng là trong quá trình giảng dạy
giáo viên cần phải biết lựa chọn các hình tượng nghệ thuật một cách chính xác
và định hướng cho các em cảm nhận một cách sâu sắc các hình tượng này rồi từ
đó khái quát lên nội dung tư tưởng của văn bản.
Theo tôi cấu trúc bài dạy theo cách làm mới sẽ ngắn gọn đơn giản hơn, nội
dung của bài không rườm rà, giúp giáo viên có thể chủ động được việc cân đối
thời gian và khắc sâu cho học sinh những vấn đề có bản và thiết thực nhất. Mặt
khác Thơ là thế giới nghệ thuật tinh vi đa chiều. Đặc biệt thơ chữ Hán Đường
luật là một thứ nghệ thuật tinh diệu do đó việc cảm nhận khám phá cái hay cái
đẹp của nó cũng cần có phương pháp tự do sáng tạo chứ không nên gò bó vào
một khuôn khổ nhất định nào. Cái hay cái độc đáo và kỳ diệu của Thơ chữ Hán
Đường luật là trong cái khuôn khổ chặt hẹp của niêm luật người nghệ sĩ tài hoa
vẫn tìm ra được cách thể hiện sự tài hoa phóng túng và những nét độc đáo riêng
biệt của thế giới tâm hồn.
Ví dụ 1 : Khi dạy bài: " Xuất dương lưu biệt " của Phan Bội Châu chúng ta có
thể dạy theo : hình tượng chủ thể trữ tình - tác giả trong bài thơ. Qua đó tư
tưởng, hoài bão, tầm vóc của nhà thơ hiện lên rõ ràng.
Ví dụ 2: Khi dạy bài: " Mộ " của Hồ Chí Minh ta cũng có thể tìm hiểu theo hai
nhóm hình tượng:
+ Bức tranh thiên nhiên và bức tranh sinh hoạt lao động của con người.
+ Hình tượng chủ thể trữ tình của tác giả.
Có thể lần lượt tiến hành các bước như sau:
- Sau khi tìm hiểu xong lớp ngôn từ, giáo viên cho học sinh tìm hiểu xem
-? Tiểu Thanh là một người như a. Hình tượng Tiểu Thanh
- Tiểu Thanh là một người có nhan sắc, tài
thế nào?
năng và đạo đức nhưng lại có một số phận
? Em hãy tìm những minh chứng thật éo le tài hoa bạc mệnh.
để phân tích và chứng minh Tiểu - Thể hiện qua hai câu :
Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Thanh là một con người tài hoa
Văn chương vô mệnh lụy phần dư
bạc mệnh?
Chi phấn : Đồ trang sức của nữ giới chỉ
phụ nữ nói chung. Nó còn biểu tượng cho
sắc đẹp của nàng Tiểu Thanh.
Văn chương : Thể hiện tài năng của Tiểu
Thanh
=> Ca ngợi con người có nhan sắc và tài
năng toàn vẹn. Vậy mà son phấn ấy lại bị
vùi chôn, Văn chương thì bị đốt
=> Chôn đốt là những động từ cụ thể hóa sự
ghét, vùi dập phũ phàng của người vợ cả
với nàng Tiểu Thanh => cũng là thái độ của
xã hội phong kiến không chấp nhận những
con người tài sắc.
b. Hình tượng chủ thể trữ tình – tác giả.
- Chủ thể trữ tình của bài thơ xuất HS có thể trả lời khác nhau, nhưng giáo
viên cần định hướng cho HS là chủ thể trữ
hiện khi nào?
- Tác giả xuất hiện trong tâm thế tình tác giả đã xuất hiện ngay từ đầu bài
thơ :
như thế nào?
- Hai câu thơ tác giả nói về mối
với người thiên cổ.
hận. Em hãy cho biết đó là mối
Hai câu thực đã dựng lại cuộc đời éo le đầy
hận của ai? Hận vì lẽ gì? Và tại
thương tâm của nàng Tiểu Thanh. Nhưng
sao lại không thể hỏi trời được?
đến hai câu luận thì đó không còn là nỗi đau
của nàng Tiểu Thanh nữa :
‘’Cổ kim hận sự thiên nan vấn
Phong vận kỳ oan ngã tự cư’’.
Nếu đọc câu thứ năm người đọc chỉ nhận
được một thông tin : Những mối hận từ xưa
đến nay khó có thể mà hỏi trời. Không biết
ai hận và hận về lẽ gì. Câu thơ không có
chủ ngữ. Nhưng có lẽ câu sáu đã cắt nghĩa
đầy đủ cho câu trước : Người ta hận vì ‘mắc
nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã’’. Những
người có nhan sắc, có tài hoa, có nhân cách
xưa nay vẫn hằng hay bị vùi dập. Đó chẳng
phải là một điều oan ức sao ? Cũng như
trong Truyện Kiều Nguyễn Du đã viết ‘‘Có
tài mà cậy chi tài. Chữ tài liền với chữ tai
một vần’’. Điều chua xót là nỗi oan ấy
không thể hỏi ai, ngay cả trời là đấng tối
cao cũng không sao hỏi được. Tác giả
10
Người thực hiện:Lê Đăng Chung.
Tổ Ngữ Văn
viên định hướng : Hai câu thơ đó có hai
cách hiểu :
Cách hiểu thứ nhất :
" Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa
Thiên hạ ai người khóc Tố Như "
Cách hiểu thứ hai :
" Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa
- Thiên hạ ai người cùng Tố Như khóc
những đấng tài hoa ( trong đó có cả Tố
Như)’’
Chúng ta nên hiểu theo cách hiểu thứ hai
này.
- Nguyễn Du là một tài năng hiếm có trong
làng văn chương Việt Nam. Ông là người
am hiểu sâu sắc hiện thực cuộc sống và
nhạy cảm với những nỗi đau khổ của con
người. Đặc biệt là những người phụ nữ
nhan sắc tài hoa mà bạc mệnh. Ông mang
một trái tim nhân hậu nhưng cũng có một
cuộc đời bi kịch. " Đau đời có cứu được đời
đâu "
- Hai câu thơ cuối thể hiện một nỗi niềm
trăn trở lớn của nhà thơ. Xuân Diệu cho đó
11
Người thực hiện:Lê Đăng Chung.
Tổ Ngữ Văn
tìm hiểu một ý nhỏ về nghệ thuật như sau:
GV: Thơ Đường thường được cấu tứ dựa trên các mối quan hệ về sự vật hiện
tượng hay cảnh vật. Vậy trong bài thơ Thu hứng khung cảnh được xây dựng trên
những mối quan hệ nào?
- Yêu cầu học sinh nêu được những ý sau: Khung cảnh bài thơ được xây dựng
trên mối quan hệ: cảnh xa – cảnh gần; quan hệ giữa cảnh và tình; giữa không
gian và thời gian, giữa màu sắc và âm thanh.
GV: Qua việc tìm hiểu các mối quan hệ trên em có nhận xét gì về kết cấu của bài
thơ?
- Kết cấu của bài thơ chặt chẽ có sự nhất quán giữa nhan đề và nội dung bố cục.
Cả bài thơ xoay quanh một trục đó là Thu hứng tức là cảm xúc mùa thu, là thu
cảnh - thu tâm trong mối quan hệ gắn bó thống nhất, giữa mùa thu và cảm xúc.
Ngoài ra giáo viên cũng có thể hướng dẫn học sinh tìm hiểu thêm về các thủ
pháp nghệ thuật sử dụng ở trong bài.
12
Người thực hiện:Lê Đăng Chung.
Tổ Ngữ Văn
Sáng kiến kinh nghiệm
Trường THPT Thạch Thành 3
Khi dạy bài: Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du, đến phần 3: Những nét đặc
sắc về nghệ thuật của bài thơ tôi có thể dẫn dắt và hỏi:
GV: Bài thơ được sáng tác theo thể thơ nào?
- Bài thơ được sáng tác theo thể thơ thất ngôn bát cú.
GV: Một trong những đặc điểm của thể thơ này khác với các thể thơ mới khác
đó là gì?
nhiều.
- Không phân tích ý thơ tràn lan, mà chúng ta nên có dành một khoảng thời gian
nhất định để bình về những từ “nhãn tự” hay những câu thơ tâm đắc để làm nổi
bật rõ “ cái thần” trong bài. Hình ảnh, thể loại được dùng, vần nhịp, phép đối,
13
Người thực hiện:Lê Đăng Chung.
Tổ Ngữ Văn
Sáng kiến kinh nghiệm
Trường THPT Thạch Thành 3
niêm, luật…. Có thể giúp cho học sinh thấy rõ hơn tính hoàn chỉnh của thơ
Đường luật.
Và điều cuối cùng mà tôi muốn nói là cách đánh giá học sinh. Chúng ta
cũng nên thay đổi cách đánh giá học sinh qua một giờ dạy tôi thường đánh giá
và phân loại học sinh theo những mức độ như sau:
- Mức độ nhận biết: Yêu cầu học sinh nắm được những kiến thức cơ bản. Nhận
diện, và cảm thụ được những nội dung chính của văn bản và thể loại văn bản.
- Mức độ thông hiểu: Hiểu và cảm thụ được một cách căn bản những cái hay
cái đẹp của văn bản.
- Mức độ vận dụng: Hiểu và cảm thụ văn bản một cách sâu sắc, khả năng tác
động sâu sắc của văn bản đến đời sống tâm tư tình cảm của học sinh có khả năng
giáo dục và tự giáo dục ý thức nhân phẩm của các em, có thể vận dụng vào việc
đánh giá, bình luận và viết các bài văn nghị luận.
Kết quả thu được như sau:
Năm
124
Đã vận
dụng
34
27,4%
42
33,9%
48
38.7%
C. KẾT LUẬN:
Để có được một giờ dạy Văn thành công quả là một điều khó. Dù đã có
nhiều năm đứng trên bục giảng nhưng bản thân tôi nhận thấy không phải giờ dạy
nào chúng ta cũng thành công. Muốn có được một giờ dạy thành công thì đòi hỏi
phải có sự kết hợp giữa nhiều yếu tố. Yếu tố người thầy, yếu tố học trò, sách vở
và các trang thiết bị phục vụ cho giờ học cũng hết sức quan trọng. Để đề tài này
có ý nghĩa thiết thực trong việc vận dụng vào thực tiễn tôi xin đề xuất mấy điểm
mấu chốt sau đây:
Đối với giáo viên: Cần hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài một cách kỹ
lưỡng ở nhà. Từ lâu trong các bài dạy của giáo viên bao giờ cũng dành một mục
cuối cùng để để củng cố lại bài học và dặn dò học sinh về nhà chuẩn bị bài cũ.
Đó là quy định trong giáo án, nhưng thực tế thì việc làm này nhiều khi cũng chỉ
XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ
KT. Hiệu trưởng
PHT
Thanh Hóa, ngày 16 tháng 5 năm 2016
CAM KẾT KHÔNG COPY.
(Tác giả ký và ghi rõ họ tên)
Đỗ Duy Thành
Lê Đăng Chung.
15
Người thực hiện:Lê Đăng Chung.
Tổ Ngữ Văn