Khóa luận tốt nghiệp “ Đặc điểm về nguồn gốc - ý nghĩa và giá trị phản ánh hiện thực của địa danh Quảng Ngãi “ - Pdf 12


Khóa luận tốt nghiệp

“ Đặc điểm về nguồn gốc - ý
nghĩa và giá trị phản ánh
hiện thực của địa danh
Quảng Ngãi “

MỤC LỤC
DẪN NHẬP 3
1. Lí do chọn đề tài 3
2. Lịch sử vấn đề 5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4. Mục đích nghiên cứu 7
5. Phương pháp nghiên cứu 7
6. Kết cấu của đề tài 8
CHƯƠNG I. NHỮNG TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 9
1.1. Những tiền đề lí luận 9
1.2. Những tiền đề thực tiễn 14
TIỂU KẾT 25
CHƯƠNG II. ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO ĐỊA DANH QUẢNG NGÃI 26
2.1. Phương thức định danh 26
2.1.1 Phương thức tự tạo 26
2.1.2 Phương thức chuyển hóa 34
2.2. Đặc điểm cấu tạo dịa danh Quảng Ngãi 39
2.2.1. Cấu tạo địa danh Quảng Ngãi 39
2.2.2. Vấn đề danh từ chung và thành tố chung trong địa danh Quảng Ngãi 42
TIỂU KẾT 46
CHƯƠNG III. Đặc điểm về mặt chuyển biến của địa danh Quảng Ngãi 48
3.1. Nguyên nhân tồn tại hay mất đi của một địa danh 48
3.1.1. Nhóm nguyên nhân xã hội 48

Thiên Ấn
Núi Thiên Ấn nằm ở tả ngạn sông Trà Khúc, cách Quốc lộ 1 không xa và
cận đường Quốc lộ 24B (Quán Cơm- Sa Kỳ) cách thị xã Quảng Ngãi 3,5km
về hướng đông bắc, thuộc thị trấn Sơn Tịnh, thường được người xưa xem là
« đệ nhất thắng cảnh » của tỉnh Quảng Ngãi.
Núi Thiên Ấn (hay còn gọi tắt là núi Ấn) cao 106m, dáng núi hình thang
cân, nhìn từ phía hữu ngạn sông Trà, tựa như chiếc ấn của trời cao niêm
xuống dòng sông. Vì vậy người xưa gọi đây là « Thiên Ấn niêm hà » (ấn trời
đóng trên sông) với niềm tin đây là một ngọn núi thiêng chi phối lịch sử và
con người Quảng Ngãi.
Long Đầu
Long Đầu hay Đầu Rồng là tên một ngọn núi nằm sát đường Thiên Lý
Bắc – Nam xưa kia và là Quốc lộ 1 ngày nay. Núi thuộc làng Phú Nhơn, nay
thuộc thị trấn Sơn Tịnh, huyện Sơn Tịnh, ở bờ bắc sông Trà, ngay tại đầu cầu
Trà Khúc. Thật ra ngọn núi này chỉ là đoạn cuối của một dãy núi thấp kéo dài
từ làng Tham Hội huyện Bình Sơn ở phía đông bắc chạy theo hướng tây nam,
đụng vào vực sông Trà Khúc. Hình núi chạy dài khuất khúc, chân núi choải
ra và đầy cây cối, làng mạc, lưng núi cong võng như mình rồng. Khi đến
sông Trà, núi đột ngột nhô cao như đầu rồng nên có tên gọi là Long Đầu
(Đầu Rồng). Đoạn sông Trà ở đây dòng chảy đào sâu thành vực, từ dưới chân
núi ngâm dưới vực sông, đất đỏ ngấm ra đỏ ối, nước sông vỗ vào các mõm
đá, cuộn réo khiến người xưa tưởng tượng là đầu rồng giỡn nước nên gọi là
Long Đầu hý thủy. Đất đỏ từ « đầu rồng » chảy ra đỏ ối được giải thích bằng
huyền thoại Cao Biền đến đây yểm « long mạch » và huyền thoại Vua Nam
Chiếu bên bờ sông Trà cũng gắn với địa danh này.
Sách Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử nhà Nguyễn biên soạn có đoạn
chép : « Núi Đầu Rồng », tức Long Đầu, cách huyện Bình Sơn 31 dặm về
phía nam, hình thế khuất khúc, sống núi từ núi Sâm Hội chạy về nam, đến
vực sông Trà Khúc thì dừng, hình như rồng thần hút nước, nên gọi tên thế.
Trên núi có miếu cổ thờ Long Vận tướng quân, sườn núi có ba đường đi đều

tung tăng, khoe sắc màu rực rỡ. Cũng theo lời truyền ngôn, những khi trời
nắng lâu, nghe tiếng cá quẫy đuôi, trời lại mưa.
Trước đây, suối Tuyền Tung, vực Bà là vùng núi rừng thâm u, cây cối rậm
rì, nhiều cây đại thụ to mấy người ôm không xuể. Dưới mặt đất ken dày chân
muông thú, trên cành cây vắt vẻo những tổ chim, người dân quanh vùng tin
rằng đây là chỗ riêng của Bà, thiêng liêng huyền bí nên chẳng mấy ai mon
men lui tới.
Ông Nghè
Cấm Ông Nghè thuộc địa phận thôn Năng Tây, xã Nghĩa Phương, huyện
Tư Nghĩa. Từ tỉnh lị đến cấm chừng 8km về phía Nam. Nhưng lấy mốc là cầu
Cây Bứa trên Quốc lộ 1 theo hướng tây đến cấm chỉ hơn một cây số. Cấm
rộng một mẫu bảy, có hình bầu dục, na ná như trái xoài. Giữa đồng trống
mênh mông nổi lên ngọn núi đá làm cho cấm đầy huyền bí.
Ông Nghè tên thật là Nguyễn Tộ, sinh năm 1888, mất năm 1966. Trước
đây cấm thuộc phần đất của ông, qua bao đời, núi được chăm sóc cẩn thận.
Nhà ông Nghè ở ngay chân núi cấm nên tên ông được người đời đặt cho vùng
đất ấy.
Chuyện xưa kể lại, trước đây đất đai của ông Nghè rộng vô kể. Ông tổ của
ông Nghè chính là vị Tiền hiền, vỡ hoang khai hóa, sáng lập nên vùng đất.
Trong quá trình khai khẩn, ông phát hiện thấy hòn núi lạ, cho là điềm lành,
bèn sai người dọn dẹp sạch sẽ, hương đèn kính cẩn. Tương truyền cấm Ông
Nghè rất thiêng. Vào những đêm trời quang mây tạnh, không khí trong lành,
hay có thần giáng hạ. Đó là một chùm sáng khi trắng, khi xanh, khi đỏ từ trên
cao nhằm cấm mà sà xuống. Người dân trong vùng bảo có điềm lành tiền báo
cho một mùa lúa bội thu. Những người chặt cây, săn thú, bẫy đá ở cấm trước
đây, về sau làm ăn không khá lên được, phần lớn số phận chìm nổi, nay đây
mai đó. Trước mặt cấm là tảng đá to bằng cái nhà. Trong cấm, ngay cổng ra
vào, có cái miếu rêu phong cổ kính, ngót trăm tuổi là miếu thờ bà Chúa
Ngọc. Sau miếu Bà, chệch bên phải là miếu Ông, nhỏ hơn và có năm tuổi ít
hơn thờ ông Mã Thái Giám. Lễ cúng được tổ chức định kỳ hàng năm vào

hình ảnh tiêu biểu của thiên nhiên nơi đây : lớp lớp núi đồi lởm chởm, sông
núi chia cắt vùng đất một cách bạo liệt. Nhìn núi Răng Cưa người ta thấy
ngay được đặc điểm của cả một vùng sông núi Trà Bồng.
4.2. Giá trị phản ánh hiện thực của địa danh Quảng Ngãi
Như đã nói ở trên, địa danh ngoài chức năng định danh, chức năng lưu trữ
ngôn ngữ thì còn một chức năng khác không kém phần quan trọng, đó là
phản ánh hiện thực. Địa danh ra đời dựa trên hiện thực cuộc sống, con người
dựa vào hiện thực khách quan để đặt tên cho địa danh và đến lượt mình, địa
danh quay trở lại phản ánh hiện thực cuộc sống với nhiều ngõ ngách, nhiều
cung bậc, nhiều chiều kích. Có thể dẫn ra đây những mảng hiện thực mà sự
phản ánh của địa danh là thể hiện rõ nhất :
4.2.1. Phản ánh lịch sử
4.2.1.1. Phản ánh quá trình di trú
Trong buổi bình minh của lịch sử, vùng đất Quảng Ngãi đã có con người
thời đại đá cũ sinh sống (di tích khảo cổ Giếng Tiền, LS). Trải qua thời kì
vương quốc Chămpa rồi đến các triều đại phong kiến Việt Nam, thành phần
dân cư vùng đất này có nhiều chuyển biến theo tiến trình của lịch sử dân tộc
và lịch sử địa phương.
Năm 1402, cuộc xung đột giữa hai chính quyền phong kiến Đại Việt và
Chămpa đã khiến cho vua Chămpa là Ba Đích Lại phải cắt nhượng đất Chiêm
Động và Cổ Lũy Động. Hồ Quý Ly vừa chiêu mộ vừa bắt buộc dân chúng ở
vùng đồng bằng Bắc Bộ, các xứ Thanh, Nghệ không có ruộng đất vào Chiêm
Động và Cổ Lũy Động khẩn hoang lập làng. Đối với người Việt, quê gốc rất
thiêng liêng nên có làng xã người ta lấy tên quê gốc đặt cho tên quê mới như
Vạn Phước (Phúc), An (Yên) Mô đều có gốc từ Bắc Bộ. Sau khi hình thành
thêm làng quê mới, người ta lại tiếp tục đặt tên làng đã có cho làng mới, chỉ
thêm hai chữ « Tân lập » (mới lập).
Dưới thời các chúa Nguyễn, có một số người Hoa từ các vùng Quảng
Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam (Trung Quốc) đến sinh sống ở Thu
Xà, các cửa biển Sa Cần, Sa Huỳnh và một số điểm ở trung du. Người Hoa

Tương truyền có hai thuyết : một thuyết nói là thành Đại La của nước Chiêm
Thành ; một thuyết nói là vệ thành của Tam ti đời Lê, chưa rõ thuyết nào
đúng ». Tuy nhiên, qua nhiều công trình nghiên cứu lịch sử và khảo cổ cho
thấy thành Châu Sa do Chiêm Thành xây dựng, đến cuối thế kỉ XV trở đi nhà
Lê mới phái tướng trấn đóng nơi này để bảo vệ thành và toàn bộ vùng đất
Châu Tư và Châu Nghĩa trong đạo Thừa tuyên Quảng Nam (hai châu này nay
thuộc tỉnh Quảng Ngãi).
Thành Châu Sa là một trong những thành Chămpa còn nguyên vẹn nhất
hiện nay của nước ta. Thành có vị trí quan trọng về quân sự và kinh tế trong
lịch sử người Chàm từ thế kỉ VIII- IX và trong lịch sử quốc gia Đại Việt từ
thế kỉ XV. Những bằng chứng khảo cổ học cho thấy sự tồn tại của thành
Châu Sa ở bắc sông Trà Khúc liên kết với phòng thành Cổ Lũy ở bờ nam
sông Trà đã chứng minh vùng châu thổ đồng bằng Quảng Ngãi có tầm quan
trọng về mặt quân sự và kinh tế trong châu Amaravati của vương quốc
Chămpa.
Thành Châu Sa là di tích lịch sử và kiến trúc khá quan trọng. Nó một mặt
khẳng định vùng đất Quảng Ngãi xưa là địa phận vương quốc Chămpa, sau
được nhà nước phong kiến Đại Việt đánh chiếm và nhập vào lãnh thổ Đại
Việt, mặt khác phế thành Châu Sa còn là chứng tích của những nét văn hóa
Chăm đã từng tồn tại nơi đây.
Theo dòng thời gian, địa danh như là tấm gương phản ánh lịch sử. Thế nên
bên cạnh vết tích về sự hình thành vùng đất thì địa danh Quảng Ngãi còn
phản ánh quá trình đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc. Nhắc đến
Quảng Ngãi là ta đang nhắc đến một vùng quê anh hùng, nơi đã sinh ra bao
nhân tài kiệt xuất, bao đấng anh hùng hào kiệt sẵn sàng dâng hiến cuộc đời
cho sự nghiệp đấu tranh vệ quốc vĩ đại như Trương Định, Nguyễn Bá Loan,
Lê Tựu Khiết, Phạm Văn Đồng, Trần Văn Trà
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, vùng quê Ấn – Trà
đã anh dũng chiến đấu chống giặc mà chiến công còn lưu lại khắp các vùng
miền trong tỉnh. Đó là Di tích Huyện đường Đức Phổ (ĐP), Di tích cuộc khởi

khác, không chỉ trong tỉnh mà còn thấy ảnh hưởng trong cả nước. Có thể kể
ra đây vài tấm gương tiêu biểu làm rạng danh vùng đất Quảng Ngãi mà tên
tuổi được lưu truyền mãi trong các tên đường, tên phường, xã, tên núi,… của
tỉnh như phường Nguyễn Nghiêm (QN, gọi theo tên chí sĩ yêu nước Nguyễn
Nghiêm), Núi Ông (QN, hay còn gọi là núi Trấn Công, núi Ông Trấn là gọi
theo tên của trấn công Bùi Tá Hán), Kênh Từ Ty (TN, gọi theo tên nhà cách
mạng Từ Ty), Đường Trương Định (QN, gọi theo tên chí sĩ yêu nước Trương
Định), Đường Phạm Văn Đồng (QN, gọi theo tên nhà cách mạng nổi tiếng
Phạm Văn Đồng)
4.2.2. Phản ánh địa lí tự nhiên
4.2.2.1. Phản ánh địa hình
Địa danh sinh ra ở môi trường nào sẽ phản ánh tính chất, đặc điểm của
môi trường ấy. Đối với loại địa danh chỉ địa hình thiên nhiên thì điều này
càng thể hiện rõ hơn cả. Trong quá trình khảo sát, chúng tôi tìm thấy được
348 địa danh chỉ địa hình thiên nhiên ở Quảng Ngãi. Chúng tôi tạm chia loại
này thành hai tiểu loại là loại chỉ địa hình cao và loại chỉ địa hình thấp.
Loại chỉ địa hình cao bao gồm các địa danh đứng sau các tiền từ như
hang, hòn, núi, đồi, gò, truông, thác Loại chỉ địa hình thấp bao gồm các địa
danh đứng sau các tiền từ như đầm, ao, hồ, vịnh, vũng, suối
Theo đó, địa danh chỉ địa hình thiên nhiên ở Quảng Ngãi cho ta thấy ở
vùng này, kiểu địa hình cao chiếm ưu thế và phân bố rộng rãi hơn so với kiểu
địa hình thấp. Hơn nữa, kiểu địa hình cao ở Quảng Ngãi còn quy tụ nhiều
cảnh đẹp, khu du lịch, khu nghỉ mát rất có tiềm năng cho phát triển dịch vụ
du lịch của tỉnh. Có thể kể ra đây một vài ví dụ tiêu biểu như bãi biển Mỹ
Khê (ST), núi Thiên Ấn (có chùa Thiên Ấn, ST), cửa biển Sa Cần (BS), bãi
biển Khe Hai (BS), bãi biển Sa Huỳnh (ĐP), thác Trắng (ML), thác Cà Đú
(TB)
4.2.2.2. Phản ánh thực vật
Địa danh Quảng Ngãi cũng phản ánh những loại cây cối hiện hữu trên
từng địa phương khác nhau với những cách thể hiện khác nhau. Việc định

Khi khảo sát địa danh Quảng Ngãi, chúng tôi còn tìm thấy một bộ phận
địa danh phản ánh nền kinh tế khá đa dạng của vùng này với đầy đủ nông-
lâm- ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp nặng.
Điều này cho thấy hoạt động kinh tế ở Quảng Ngãi, mặc dù chưa thể sánh kịp
với nhiều nơi khác trong nước nhưng cũng đã đi vào quỹ đạo và có nhiều
khởi điểm quan trọng, hứa hẹn sẽ phát triển vượt bậc trong tương lai.
Về nông- lâm- ngư nghiệp: cũng như nhiều địa phương khác trong nước,
người dân Quảng Ngãi xuất thân từ nghề trồng cây lúa nước nên các hoạt
động nông nghiệp diễn ra khá tự nhiên và phổ biến. Lâm nghiệp và ngư
nghiệp cũng có cơ hội phát triển vì vùng được thiên nhiên ưu đãi với nhiều
kiểu địa hình đa dạng, có núi rừng, có sông biển nên thuận lợi cho người dân
địa phương phát triển ba ngành kinh tế trọng điểm này. Chúng tôi khảo sát
được một số địa danh phản ánh các hoạt động kinh tế của vùng, tuy không
đầy đủ nhưng vẫn phần nào thể hiện được hoạt động kinh tế tiêu biểu của
người dân nơi đây, phần nhiều các địa danh kiểu này đã chuyển hóa thành địa
danh hành chính như thôn Cổ Lũy Làng Cá (TN), thôn Gỗ (TT), thôn Tre
(TT), hang Câu (LS, người dân hay câu cá ở đây), thôn Quế (TB, người dân
trồng và buôn bán quế), thôn Gò Gạo (SH), thôn Ruộng Gò (ML)
Về tiểu thủ công nghiệp: tuy không nhiều nhưng địa danh Quảng Ngãi
cũng phản ánh vài nét về các làng nghề thủ công phục vụ kinh tế của bà con
một số địa phương. Chẳng hạn như trường hợp thôn Chú Tượng (MĐ, làng
làm nghề đúc đồng), làng Diêm Điền (ST, làng có nghề truyền thống là làm
muối), làng Lò Thổi (BS, làng có nghề truyền thống là rèn) Ngoài ra, ở một
số vùng bãi bồi ven các sông lớn như Trà Khúc, Phước Giang, sông Vệ còn
có nghề trồng dâu nuôi tằm.
Về thương nghiệp: việc mua bán thông thương, trao đổi hàng hóa ở Quảng
Ngãi với các nơi khác diễn ra khá suông sẻ nhờ nơi đây tập trung nhiều cửa
biển rất thuận lợi cho thương nghiệp như cửa Sa Cần (BS, hay còn gọi là cửa
Sơn Trà, cửa Kẽm, cửa Thể Cần), cửa Sa Kỳ (ST-BS), cửa Đại Cổ Lũy (TN),
cửa Mỹ Á (ĐP, cũng gọi là Mỹ Ý), cửa Sa Huỳnh (ĐP, cũng gọi là Sa

ngợi các đặc sản của quê mình gắn liền với các địa danh nổi tiếng :
Chim mía Xuân Phổ
Cá bống Sông Trà
Kẹo gương Thu Xà
Mạch nha Mộ Đức
Như vậy, tồn tại như một minh chứng sống động của hiện thực, địa danh
phản ánh quá trình sinh sống, an cư lạc nghiệp của dân chúng, trong đó có
các hoạt động kinh tế là điều dễ hiểu. Qua đấy chúng tôi nhận thấy rằng, các
địa danh phản ánh kinh tế ở Quảng Ngãi tuy không nhiều nhưng về cơ bản
cũng đã giới thiệu được vài nét cơ bản về phương thức làm ăn sinh sống của
người dân nơi đây.
4.2.4. Phản ánh văn hóa
Khi một địa danh bất kì ra đời, con người có nhu cầu đặt tên cho nó với
mục đích để gọi tên và phân biệt với những đối tượng là địa danh khác. Địa
danh vì thế có giá trị phản ánh rất cao về đời sống văn hóa xã hội của con
người nơi mà nó sinh ra và tồn tại. Điều này thể hiện ở vài điểm sau :
4.2.4.1. Phản ánh tín ngưỡng, tôn giáo
a. Phản ánh tín ngưỡng
Như một đặc điểm chung của cả dân tộc, người dân Quảng Ngãi cũng
tôn sùng những đấng tôn kính thiêng liêng mà tín ngưỡng dân gian tin rằng
đã phù trợ cho họ có được cuộc sống an lành, hạnh phúc. Người dân tin
tưởng và gởi gắm lòng tôn sùng và ước nguyện của mình vào từng tên sông,
tên núi, tên bản làng để tỏ lòng ghi nhớ công ơn của các bậc hiển linh. Do
đó, địa danh Quảng Ngãi cũng phần nào phản ánh một góc đời sống tâm linh
này của người dân với các địa danh mang tên một trong « tứ linh » là Long,
Lân, Quy, Phụng. Kiểu này tập trung chủ yếu ở loại địa danh chỉ địa hình
thiên nhiên như : núi Long Phụng (MĐ), núi Kỳ Lân (NH), núi Phượng
Hoàng (BS), núi Long Đầu (ST)
Ngoài ra, ngư dân Quảng Ngãi còn có tục thờ cá Ông (cá voi). Cá
Ông hiền lành, có khi đỡ thuyền bị nạn, ngư dân tin đó là thần linh. Khi cá

hợp với nhau. Chúng có thể được cấu tạo theo những loại sau :
- Thuần Việt + Hán Việt : núi Quýt Lâm (MĐ), kênh Ông Cát (ST),
vùng Cửa Đông, vùng Cửa Tây, vùng Cửa Bắc (QN), sông Bàu Giang (QN),
vùng Giếng Vương (BS), núi Đá Sơn (TN)
- Hán Việt + thuần Việt : núi Long Đầu (ST)
- Chăm + Hán Việt : huyện Trà Bồng, suối Trà Cân (TB), sông Trà Câu
(ĐP), xã Trà Tân (TB), sông Trà Ích (TT)
- Ca Dong + thuần Việt : thôn Huy Em (S Tây), thôn Mang Rễ (S Tây)
Kiểu địa danh này trong hệ thống địa danh Quảng Ngãi không nhiều
nhưng nhìn chung vẫn đảm bảo được giá trị phản ánh mối quan hệ giao lưu,
tiếp biến văn hóa và ngôn ngữ giữa các tộc người trong tỉnh.
4.2.4.3. Phản ánh truyền thống hiếu học của người Quảng Ngãi
Không chỉ được biết đến là nơi sơn thủy hữu tình, nhiều cảnh trí thiên
nhiên tươi đẹp, Quảng Ngãi còn được mến mộ bởi là vùng đất đã sản sinh ra
những con người cần mẫn, siêng năng cả trong lao động lẫn trong học hành.
Truyền thống hiếu học của người Quảng Ngãi đã được khẳng định từ vài
trăm năm trước khi khoa bảng triều Nguyễn nhiều lần xướng tên các bậc tiến
sĩ, tú tài, cử nhân từ miền quê Ấn- Trà ra kinh đô dự thi và đỗ đạt cao. Sự
thành tài của các sĩ tử được người thời ấy lưu truyền trong câu ca rằng :
Tiếc công Bình Định xây thành
Để cho Quảng Ngãi vô giành thủ khoa
(Từ khoa thi Nhâm tý 1852 trở về sau, sĩ tử Quảng Ngãi thi tại trường
thi Bình Định thay cho trường Thừa Thiên)
Theo tác giả Cao Chư trong công trình Các nhà khoa bảng Nho học
Quảng Ngãi 1819- 1918, trong một trăm năm ấy triều đình tổ chức 42 khoa
thi hương với 139 người Quảng Ngãi đỗ cử nhân (so với 5.232 người cả
nước). Con số này tuy còn hạn chế song vẫn phản ánh được truyền thống hiếu
học của người Quảng Ngãi không thua kém những địa phương khác trong
nước. Trong đó, dòng họ có số người thi đỗ nhiều nhất có lẽ là họ Trương
gốc Mỹ Khê (nay thuộc xã Tịnh Khê, ST) với 6 người đỗ cử nhân trở lên :


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status