Nghiên cứu triết học
Đề tài:" MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ MỤC ĐÍCH,
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG THỨC CỦA VIỆC
GIẢNG DẠY TRIẾT HỌC "
giảng dạy, nghiên cứu, học tập triết học và cho cả những người quản lý một
nhiệm vụ quan trọng là đổi mới việc giảng dạy triết học Mác - Lênin. Đổi mới
là cần thiết, nhưng vấn đề phức tạp là “đổi mới như thế nào?”. Để góp phần
tìm lời giải đáp cho vấn đề phức tạp này, dưới đây chúng tôi muốn nêu vài suy
nghĩ về mục đích, nội dung và phương thức của việc giảng dạy triết học.
Mục đích của việc giảng dạy triết học
Mục đích của việc giảng dạy triết học, trước hết, là cung cấp tri thức triết học
cho người học, giúp cho người học biết được càng nhiều càng tốt các quan
điểm của các nhà triết học trên thế giới từ trước đến nay và quan trọng hơn, là
giúp người học tự xây dựng quan điểm triết học đúng đắn cho mình. Nếu như
đối với các môn khoa học cụ thể, quan điểm của các nhà khoa học nhìn chung
là thống nhất, thì đối với triết học, quan điểm của các nhà triết học nhìn chung
lại không thống nhất vì có nhiều trường phái triết học khác nhau và ngay trong
một trường phái, nhiều vấn đề cũng đang có sự bất đồng ý kiến. Đây là một
điểm khác biệt đáng chú ý giữa triết học với các khoa học cụ thể. Phù hợp với
đặc điểm này, người học triết học không chỉ cần biết được các quan điểm triết
học của người khác, mà còn cần và chủ yếu cần xây dựng được quan điểm triết
học đúng đắn cho mình.
Nếu như việc xây dựng quan điểm triết học đúng đắn cho người học là điều
quan trọng thì trong cách đánh giá về kết quả của việc học triết học, yêu cầu
đối với người học không phải chỉ là ở chỗ xem người học có biết được nhiều
quan điểm của các nhà triết học hay không, mà còn là ở chỗ xem họ có quan
điểm triết học hay không, quan điểm ấy có đúng đắn và sâu sắc hay không.
Người học có thể biết được quan điểm của những người khác nhưng vẫn
không có một quan điểm triết học nào. Do vậy, nếu kiểm tra trình độ nhận thức
người học bằng cách yêu cầu người học trình bày các quan điểm của các nhà
triết học nào đó thì những người không có quan điểm triết học vẫn có thể thực
hiện xuất sắc yêu cầu kiểm tra. Còn nếu kiểm tra trình độ nhận thức người học
bằng cách yêu cầu người học trình bày quan điểm của mình, bình luận và đánh
giá quan điểm của những người nào đó thì chỉ những người tự xây dựng được
dạy các quan điểm triết học về nhân sinh phức tạp hơn so với việc dạy các
quan điểm triết học khác. Đó là vì người dạy không những cần có quan điểm
nhân sinh của mình, mà còn phải thể hiện quan điểm ấy bằng hành động thực
tế. Chẳng hạn, sống có hiếu với cha mẹ là một quan điểm về nhân sinh; để
thuyết phục người học tin theo quan điểm này thì người dạy không những phải
tin theo quan điểm ấy, mà còn phải thể hiện quan điểm ấy bằng hành động cụ
thể của mình, phải sống có hiếu với cha mẹ của mình. Nếu anh sống không có
hiếu với cha mẹ của mình thì tức là anh không hiểu biết về đạo hiếu và không
tin theo quan điểm sống có hiếu với cha mẹ; nếu anh không hiểu biết về đạo
hiếu và không tin theo quan điểm sống có hiếu với cha mẹ thì anh không thể
dạy người học về đạo hiếu và thuyết phục người học tin theo quan điểm ấy.
Anh không thể dạy người khác cái điều mà anh không hiểu biết. Anh cũng
không thể khuyên người khác làm cái điều mà anh không muốn làm. Đối với
việc giảng dạy các khoa học cụ thể, người học có thể không quan tâm đến lối
sống của người dạy. Nhưng, đối với việc giảng dạy triết học thì người học
thường quan tâm đến lối sống của người dạy. Do vậy, kết quả của việc giảng
dạy triết học liên quan mật thiết không chỉ đến kiến thức của người dạy mà còn
đến hành động cụ thể của người dạy.
Nội dung của việc giảng dạy triết học
Xác định nội dung của việc giảng dạy triết học, cụ thể là xác định hệ thống các
vấn đề của triết học, là công việc quan trọng và phức tạp. Mỗi một môn khoa
học có một hệ thống những vấn đề riêng, việc trả lời những vấn đề của một
khoa học tạo thành nội dung của môn khoa học ấy. Triết học là một môn học
và cũng có một hệ thống các vấn đề riêng. Vì vậy, trong quá trình giảng dạy
triết học, chúng ta phải xác định rõ ràng và đúng đắn những vấn đề triết học,
đồng thời sắp xếp những vấn đề ấy thành hệ thống. Có vấn đề đối với nhà triết
học này là vấn đề triết học, nhưng đối với nhà triết học khác lại không phải là
vấn đề triết học; hoặc đối với nhà triết học này là vấn đề triết học quan trọng
và cần thiết, nhưng đối với nhà triết học khác lại là vấn đề triết học không quan
trọng và không cần thiết. Trong số các vấn đề triết học, có một vấn đề cơ bản,
tế và chính trị; - Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; - Cơ sở hạ tầng và
kiến trúc thượng tầng; - Tồn tại xã hội và ý thức xã hội; - Sản xuất vật chất và
sản xuất tinh thần; - Nhà nước và pháp luật; - Giai cấp, dân tộc, nhân loại; -
Tiến bộ xã hội và thoái bộ xã hội;- Cách mạng xã hội; - Chiến tranh và hoà bình;
- Đạo đức, tôn giáo, khoa học, nghệ thuật, văn hoá và văn minh; - Dân số, gia
đình và giới; - Môi trường sinh thái; v.v Danh mục các vấn đề triết học không
phải là cố định vì chúng ngày càng được bổ sung thêm theo sự phát triển của các
khoa học cụ thể và của thực tiễn.
Phương thức giảng dạy triết học
Sau khi đã xác định những vấn đề triết học, đồng thời sắp xếp những vấn đề ấy
thành hệ thống, thì bước tiếp theo trong quá trình giảng dạy triết học là trình
bày một cách khách quan những quan điểm cơ bản đã có trong lịch sử về từng
vấn đề triết học theo trình tự từ sâu sắc ít cho đến sâu sắc nhiều. Đối với việc
giảng dạy các môn khoa học cụ thể, người dạy có thể không cần trình bày tất
cả các quan điểm về các vấn đề của môn khoa học; nhưng đối với việc giảng
dạy triết học, việc trình bày tất cả các quan điểm về các vấn đề của triết học là
rất quan trọng và cần thiết. Bởi điều đó giúp cho người học có thêm căn cứ để
lựa chọn cho mình một quan điểm nào đó hoặc tìm kiếm một quan điểm mới
trên cơ sở phê phán các quan điểm đã có.
Quan điểm của các nhà triết học thuộc thế hệ sau không phải bao giờ cũng sâu
sắc hơn hoặc đúng hơn quan điểm của các nhà triết học thuộc thế hệ trước. Ví
dụ, về vấn đề vật chất có trước hay có sau ý thức, quan điểm của Hêghen sâu
sắc hơn quan điểm của Đêmôcrít, nhưng quan điểm của Đêmôcrít là duy vật
(đúng) còn quan điểm của Hêghen là duy tâm (sai); quan điểm của Hêghen về
mâu thuẫn sâu sắc hơn quan điểm về mâu thuẫn của E.Makhơ… Khi trình bày
lịch sử cuộc tranh luận của các nhà triết học tiêu biểu về từng vấn đề triết học,
người trình bày cần coi lịch sử triết học là lịch sử đấu tranh giữa hai hệ quan
điểm đối lập nhau là quan điểm duy vật, khả tri, biện chứng và quan điểm
không duy vật, bất khả tri, siêu hình. Cả hai hệ quan điểm này đều có sự phát
triển từ sâu sắc ít đến sâu sắc nhiều hơn. Mỗi khi hệ quan điểm duy vật, khả tri,
ấy trong một cuốn sách để những người nghiên cứu triết học (học sinh, sinh
viên, nhà khoa học, người hoạt động thực tiễn, v.v) dù không nghiên cứu toàn
bộ các tài liệu triết học đã có trong lịch sử vẫn có thể tự xây dựng được cho
mình một hệ thống quan điểm triết học đúng đắn ở một mức độ sâu sắc cần
thiết. Làm được như vậy, người dạy có thể khơi dậy được niềm say mê triết
học nơi người học ở nhiều lứa tuổi và nhiều tầng lớp khác nhau và qua đó, sẽ
nâng cao được hiệu quả của việc giảng dạy triết học.r
* Phó giáo sư, tiến sĩ, Phó viện trưởng Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội
Việt Nam.
[i] Tên gọi môn học này chưa thống nhất, có khi được gọi là Triết học, có khi
lại là Triết học Mác - Lênin. Ví dụ, trong cuốn Triết học. Dùng cho nghiên cứu
sinh và học viên cao học không thuộc chuyên ngành triết học (Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997, gồm 3 tập) thì môn học này có tên gọi là
Triết học.