SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ VIỆC DẠY HỌC VĂN BẢN SỰ
TÍCH THẦN ĐỀN BẠCH MÃ"
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trong chương trình Ngữ văn trung học cơ sở tại Nghệ An hiện nay có dạy -
học một số tác phẩm thuộc văn học dân gian, văn học trung đại và văn học hiện đại
của các tác giả quê ở Nghệ An. Việc giảng dạy những tác phẩm này nhằm góp phần
làm cho vốn văn học của học sinh được mở rộng, kiến thức về Nghệ An thêm phong
phú, từ đó học sinh biết thêm yêu mến quê hương mình.
Chương trình mới được biên soạn và đưa vào giảng dạy ở trường trung học cơ
sở hơn một năm nay. Tài liệu hướng dẫn và những tài liệu tham khảo liên quan đều
chưa có nên người dạy và người học đã gặp không ít khó khăn. Để phần nào giải
quyết khó khăn cho người dạy, bài viết này xin trình bày một số suy nghĩ về việc
dạy -học văn bản Sự tích thần đền Bạch Mã.
Văn bản Sự tích thần đền Bạch Mã được cuốn Ngữ văn Nghệ An (Sở Giáo dục
và Đào tạo Nghệ An) biên soạn và phân phối dạy ở chương trình văn học địa
phương lớp 6. Văn bản này cùng với văn bản Cây thiên hương được phân bố dạy
trong thời gian từ 3 - 3,5 tiết. Trong cuốn Ngữ văn Nghệ An, văn bản Sự tích thần
đền Bạch Mã cũng như các văn bản khác đều được biên soạn theo cấu trúc các
phần:
- Kết quả cần đạt
- Văn bản
- Hệ thống câu hỏi đọc - hiểu
- Ghi nhớ
Ngoài sự biên soạn này, tài liệu chưa có hướng dẫn gì thêm. Trong hoàn cảnh
như vậy, để đáp ứng yêu cầu dạy văn bản, giáo viên chủ yếu tự nghiên cứu, tìm tòi
và tiến hành dạy theo kinh nghiệm của bản thân. Điều này dẫn đến hiện tượng thiếu
sự thống nhất cơ bản về việc đọc - hiểu văn bản.
Theo chúng tôi, việc dạy những văn bản văn học địa phương nói chung và dạy
văn bản Sự tích thần đền Bạch Mã nói riêng, vừa phải tuân thủ những nguyên tắc và
vừa được hình dung với màu sắc huyễn hoặc: đứng trong hàng ngũ của nghĩa quân
có cả các nhân vật phi thường; thắng lợi của nghĩa quân Lam Sơn do được những
thế lực thiêng liêng ủng hộ.
Đặc điểm của truyền thuyết còn được thể hiện ở phương thức xây dựng nhân
vật.
+ Nhân vật có hành trạng cụ thể (là con của một đôi vợ chồng luống tuổi ở
thôn Chi Linh).
+ Nhân vật đồng thời có những phẩm chất phi thường (sự ra đời của Phan Đà
do cha mẹ tích đức, do được thế lực thiêng liêng phù trợ, Phan Đà có trí tuệ và sức
lực khác thường, cái chết cũng khác thường). Đó là biểu hiện của nghệ thuật trần
tục hoá và kỳ vĩ hoá.
Thông qua giảng dạy tác phẩm Sự tích thần đền Bạch Mã có thể hình thành
cho học sinh nhận thức về sự gắn bó giữa lịch sử quê hương với lịch sử dân tộc.
Từ việc giảng dạy tác phẩm văn học địa phương này có thể hình thành cho
học sinh những tri thức khái quát về thể loại truyền thuyết. Ở thể loại này, các giá
trị chính sử và dã sử (sử liệu lưu truyền trong dân gian), sự thực và hư cấu, văn
chương và tín ngưỡng hoà quyện, làm nên giá trị độc đáo.
Sau đây là phần đề xuất soạn giáo án văn bản Sự tích thần đền Bạch Mã.
Văn bản: SỰ TÍCH THẦN ĐỀN BẠCH MÃ
A. Mục tiêu cần đạt: Giúp học sinh
- Hiểu được nội dung, ý nghĩa, đặc sắc nghệ thuật, màu sắc địa phương của
truyện.
- Nhận thức được sự gắn bó giữa lịch sử quê hương với lịch sử dân tộc.
- Qua tìm hiểu truyện, thêm tự hào, yêu quý quê hương.
- Kể lại được truyện.
B. Chuẩn bị:
- Tranh ảnh về vùng Võ Liệt, Thanh Chương, về đền thờ Bạch Mã.
- Một số tư liệu truyền thống về địa danh này.
C. Tiến trình tổ chức các hoạt động
* Bài cũ: Giáo viên yêu cầu 1 học sinh kể tên một số truyện dân gian có ý
tiết hoang đường.
- Chú thích:
+ Tả ngạn: bên trái bờ sông (tả:
bên trái; ngạn: bờ).
+ Hữu ngạn: bên phải bờ sông
+ Phúc thần: vị thần tốt hay giúp
đỡ người khác.
+ Quốc tế: cúng (giỗ) trong cả
nước (quốc: nước; tế: cúng, giỗ).
+ Bạch Mã: ngựa trắng (bạch:
trắng; mã: ngựa)
- Kể tóm tắt
- Yêu cầu học sinh nêu tóm tắt
các sự việc chính của truyện (học
sinh làm việc theo nhóm).
- Yêu cầu học sinh, từ 1-2 em kể
diễn cảm một sự việc. Các học sinh
khác theo dõi nhận xét.
- Qua việc đọc, kể, em thấy
truyện này có cùng khuôn mẫu với
truyện nào em đã học.
Các sự việc chính:
+ Phan Đà ra đời
+ Phan Đà lớn lên và gia nhập
đội quân khởi nghĩa của Lê Lợi.
+ Cái chết của Phan Đà.
+ Phan Đà được được lập đền thờ
và sắc phong phúc thần
→ truyện có cùng khuôn mẫu với
truyện Thánh Gióng.
nào có yếu tố hiện thực?
→ Chi tiết vừa có yếu tố kỳ ảo,
vừa có yếu tố hiện thực.
- Chi tiết có yếu tố kỳ ảo: vợ
chồng người nông dân chuyển ngôi
nhà sang đất “lưu huyết vạn đại”
được một năm thì người vợ sinh một
cậu con trai.
- Chi tiết có yếu tố hiện thực: là
các chi tiết về địa danh (thôn Chi
Linh xã Võ Liệt, huyện Thanh
Chương; sông Lam), chi tiết lịch sử
(cuối đời Trần).
- Từ các chi tiết đó, em có cảm
nhận gì về sự ra đời của Phan Đà?
- Sự kết hợp yếu tố kỳ ảo và yếu
tố hiện thực có tác dụng gì?
→ Sự ra đời của Phan Đà rất
khác thường. Chứng tỏ Phan Đà
không phải là một con người bình
thường.
Gắn yếu tố kỳ ảo với yếu tố hiện
thực có tác dụng tăng sức hấp dẫn
cho truyện, làm cho người đọc cảm
thấy nhân vật và sự việc được kể vừa
gần gũi, lại vừa kỳ lạ.
Hãy theo dõi những chi tiết kể
việc Phan Đà lớn lên. Những chi tiết
đó nói với em điều gì về Phan Đà?
2. Phan Đà lớn lên và tham gia
đây 6 năm. Đây là một di tích có
thực.
- Hãy tưởng tượng hình ảnh
Phan Đà cưỡi Bạch Mã ra mắt Lê
Lợi và nhận xét hình ảnh này.
Hình ảnh đó làm em liên tưởng
đến hình ảnh nào trong truyện Thánh
Gióng?
Giáo viên nói thêm →
* Phan Đà
- Cưỡi bạch mã ra mắt Lê Lợi.
→ Hình ảnh đẹp, lãng mạn, gần
gũi với hình ảnh Thánh Gióng cưỡi
ngựa sắt trong truyện Thánh Gióng.
Hình ảnh đó còn chứng tỏ cuộc
khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi làm
thủ lĩnh được sự đồng tình ủng hộ
của nhiều lực lượng; không chỉ có
manh lệ (người làm nghề cày cấy, đi
ở) mà còn có cả những thần nhân.
- Phan Đà xông pha trận mạc
được cử làm tham mưu cho Lê Lợi.
- Phan Đà được cử làm tướng
trấn giữ thành Bình Ngô - ở phuống
- Các chi tiết kể Phan Đà xông
pha trận mạc, rồi được cử làm
tướng… có vai trò gì trong việc khắc
họa hình ảnh nhân vật này?
bên hữu ngạn sông Lam
→ Khẳng định phẩm chất, tài
- Vì sao khi Phan Đà bị quân
Minh hạ sát, Phan Đà vẫn ngồi trên
lưng ngựa, đầu không rơi, máu
không chảy nhưng khi về đến đất
Chí Linh Phan Đà mới hộc ra một
vũng máu và đến thôn Niệu Ninh,
Phan Đà mới ngã ngựa?
- Vấn đề này khó - Giáo viên
giúp học sinh lý giải:
Tâm thế người Việt vẫn cho rằng
người ta chết rồi nhưng khi tiếp xúc
với người gần gũi huyết thống sẽ thổ
ra một chút máu tươi. Truyện này
cũng thể hiện quan niệm đó. Trong
giờ phút chàng hoá thân, cha mẹ già
không biết, nhưng đất Chi Linh là
ruột thịt của chàng, khiến tâm linh
chàng rung động, khiến máu chàng
thấm vào đất mẹ. Đến thôn Niệu
Ninh (nay cùng xã Võ Liệt) chàng
mới ngã ngựa.
- Những chi tiết đậm chất hoang
đường kể về cái chết của Phan Đà có
ý nghĩa gì?
→ Thể hiện một cái chết đậm
chất huyền thoại - làm nên một hình
ảnh nhân vật thần kỳ bi tráng.
Cắt nghĩa nguyên nhân cái chết
của Phan Đà từ một sở thích thanh
cao của chàng là cách nhân dân ta
đi cũng phi thường. Nhân dân yêu
mến, trân trọng muốn giữ mãi hình
ảnh người anh hùng, nên đã để Phan
Đà trở về với cõi bất tử. Bay về trời,
hình ảnh Phan Đà là hình ảnh của
nước non, xứ sở, là biểu tượng của
- Việc Phan Đà được Lê Lợi sắc
phong phúc thần thể hiện điều gì?
con người quê hương. Phan Đà sống
mãi…
- Phan Đà được Lê Lợi sắc phong
phúc thần
→ Khẳng định công lao to lớn
của Phan Đà trong cuộc khởi nghĩa
Lam Sơn; thể hiện lòng biết ơn của
quân khởi nghĩa đối với người anh
hùng này.
- Ý nghĩa của truyện?
* Ý nghĩa của truyện:
- Giải thích nguồn gốc tên gọi
đền Bạch Mã.
(Giáo viên nói thêm: Tên gọi đền
này cũng đặc biệt. Thông thường,
tên gọi đền là dựa theo nhân vật
được thờ, thí dụ đền An Dương
Vương… Ở đây đền được mang tên
linh vật đã gắn với chủ nhân - Bạch
Mã).
- Ca ngợi những tình cảm, hành
động yêu nước và nhân nghĩa của
- Học bài: nắm cốt truyện Sự tích thần đền Bạch Mã.
- Chuẩn bị bài: Cây thiên hương.
III. KẾT LUẬN
1. Đây là một truyền thuyết có cùng kiểu với truyện Thánh Gióng - một truyền
thuyết học sinh đã học. Vì vậy dạy - học văn bản này, một lần nữa các kiến thức cơ
bản về truyền thuyết được củng cố và mở rộng.
2. Bên cạnh củng cố, mở rộng kiến thức về thể loại truyền thuyết, dạy - học văn
bản này còn giúp học sinh có thêm những sự hiểu biết nhất định về vốn văn học dân
gian địa phương, thấy được điểm tương đồng và điểm khác biệt giữa những truyện dân
gian địa phương với truyện dân gian Việt Nam nói chung. Điểm khác biệt cơ bản
chính là tính chất địa phương thể hiện trong truyện. Tính chất địa phương ở đây chủ
yếu được bộc lộ rõ qua các địa danh địa phương.
3. Cũng qua dạy - học văn bản này khơi dậy được niềm hứng thú sưu tầm, tìm
hiểu vốn văn học dân gian địa phương nói riêng và vốn văn học địa phương nói chung
trong học sinh; bồi dưỡng thêm cho các em tình cảm gắn bó, yêu quý quê hương.
4. Qua thực tế một năm dạy - học văn bản theo định hướng trên, chúng tôi đã thu
nhận được những kết quả bước đầu:
Vốn văn học của học sinh được mở rộng thêm; các em đã biết liên hệ lịch sử quê
hương với lịch sử dân tộc để từ đó hiểu sâu sắc hơn lịch sử địa phương; các em cũng
biết rõ hơn một số địa danh mà trước đây các em còn mơ hồ (như đền Bạch Mã, núi
Thiên Nhẫn, vùng Võ Liệt…).
Sau khi học văn bản, nhiều em cảm thấy gần gũi hơn với tâm hồn, trí tuệ của
người dân lao động quê nhà. Bởi chính tâm hồn và trí tuệ của họ đã sáng tạo nên
những câu chuyện vô cùng thú vị như Sự tích đền Bạch Mã. Và các em thấy rằng mỗi
tên núi, tên sông của Tổ quốc đều mang những giá trị cao quý, thiêng liêng.
Những nội dung đề cập trong sáng kiến kinh nghiệm này mới chỉ là những suy
nghĩ bước đầu của người viết; chắc chắn còn có những điều cần chỉnh sửa, bổ sung.
Rất mong nhận được sự góp ý của các đồng nghiệp.
Vinh, ngày 10 tháng 4 năm 2010