i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và kết
quả nghiên cứu ghi trong khóa luận là trung thực, khách quan và chưa từng được công
bố trong bất kì một công trình nào khác.
Đồng Hới, tháng 05 năm 2015
Tác giả
Phạm Thị Bích Diệp
iii
KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
STT
Kí hiệu Chú giải
1
[1, tr.120]
Trích dẫn tài liệu tham khảo 1, trang 120 iv
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN i
KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI iii
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài: 1
2. Lịch sử đề tài nghiên cứu. 2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu. 5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu. 6
5. Phương pháp nghiên cứu. 6
6. Đóng góp của khóa luận 7
7. Cấu trúc đề tài nghiên cứu. 7
3.3.1. Tính tự nhiên, đơn giản, gần gũi. 57
3.3.2. Tính sinh động, hấp dẫn, giàu cảm xúc, sử dụng nhiều biện pháp tu từ. 61
3.3.3. Tính hài hước, hóm hỉnh. 64
3.3.4. Tính giáo dục. 67
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đến với con đường nghệ thuật từ những năm ba mươi đến nay, Tô Hoài là một
trong số những nhà văn tiêu biểu của nền văn học hiện đại. Tác phẩm của ông phản
ánh chân thực, sâu sắc cuộc sống của người dân Việt Nam. Chân dung con người trong
tác phẩm của Tô Hoài là cả một dòng sông cuộc đời trôi chảy của bao nhiêu sự việc,
câu chuyện, đời người. Người đọc quan tâm đến ông không chỉ vì ông là một cây bút
có bút lực dồi dào mà còn thấy ở ông những ý tưởng mới mẻ, táo bạo và khá sâu sắc
trong việc khám phá, lí giải con người. Đóng góp ấy của ông cùng với một số nhà văn
đương thời đang làm nên một diện mạo mới cho nền văn học Việt Nam đương đại. Tô
Hoài bước vào nghề văn khá sớm và nổi danh từ trước năm 1945, ông có một khả
năng quan sát đặc biệt, rất thông minh, hóm hỉnh và tinh tế. Những nhân vật, những
cảnh đời trong tác phẩm của Tô Hoài có vẻ hồn nhiên như hơi thở của sự sống, một
dáng dấp dân gian mạnh khỏe, thuần phác, trữ tình. Lối viết chân thực, giản dị rất đời
thường trong cách xây dựng nhân vật. Đọc tác phẩm của Tô Hoài, chúng tôi nhận thấy,
kiểu nhân vật được nhà văn quan tâm và thể hiện nhiều là nhân vật người dân miền
núi, người anh hùng dân tộc, nhân vật cán bộ và nông dân trong công cuộc xây dựng
xã hội chủ nghĩa, nhân vật loài vật và trẻ em. Những kiểu nhân vật này xuất hiện trong
các sáng tác của ông và tạo nên một xúc cảm mạnh mẽ trong lòng độc giả.
của Tô Hoài thì không thể không nhắc đến thế giới nhân vật loài vật và nhân vật trẻ
em. Đó quả là yếu tố đặc sắc và độc đáo trong thế giới truyện Tô Hoài. Qua việc
nghiên cứu về thế giới nhân vật, chúng ta có cái nhìn đầy đủ, sâu sắc và toàn diện hơn
về tài năng của ông. Đó là lí do để chúng tôi lựa chọn đề tài: “ Đặc điểm nhân vật trẻ
em và nhân vật loài vật trong truyện ngắn của Tô Hoài” để nghiên cứu.
2. Lịch sử đề tài nghiên cứu
Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu bàn về nhân vật văn học.
Tuy nhiên tính đến thời điểm hiện nay, những bài viết, công trình nghiên cứu về thế
giới thế giới nhân vật trong các tác phẩm truyện ngắn nói chung còn đang hạn chế về
số lượng. Tô Hoài sinh năm 1920, đến nay đã có 80 năm tuổi đời, và 60 năm tuổi viết.
Ông có nhiều đóng góp đặc sắc cả trước và sau cách mạng tháng 8. Truyện ngắn là
mảng sáng tác khá thành công với phong cách riêng. Đã có rất nhiều bài viết trên các
tạp chí, những tham luận, luận văn, luận án, chuyên khảo, đánh giá, nghiên cứu về
mảng sáng tác này.
Dõi theo lịch sử phê bình, chúng tôi thống kê, đã có khoảng trên dưới 97 công
trình nghiên cứu về tác giả Tô Hoài. Đặc biệt, trong đó có 3 nhà nghiên cứu người
nước ngoài với bốn bài viết rất độc đáo. “(Đó là các tác giả G.Gôlôpnép, Nicullin, 3
Accađi Xtơrugaxki). Tổng hợp lại chúng tôi cho rằng: hiện có bốn hướng cơ bản
nghiên cứu về Tô Hoài.
Hướng 1: Đề cao các sáng tác cho thiếu nhi của Tô Hoài. Những nhà nghiên cứu
theo hướng này hầu như xem tất cả công sức lao động nghệ thuật của Tô Hoài tập
trung vào “Dế mèn phiêu lưu ký” và những sáng tác viết cho lứa tuổi học sinh Tiểu
học, học sinh phổ thông cơ sở. Từ đó các nhà nghiên cứu đi sâu phân tích một số tác
phẩm cụ thể. Ví dụ: “Dế mèn phiêu lưu ký”, “Con mèo lười”,…. Tiêu biểu cho quan
điểm viết theo hướng này có G.Gôlôpnép, Accađi Xtơrugaxki, Phan Cự Đệ, Vân
Thanh,….
Hướng 2: Tập trung khai thác giá trị những tác phẩm tiêu biểu của Tô Hoài sau
con vật ấy cũng có tình cảm, cá tính và cả tâm trạng, số phận nữa. Thông qua thế giới
loài vật này, tác giả muốn nói truyện loài người, đến số phận người thợ thủ công vùng
Bưởi” (45-143).
4. Giáo sư Phan Cự Đệ nhận định: “Trong tác phẩm Tô Hoài, nhìn chung ngôn
ngữ quần chúng được nâng cao bằng nghệ thuật hóa. Anh đã trải qua quá trình lao
động ngôn ngữ khá công phu, nhất là mặt trau dồi cú pháp và hình tượng ngôn
ngữ.(32-99). Nhận định này phần nào giúp người viết trình bày rõ hơn chương 3 của
khóa luận.
5. Trong bài viết giới thiệu tuyển tập Tô Hoài hấp dẫn của giáo sư Hà Minh
Đức cũng cho thấy Tô Hoài rất được tôn trọng: “Vì vậy câu văn của Tô Hoài thường
mới mẽ. Ông sáng tạo ra những quan hệ mới, cấu trúc mới trong cú pháp thi ca,…
Trong lĩnh vực ngôn từ, Tô Hoài đặc biệt chú ý đến cái mới, cái đẹp của chữ nghĩa.
Làm sao để trong văn mạch chữ nghĩa ánh lên màu sắc mới” (18-49). Qủa thật, ngôn
ngữ của Tô Hoài xứng đáng được đánh giá như vậy.
6. Trong quyển “Truyện viết cho thiếu nhi dưới chế độ mới”, sau khi phân tích
một số yếu tố mới của tác phẩm, tác giả Vân Thanh đã khẳng định về vai trò kỹ thuật
sử dụng ngôn ngữ của Tô Hoài.)
7. Nhà nghiên cứu người Nga G.Gôlôpnép cũng rất mê cách kể chuyện của Tô
Hoài. Những ý kiến của nhà nghiên cứu này giúp người viết hiểu sâu về ngôn ngữ
người kể chuyện trong sáng tác Tô Hoài. Tác giả nói rằng: “Có một thời, bạn đọc của
đất nước Xô Viết, lớn cũng như nhỏ không biết rằng ngoài Andecxen, Hopman, Grim
và Sơ vác, còn có một nhà kể chuyện xuất sắc ở Việt Nam xa xôi, người ấy là Tô
Hoài”. Ông còn dẫn thêm câu nói của Vladimia Xoolôukihin để chứng minh: “Ngay từ
những trang đầu người đọc đã bị hấp dẫn bởi thể văn tâm tình và sự châm biếm tinh tế
bởi lối phóng tác rất nhẹ nhàng, những chuyện phiêu lưu mạo hiểm … không còn nghi
ngờ gì nữa, cuốn sách này sẽ được tái bản ở nước ta và được dịch ra nhiều thứ tiếng 5
khác, cho tới khi nó trở thành một trong những cuốn sách hay nhất, bằng tiếng loài
6
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Chúng tôi khảo sát truyện ngắn của Tô Hoài ở 3 cuốn sách
chủ yếu sau:
- Tô Hoài về tác giả và tác phẩm, NXB giáo dục, do Phong Lê giới thiệu và Vân
Thanh tuyển chọn.
- Tuyển tập Tô Hoài (Tập I), NXB văn học Hà Nội, năm 1996.
- Tô Hoài, Tác phẩm văn học được giải thưởng Hồ Chí Minh, NXB văn học.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu các đặc điểm về tên gọi, ngoại hình, hành động, tính
cách và diễn biến tâm lý của thế giới nhân vật trẻ em và nhân vật loài vật .
- Nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trẻ em và nhân vật loài vật trong
truyện ngắn của Tô Hoài.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài: “ Đặc điểm nhân vật trẻ em và nhân vật loài vật trong truyện
ngắn của Tô Hoài”, chúng tôi đã sử dụng 3 phương pháp nghiên cứu chính sau:
5.1. Phương pháp đọc sách và tài liệu:
Phương pháp này giúp chúng tôi tìm hiểu, tham khảo những vấn đề liên quan
đến đề tài như truyện ngắn, nhân vật văn học, nhân vật trẻ em và nhân vật loài vật
trong các tác phẩm truyện ngắn của Tô Hoài.
5.2. Phương pháp phân tích- tổng hợp:
Dùng để phân tích, làm rõ được nét đẹp và ý nghĩa của từng nhân vật trong
truyện ngắn. Phân tích yếu tố ngôn ngữ nhân vật, góp phần làm rõ đặc điểm của các
nhân vật được nhắc đến. Phương pháp tổng hợp giúp cho người viết có cái nhìn khái
quát, toàn diện về nhân vật trẻ em và nhân vật loài vật trong các tác phẩm truyện ngắn
của Tô Hoài.
5.3. Phương pháp khảo sát – thống kê:
Phương pháp này hỗ trợ chúng tôi khảo sát và thống kê các tài liệu đã tham
khảo, các tác phẩm truyện ngắn của Tô Hoài có sự tham gia của nhân vật trẻ em và
8
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ NHÂN VẬT VĂN HỌC VÀ
NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA TÔ HOÀI.
Tìm hiểu, nghiên cứu thế giới nhân vật trong các tác phẩm truyện ngắn trước
tiên phải tìm hiểu quan niệm về nhân vật văn học, chức năng cũng như cách phân loại
về nhân vật của các nhà nghiên cứu. Từ đó làm cơ sở để nghiên cứu về thế giới nhân
vật loài vật và nhân vật trẻ em trong truyện ngắn của Tô Hoài được cụ thể và chính
xác hơn.
1.1. Nhân vật văn học và chức năng của nhân vật văn học
1.1.1. Nhân vật văn học
Nhân vật văn học là phương tiện, là công cụ tinh vi sắc bén nhất để khái quát hiện
thực. Việc xây dựng thành bại yếu tố này gắn liền với sự thành bại của tác phẩm văn học.
Cũng nhờ nó mà tác phẩm văn học và tên tuổi tác giả trở nên bất hủ. Theo “Từ điển thuật
ngữ văn học” của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử thì nhân vật văn học là con người cụ thể được
miêu tả trong tác phẩm văn học. Còn theo Lại Nguyên Ân trong “150 thuật ngữ văn học”
thì nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự
Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật có tính ước lệ, có những dấu
hiệu để nhận biết: tên gọi, những dấu hiệu về tiểu sử, nghề nghiệp, những đặc điểm
riêng Những dấu hiệu đó thường được giới thiệu ngay từ đầu và thông thường, sự
phát triển về sau của nhân vật gắn bó mật thiết với những giới thiệu ban đầu đó. Việc
giới thiệu Thúy Vân, Thúy Kiều khác nhau dường như cũng báo trước về số phận của
mỗi người sau này. Hay việc giới thiệu Hoạn Thư
gắn liền với những suy nghĩ, nói năng, hành động trong quá trình phát triển về sau của
nhân vật.Nhân vật văn học không giống với các nhân vật thuộc các loại hình nghệ
thuật khác. Ở đây, nhân vật văn học được thể hiện bằng chất liệu riêng là ngôn từ. Vì
vậy, nhân vật văn học đòi hỏi người đọc phải vận dụng trí tưởng tượng, liên tưởng để
dựng lại một con người hoàn chỉnh trong tất cả các mối quan hệ của nó.
1.1.2. Chức năng của nhân vật văn học
Nhân vật văn học được tác giả xây dựng trong mỗi tác phẩm văn học luôn mang
những chức năng nhất định, góp phần quan trọng trong việc tạo nên sự thành công cho
tác phẩm văn học. Đó là đứa con tinh thần mà các tác giả muốn gửi gắm vào tác phẩm
văn học. Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh vai trò nhân vật ở mỗi chức năng khác nhau.
Tuy nhiên, hiện nay nhiều nhà nghiên cứu đã thấy rõ nhất một số chức năng của nhân
vật như: Chức năng miêu tả và khái quát các loại tính cách xã hội; chức năng tương tự
chức năng của một chìa khóa; chức năng biểu hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn
về thế giới; chức năng tạo nên mối liên kết giữa các sự kiện trong tác phẩm. 10
Đầu tiên, có thể kể đến chức năng miêu tả và khái quát các loại tính cách xã
hội: chức năng của nhân vật là khái quát những quy luật cuộc sống của con người, thể
hiện những hiểu biết, những ước ao và kì vọng về con người. Nhà văn sáng tạo ra nhân
vật là để thể hiện những cá nhân xã hội nhất định và quan niệm về các cá nhân đó. Nói
cách khác nhân vật là phương tiện khái quát các tính cách, số phận của con người và
các quan niêm về chúng. Tính cách, trong ý nghĩa rộng nhất, chung nhất, là sự thể hiện
lừa dối mấy lần, hoặc đọc Tấm Cám chớ trách Tấm khờ khạo để mẹ con Cám lừa gạt,
hãm hại,…
Nhân vật văn học có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống
và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời. Khi xây dựng nhân vật, nhà văn có
mục đích gắn liền nó với những vấn đề mà nhà văn muốn đề cập đến trong tác phẩm.
Vì vậy, tìm hiểu nhân vật trong tác phẩm, bên cạnh việc xác định những nét tính cách
của nó, cần nhận ra những vấn đề của hiện thực và quan niệm của nhà văn mà nhân vật
muốn thể hiện. Chẳng hạn, khi nhắc đến một nhân vật, nhất là các nhân vật chính,
người ta thường nghĩ đến các vấn đề gắn liền với nhân vật đó. Gắn liền với Kiều là
thân phận của người phụ nữ có tài sắc trong xã hội cũ. Gắn liền với Kim Trọng là vấn
đề tình yêu và ước mơ vươn tới hạnh phúc. Gắn liền với Từ Hải là vấn đề đấu tranh để
thực hiện khát vọng tự do, công lí Trong Chí Phèo của Nam Cao, nhân vật Chí Phèo
thể hiện quá trình lưu manh hóa của một bộ phận nông dân trong xã hội thực dân nửa
phong kiên. Ðằng sau nhiều nhân vật trong truyện cổ tích là vấn đề đấu tranh giữa
thiện và ác, tốt và xấu, giàu và nghèo, những ước mơ tốt đẹp của con người
Do nhân vật có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống và
thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời cho nên trong quá trình mô tả nhân vật,
nhà văn có quyền lựa chọn những chi tiết, yếu tố mà họ cho là cần thiết bộc lộ được
quan niệm của mình về con người và cuộc sống. Chính vì vậy, không nên đồng nhất
nhân vật văn học với con người trong cuộc đời. Khi phân tích, nghiên cứu nhân vật,
việc đối chiếu, so sánh có thể cần thiết để hiểu rõ thêm về nhân vật, nhất là những
nhân vật có nguyên mẫu ngoài cuộc đời (anh hùng Núp trong Ðất nước đứng lên; Chị
Sứ trong Hòn Ðất ) nhưng cũng cần luôn luôn nhớ rằng nhân vật văn học là một sáng
tạo nghệ thuật độc đáo gắn liền với ý đồ tư tưởng của nhà văn trong việc nêu lên
những vấn đề của hiện thực cuộc sống. Betông Brecht cho rằng: "Các nhân vật của tác
phẩm nghệ thuật không phải giản đơn là những bản dập của những con người sống mà
là những hình tượng được khắc họa phù hợp với ý đồ tư tưởng của tác giả".
1.2. Phân loại nhân vật văn học
Nhân vật văn học là một hiện tượng hết sức đa dạng. Những nhân vật được xây
dựng thành công từ xưa đến nay bao giờ cũng là những sáng tạo độc đáo, không lặp
đặt nhân vật vào loại nào để nghiên cứu, cần phải xét khuynh hướng chủ đạo của nó
đồng thời phải chú ý đến các khuynh hướng, phẩm chất thẩm mĩ khác nữa. Trong giai
đoạn trước, những nhân vật như Kiều, Hoạn Thư, Thúc Sinh cũng được Nguyễn Du
miêu tả ở nhiều góc độ, với nhiều phẩm chất khác nhau chứ không phải chỉ có một
phẩm chất chính diện hoặc phản diện.
Thứ hai xét từ góc độ kết cấu, có thể chia thành các loại nhân vật: nhân vật
chính, nhân vật trung tâm, nhân vật phụ. Nhân vật chính là nhân vật giữ vai trò quan
trọng trong việc tổ chức và triển khai tác phẩm. Ở đây, nhà văn thường tập trung miêu 13
tả, khắc họa tỉ mỉ từ ngoại hình, nội tâm, quá trình phát triển tính cách của nhân vật.
Qua nhân vật chính, nhà văn thường nêu lên những vấn đề và những mâu thuẫn cơ bản
trong tác phẩm và từ đó giải quyết vấn đề, bộc lộ cảm hứng tư tưởng và tình điệu thẩm mĩ.
Nhân vật chính có thể có nhiều hoặc ít tùy theo dung lượng hiện thực và những vấn đề
đặt ra trong tác phẩm. Với những tác phẩm lớn có nhiều nhân vật chính thì nhân vật
chính quan trọng nhất xuyên suốt toàn bộ tác phẩm được gọi là nhân vật trung tâm.
Trong không ít trường hợp, nhà văn dùng tên nhân vật trung tâm để đặt tên cho tác
phẩm. Ví dụ: Ðông Kísốt của Cervantes, Anna Karênina của L. Tônxtôi, A.Q chính
truyện của Lỗ Tấn, Truyện Kiều của Nguyễn Du Trừ một hoặc một số nhân vật
chính, những nhân vật còn lại đều là những nhân vật phụ ở các cấp độ khác nhau. Ðó
là những nhân vật giữ vị trí thứ yếu so với nhân vật chính trong quá trình diễn biến của
cốt truyện, của việc thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Nhân vật phụ phải góp
phần hỗ trợ, bổ sung cho nhân vật chính nhưng không được làm mờ nhạt nhân vật
chính. Có nhiều nhân vật phụ vẫn được các nhà văn miêu tả đậm nét, có cuộc đời và
tính cách riêng, cùng với những nhân vật khác tạo nên một bức tranh đời sống sinh
động và hoàn chỉnh.
Thứ ba, xét từ góc độ thể loại: Có thể phân thành các nhân vật: nhân vật trữ
tình, nhân vật tự sự và nhân vật kịch. (sẽ nói rõ trong phần các loại thể)
ẩn sâu trong tâm hồn. Vì vậy, nhân vật trong truyện ngắn của ông không xa lạ, họ là
những người nông dân, người thợ thủ công, những người trí thức sống ở làng Nghĩa
Đô, ngay cả đến loài vật cũng hết sức bình thường, gần gũi trong cuộc sống hàng
ngày.
1.3.1. Nhân vật nông dân, thợ thủ công
Nhân vật chiếm đa số trong những trang truyện ngắn của Tô Hoài trước Cách
mạng là những người nông dân thợ thủ công. Họ là hình ảnh người dân làng Nghĩa
Đô, là người chính người thân trong gia đình Tô Hoài. Không giống như Ngô Tất Tố,
Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài viết về người nông dân, người thợ thủ công, ông không
đi vào những sự kiện quan trọng, những tình huống gây bất ngờ, hay những cuộc đấu
tranh giai cấp. Dưới con mắt của Tô Hoài, những người nông dân, những người thợ
thủ công đều là con người bình thường, có suy nghĩ, tâm trạng vận động theo quy luật
đời thường. Có lẽ vì vậy, nhân vật của ông không phải là những con người hành động
kiên cường giống như chị Dậu trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố, những kẻ quá ngờ
nghệch dốt nát như con mẹ nuôi trong Đồng hào có ma của tác giả Nguyễn Công
Hoan. Thực sự, nhân vật của Tô Hoài là những con người đời thường. Họ phải chịu
cảnh đói nghèo, thất nghiệp vì những biến động của xã hội. Họ có mặt tốt mặt xấu, có
những suy nghĩ hết sức vụn vặt, những lo toan tính toán trong cuộc sống thường nhật.
Thời ấy, làng Nghĩa Đô, người dân sống chủ yếu bằng nghề dệt cửi, sự sống loanh
quanh buộc vào mấy khung cửi mọt. Xung quanh Tô Hoài là cảnh sống khó khăn túng 15
quẫn của gia đình, của làng xóm nghề dệt thủ công dần dần phá sản. Tô Hoài đã ghi lại
cảnh gia đình trong Tự truyện. Những ngày chợ phiên hàng ế hàng, không khí gia đình
càng trở nên nặng nề: “Nhà tôi, ngày chợ không sinh chuyện này thì chuyện khác.
Hàng ít lại xấu, không đều, không ai mua. Thế là xảy ra xô xát giữa bà ngoại tôi và các
dì tôi. Ông ngoại tôi ngồi uống rượu. Cuối cùng, bao giờ ông tôi cũng vác gậy đuổi
đánh tất cả. Mọi người chạy toán loạn đêm mới về ( ) Sáng hôm sau, lại vẫn cãi vã,
theo anh về. Cuộc sống còn khó khăn nhưng gia đình họ hoà thuận, êm ấm, hạnh phúc
được thắp lên từ những ảm đạm tối tăm của đói nghèo. Giống với tình huống của nhà
văn Kim Lân nhưng Tô Hoài lại khai thác ở khía cạnh bi kịch. Bà Móm không chấp
nhận vợ anh Mí, vì cho rằng đó là người đàn bà đốn mạt. Bà hành hạ cô con dâu của
mình bằng tiếng chửi rủa hàng ngày tưởng như không bao giờ dứt. Người đàn bà ấy đã
không chịu đựng được đành phải bỏ đi và người con trai bà cũng bỏ bà mà ra đi. Một
người phụ nữ đánh đá, chua ngoa như bà Móm cuối cùng cũng phải ôm mặt, hu hu
khóc. “Ối con ơi!”. Tiếng khóc ăn năn hối hận, tiếc nuối, tiếng khóc thương cho con
trai khốn khổ, khóc thương cho cuộc đời tăm tối của bà. Người nông dân đã khốn khổ
vì nghèo đói, họ còn khốn khổ vì những hủ tục làng xã đeo bám. Nếu bà Móm chấp
nhận người con dâu ấy và vun vén vào cho con trai thì đâu đến nỗi gia đình bà nhà tan
cửa nát, mỗi người một nơi. Cuối cùng chỉ còn mỗi mình bà trong căn nhà trống
huếch, trống hoác và chịu dằn vặt trong nỗi cô đơn. Còn chuyện gia đình anh Hối
trong Buổi chiều ở trong nhà cũng gợi cho người đọc bao nỗi xót xa. Câu chuyện mở
ra một khung cảnh gia đình đầm ấm ba bố con quây quần bên nhau: “Hai đứa trẻ thích
bố quá. Bố vừa cho ăn kẹo bột, bố lại hát cho mà nghe”. Có hạnh phúc nào hơn thế. Cái
khung cảnh làm cho ta cảm thấy thú vị nhẹ nhàng. Sự kiện bắt đầu khi người mẹ phát hiện
bị mất chai đựng dầu. Anh Hối đã mang một chai dầu đem bán để mua kẹo cho cả nhà.
Anh không biết rằng một chai dầu khác đã được bán đi để có tiền mua thuốc cho con lúc
ốm. Hơn nữa với anh chị, từ trước đến nay, thắp đèn vào ban tối là một chuyện tiêu
hoang. Nhưng giờ đây chị Hối muốn thắp đèn vì mất hai xu dầu, anh chị có thể làm
thêm được năm xu việc vào buổi tối. Không có cái chai ấy làm sao anh chị có thể làm
thêm, chị sẽ còn trông vào đâu. Chị Hối đã rất giận chồng. Lời qua tiếng lại, dẫn đến xô
xát. Người đọc thấy buồn chỉ vì một chai dầu mà họ đã đánh chửi nhau. Cái nghèo cái
đói luôn bao trùm trong gia đình họ khiến họ trở nên dễ dàng cáu giận. Còn nhân vật
trong Khách nợ góp phần hoàn thiện bức tranh cuộc sống cùng khổ của những người
nông dân. Ba mươi tết, anh hương Cay phải đi trốn vì lái Khế đến đòi nợ. Cảnh nhà
anh hương Cay tan hoang, chẳng có gì. Lái Khế “nhòm cả xuống gầm phản. Chiếc
phản đã mọt sủng, mối đùn dưới gậm từng đống đất to xù. Cầm cái hèo, lão đi xét thật
nhanh gõ đốp đốp vào bức vách. Từng tảng đất vách, trấu trắng phếch ngã xuống, lăn
khát khao hi vọng về một cuộc sống tươi đẹp hơn. Gia đình anh Duyện cãi nhau kịch
liệt nhưng cơn mưa rào ập đến họ lai nhanh chóng tất tả đi bắt nhái dường như chẳng
có vụ đánh chửi nào xảy ra. Thấy chồng cặm cụi bắt nhái, bao nhiêu yêu thương lại
dâng lên. Họ cáu gắt cũng vì mệt nhọc, vì đói kém chứ bản chất thì hiền lành, chăm
chỉ, cũng mong muốn có một cái gì tốt đẹp hơn dù đơn giản chỉ là một bữa cơm với
món nhái nướng. Anh Hối bán một chai dầu mua kẹo để cho anh và vợ con ăn. Anh
sung sướng bên cạnh những đứa nhỏ vừa cho chúng ăn kẹo và hát cho chúng nghe.
Niềm vui ngập tràn trong lòng anh, khi vợ về, anh muốn chia sẻ ngay điều đó với vợ 18
“Nhà ra tôi cho cái kẹo này”. Niềm vui sướng của anh cũng thật giản dị. Đó là sự đồng
cảm, chia sẻ bên người thân ngay từ những điều nhỏ nhặt nhất. Bà Móm lắm điều, ác
nghiệt là thế. Nhưng thực sự trong lòng bà đâu muốn. Bà đau xót hối hận khi con trai
bỏ đi, một mình bà ở lại trong nỗi cô đơn, tuổi già và bệnh tật. Anh Cuông (Lá thư tình
đầu tiên) sống trong niềm tin hi vọng. Anh yêu thầm nhớ trộm cô Mi, một người con
gái có đôi mắt trong thẳm và đen láy, một người mà biết bao trai làng ngưỡng mộ và
mong ước được lấy làm vợ. Cô Mi đẹp nhất làng còn là người hay chữ nên cô không
chấp nhận một người chồng lại không biết chữ. Thế là anh chàng Cuông hiền lành
chân chất dạy sớm thức khuya âm thầm học chữ. Bức thư tình đầu tiên anh đã hoàn
thành, gửi gắm vào đó những tình cảm yêu thương chân thành thiết tha của anh với cô
Mi. Bức thư tình ấy không thực hiện đựơc sứ mệnh của nó. Bởi vì cô Mi đã đi lấy
chồng và vẫn không biết được tấm chân tình của anh. Câu chuyện thật nhẹ nhàng để
lại trong lòng người đọc niềm thương cảm. Mặc dù đó chỉ là tình yêu đơn phương
nhưng ta cảm nhận được những tình cảm yêu thương đằm thắm của anh Cuông. Tình
yêu đã giúp anh vươn lên trong cuộc sống giúp anh có nghị lực, có chí hơn. Anh trở
thành người biết chữ trong cái làng mà ít người được học hành như thế này. Anh Tại
[Một người đi xa về] cho dù bị người yêu phụ bạc nhưng anh không sa vào tuyệt vọng,
tự huỷ hoại mình, trả thù đời. Anh cay đắng nhận ra rằng người yêu bỏ anh đi lấy
cũng phải đối diện với một hiện thực giống như Độ “phải viết”, nếu không “toà soạn
sẽ kêu lên rằng dạo này hắn lười quá. Gã không dám lười bởi gã cần tiền”. Chấp nhận
hiện thực như việc chấp nhận cái bàn, cái ghế khập khiễng, gã bắt đầu viết. Một cái tên
truyện rất đẹp “Ấp hồ”. Đấy là một truyện diễm tình và suông hết sức. Gã cảm thấy
ngượng. Bởi gã nhận ra rằng: “Mạch sống cuộc đời táp nham này còn có gì đáng lồng
vào một dòng nước, một nhành hoa, một làn mây trắng… Bên cạnh gã, cả một xóm lao
động rách rưới vang rầm lên những tiếng rên la, gầm rít. Những cái gì là trăng, là sao, là
thu vàng mờ mịt trong đầu gã.” Nhận ra hiện thực cuộc sống, người trí thức không thể
cất bút nói những chuyện mơ mộng hão huyền. Mặc dù viết về những trăn trở của
người trí thức nhưng Tô Hoài không đi sâu vào những bi kịch giống như Nam Cao.
Ông còn thắp lên niềm hi vọng trong họ. Ngày mai, gã sẽ tiếp tục viết một tác phẩm
văn chương nói lên hiện thực cuộc đời “Mai mình viết. Mai”. Nhân vật trí thức của Tô
Hoài cũng hiện ra là những con người đời thường. Đi tắm đêm kể về những chàng trai
nghịch ngợm tinh quái. Họ cũng tò mò, thú vị tình cờ được ngắm những cô gái đang
tắm dưới bến “những thành vai trăng nõn, tóc buông loà xoà trên mặt nước, gợn những
vòng vàng vì ánh trăng.” Họ cũng có cái bồn chồn thao thức trước vẻ đẹp đầy nữ tính
ấy. Suốt đêm, Căn thao thức không ngủ “Chúng nó đẹp như tiên sa”. Nhiều đêm trăng,
Căn đã rình mò những cô gái tắm. Bị các cô vạch mặt, Căn xấu hổ và tìm cách trả thù.
Anh đã cất hết quần áo của các cô và còn giả làm ma để các cô sợ phát khiếp. Từ đó,
các cô không còn dám chua ngoa như trước nữa. Rõ ràng, người trí thức trong truyện
ngắn của Tô Hoài không được lí tưởng hoá như là những con người mang trọng trách 20
lớn lao “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có.” Tác giả đề cập
đến con người đời thường của họ cũng tò mò, thích thú, giận hờn, ghen ghét, và cũng
trả thù vặt vãnh…
1.3.3. Nhân vật loài vật
Tô Hoài là một trong những nhà văn viết về loài vật thành công nhất. Hà Minh