BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
TRẦN THỊ THU HƯƠNG
VẺ ĐẸP TÂY BẮC TRONG MỘT SỐ TUỲ BÚT
CỦA NGUYỄN TUÂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƠN LA, NĂM 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 05 năm 2013
Người thực hiện Trần Thị Thu Hương MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3.1. Đối tượng nghiên cứu 4
3.2. Phạm vi nghiên cứu 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5. Phương pháp nghiên cứu 4
thể loại, mỗi thể loại đều có những tác phẩm xuất sắc. Trong đó nổi bật hơn cả là
thể loại tùy bút, đây được coi là sở trường của Nguyễn Tuân. Những tác phẩm
sau cách mạng của ông đã được giới nghiên cứu phê bình quan tâm. Đã có rất
nhiều luồng ý kiến tranh luận trái ngược nhau xung quanh vấn đề Nguyễn Tuân.
Vì vậy, việc chúng ta tìm hiểu tiếp về tác gia Nguyễn Tuân vẫn là điều cần thiết.
1.2. Nguyễn Tuân, con người của chủ nghĩa xê dịch, ưa khám phá, thích
phưu lưu mạo hiểm…ông đã đi và viết về nhiều vùng đất khác nhau trên đất
nước Việt Nam, trong đó có Tây Bắc. Mảnh đất đầy nắng và gió này được coi là
quê hương thứ hai của Nguyễn Tuân, chiếm một vị trí quan trọng trong các sáng
tác của ông. Nơi đây lưu giữ những kỷ niệm đẹp trong trái tim nhà văn và là cái
mốc đánh dấu sự chuyển biến tư tưởng trong con người Nguyễn Tuân sau Cách
mạng tháng Tám. Cho nên việc tìm hiểu về thiên nhiên và con người Tây Bắc
qua cái nhìn của Nguyễn Tuân là một vấn đề cần được quan tâm.
1.3. Nguyễn Tuân là một trong số các tác gia lớn của nền văn học Việt
Nam và là một trong chín tác gia lớn được chọn dạy ở nhà trường phổ thông.
Thực tế cho thấy việc giảng dạy còn gặp nhiều khó khăn. Cho nên việc tìm hiểu
các tác phẩm để nắm bắt tư tưởng của Nguyễn Tuân là điều cần thiết đối với
người dạy và người học.
1.4. Nguyễn Tuân là nhà văn hiện đại mà tôi hằng yêu mến và ngưỡng
mộ. Ông có vốn hiểu biết sâu rộng cùng với chất tài hoa nghệ sĩ đã đem đến cho
tôi nhiều thú vị văn chương. Qua việc nghiên cứu vẻ đẹp Tây Bắc trong một số
tùy bút của Nguyễn Tuân giúp tôi hiểu hơn về con người nhà văn cũng như thêm
yêu quê hương Tây Bắc, yêu đất nước Việt Nam.
1.5. Thực hiện khóa luận này chúng tôi nhằm mục đích tập dượt nghiên
cứu khoa học, đồng thời có thêm kinh nghiệm và kỹ năng nghiên cứu về một
vấn đề khoa học và là bước tiến cho công tác giảng dạy sau này.
Trên đây là những lý do khiến tôi chọn đề tài: Vẻ đẹp Tây Bắc trong một
số tuỳ bút của Nguyễn Tuân để nghiên cứu. Hy vọng kết quả nghiên cứu sẽ là
nguồn tư liệu bổ ích góp phần hiểu thêm về tác giả Nguyễn Tuân, về vùng đất
Tây Bắc cũng như giúp cho công tác chuyên môn của các sinh viên khi ra
khỏe nhưng ông viết khá đều và bao giờ cũng có vị trí riêng”. Việc đi và viết
Tây Bắc của Nguyễn Tuân cũng được tác giả nhận xét khá chân thực: “Kể đi
không thôi thì còn nhiều người khác đi bạo hơn ông, nhưng đây là việc đi của
nhà văn, nó phải kèm vào việc viết. Sở dĩ Nguyễn Tuân viết được về Tây Bắc vì
ông biết nhìn ra ở đấy vẻ đẹp; ông xem Tây Bắc là một công trình nghệ thuật.
Ngay viết về đường, ông cũng lấy tiêu chuẩn một cái gì đang hình thành ra
xét…”. Để chúng ta thấy rằng việc đi và viết Tây Bắc của Nguyễn Tuân là cả
một thành công của người nghệ sĩ mà không phải ai cũng làm được. Cái đặc biệt
còn là sự khám phá ra vẻ đẹp tự nhiên và vẻ đẹp tiềm ẩn của thiên nhiên và con
3
người xứ Tây Bắc xa xôi, càng chứng tỏ tài năng cũng như sự cố gắng vượt trội
của Nguyễn Tuân.
2.2. Bàn về Nguyễn Tuân và thể tùy bút thì tác giả Hà Văn Đức có bài
viết in trong “50 năm văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám”, Nxb,
ĐHQG, HN, 1996. Với tiêu đề: “Tùy bút Nguyễn Tuân sau Cách mạng tháng
Tám” tác giả đã có những chia sẻ sâu sắc như: “Tùy bút Nguyễn Tuân hấp dẫn
người đọc trước hết bởi những trang viết chân thực với lượng thông tin phong
phú, đa dạng, chính xác… Đọc tùy bút Sông Đà, người đọc không chỉ được đắm
mình trong một cảnh sắc thiên nhiên vừa dữ dội, hoang sơ vừa trữ tình thơ
mộng mà còn có thêm nhiều hiểu biết lịch sử một vùng đất đầy đau thương,
đang chuyển mình đi lên với cuộc sống mới.” Ngoài ra tác giả còn nói về đặc
điểm thể tùy bút của Nguyễn Tuân “Tính chất đa nghĩa của những thiên tùy bút
Nguyễn Tuân cũng là một mặt mạnh trong phong cách nghệ thuật của ông. Đọc
tùy bút Nguyễn Tuân, người đọc phải nghiền ngẫm, suy nghĩ, phải có cùng một
tư duy nghệ thuật với nhà văn thì mới cảm nhận hết được cái hay cái đẹp của
nó. Nói một cách hình ảnh thì tùy bút Nguyễn Tuân giống như một khối ru bi,
mà nhìn ở mặt nào, khía cạnh nào người đọc cũng thấy sự tỏa sáng cả.”
2.3. Tác giả Lê Quang Trang cũng góp thêm vào công trình nghiên cứu về
Nguyễn Tuân với bài viết “Cảnh sắc và hương vị đất nước trong văn Nguyễn
sau cách mạng, gần đây càng ngày càng được chú ý nhiều hơn. Tuy nhiên chưa
có bài viết nào tập trung nghiên cứu sâu sắc về vẻ đẹp Tây Bắc trong một số tùy
bút của Nguyễn Tuân. Vì thực tế đó chúng tôi muốn đi sâu vào nghiên cứu vẻ
đẹp Tây Bắc trong một số tùy bút của Nguyễn Tuân để thấy được vẻ đẹp của
thiên nhiên, con người Việt Nam nói chung, của Tây Bắc nói riêng và góp phần
hiểu thêm về tài năng cùng sự chuyển biến tư tưởng của tác giả tài hoa này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về vẻ đẹp Tây Bắc trong một số tùy bút của Nguyễn Tuân.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Vẻ đẹp thiên nhiên và vẻ đẹp tâm hồn người dân Tây Bắc trong một số
tùy bút của Nguyễn Tuân.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ của khóa luận là thấy được vẻ đẹp của Tây Bắc trên hai
phương diện:
- Vẻ đẹp thiên nhiên Tây Bắc
- Vẻ đẹp tâm hồn người dân Tây Bắc
5. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận đã sử dụng các phương pháp cơ bản sau:
- Phương pháp phân tích: Đây là phương pháp được sử dụng thường
xuyên trong quá trình thực hiện khóa luận.
5
- Phương pháp thống kê: Đây là phương pháp quan trọng để tìm và liệt kê
những chi tiết miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên và con người Tây Bắc mà Nguyễn
Tuân đã thể hiện trong tác phẩm.
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp so sánh để hỗ trợ hai
phương pháp chủ đạo trên.
6. Những đóng góp của khóa luận
Khóa luận góp thêm một công trình nghiên cứu về Nguyễn Tuân nói
Nhà văn Nguyễn Tuân sinh ngày 10 tháng 7 năm 1910, tại Hà Nội (phố
hàng Bạc). Quê ông ở xã Nhân Mục, thôn Thượng Đình nay thuộc phường Nhân
Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ngoài bút hiệu là Nguyễn Tuân ông còn có
bút hiệu khác như: Nhất Lang, Ân Ngũ Tuyên, Thanh Hà, Tuấn Thừa Sắc, Ngột
Lôi Quật, Tuân…Thân sinh ông là cụ Nguyễn An Lan, tức ông Tú Hải Văn một
nhà nho tú tài hoa đậu khoa thi hán học cuối cùng, nhưng cũng là một nhà nho
bất đắc chí dưới chế độ thực dân phong kiến. Nguyễn Tuân tuy quê ở Hà Nội,
nhưng thời thanh thiếu niên đã cùng với gia đình sống nhiều ở các tỉnh miền
trung, Khánh Hòa, Phú Yên, Hội An, Đà Nẵng, Huế, Hà Tĩnh, nhất là Thanh Hóa.
Vì thế, Nguyễn Tuân am hiểu phong tục tập quán, thiên nhiên con người ở nhiều
vùng miền khác nhau. Năm 1927, ông cưới cô Vũ Thị Tuệ. Năm 1929, đang học
ở bậc thành chung ông tham gia một cuộc bãi khóa phản đối mấy giáo viên Pháp
nói xấu người Việt Nam và ông bị đuổi học. Sau này ông không theo học ở
trường nữa. Những kiến thức nhiều mặt của ông chủ yếu được thu thập từ sách vở
và từ chính cuộc sống sôi động, luôn đổi thay của ông. Không chịu được cuộc
sống ngột ngạt, bế tắc của người dân mất nước, ông cùng một số thanh niên có
đầu óc tự do lúc bấy giờ thực hiện một chuyến đi giang hồ bất chấp vòng pháp
luật của chế độ thuộc địa. Ông đã bị bắt tại Băng Cốc (Thái Lan) và bị giam tại
Hà Nội. Sau một thời gian ông bị giải về tù ở Thanh Hóa (1930).
Năm 1931 Nguyễn Tuân ra tù, ông làm thư ký tại nhà máy đèn và bắt đầu
cầm bút. Ông làm báo, viết văn. Sáng tác của ông được đăng trên các báo Trung
Bắc Tân Văn, Đông Tây, An Nam tạp chí, Tiểu Thuyết Thứ Bảy và sống hẳn
với ngòi bút từ 1937.
Ông nổi tiếng từ năm 1938, 1939 với “Một Chuyến Đi”, “Vang Bóng Một
Thời”… Ngoài văn học, Nguyễn Tuân còn say mê diễn kịch. Ông đã đóng vai
chính trong nhiều vở kịch diễn tại Hà Nội. Ông còn là một trong những diễn
viên điện ảnh đầu tiên của nước ta, đóng phim Cánh Đồng Ma ở Hồng Kông
trong vai y tá (1938).
Năm 1940 nhà Tân Dân in cuốn “Vang Bóng Một Thời” của Nguyễn
Tuân, và ngay năm 1941 Nguyễn Tuân đã bị bắt tại Hà Nội và bị giam tại trại
kỳ giặc Mỹ trực tiếp đánh phá miền Bắc, dùng B.52 ném bom Hà Nội, Nguyễn
Tuân lập tức có ngay tập tùy bút: “Hà Nội ta đánh Mỹ Gỏi”. Trong những năm
60 và 70, ông còn viết phê bình văn học. Ông viết về các tác giả trong nước và
ngoài nước, về các vấn đề văn học mà ông quan tâm và yêu thích.
Nguyễn Tuân hoạt động nghệ thuật trên nhiều phương diện: Viết truyện, viết ký,
phê bình văn học, dịch thuật, đóng phim, diễn kịch.
Ông là một trong những nhà văn tham gia tích cực vào hai cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ. Bằng ngòi bút tài hoa và tâm
8
huyết của mình ông đã góp phần không nhỏ vào việc ngợi ca đất nước và con
người Việt Nam trong chiến đấu, sản xuất và xây dựng.
Nguyễn Tuân mất ngày 28 tháng 7 năm 1987 tại Hà Nội.
1.1.2. Con người Nguyễn Tuân
Nguyễn Tuân là con người của chủ nghĩa “xê dịch”. Gia đình thay đổi
nhiều nơi ở như Thanh Hóa, Quảng Nam, Đà Nẵng, Huế, Phú Yên…điều này
ảnh hưởng không nhỏ đến tính xê dịch của Nguyễn Tuân “Tôi muốn mỗi ngày
trong cuộc sống của tôi phải cho tôi cái say sưa của rượu tối tân hôn. Mỗi một
ngày tới lại đem cho tôi một ngạc nhiên bắt trí tò mò làm việc. Khi nào người ta
không biết sửng sốt nữa thì chỉ còn có cách trở lại nguyên bản của mình là bụi
bặm”. Cha của Nguyễn Tuân là cụ Nguyễn An Lan một con người tài hoa “bất đắc
chí” cũng là người thích chu du đây đó nên “gen” này đã truyền sang cho Nguyễn
Tuân: tài hoa, tài tử, thích ngao du sơn thủy. Năm 1938 có đoàn làm phim “Cánh
Đồng Ma” ở Hồng Kông mời Nguyễn Tuân đóng vai phụ. Ông đã nhận lời. Có thể
đây là cách Nguyễn Tuân thay đổi thực đơn cho giác quan của mình.
Chủ nghĩa xê dịch đã ảnh hưởng đến tư tưởng, quan điểm thẩm mỹ, quan
điểm nghệ thuật của ông. Những nhân vật của ông là những: Nguyễn, Bạch…
lấy việc đi là niềm vui mặc dù đó là những chuyến đi không mục đích.
Nguyễn Tuân là người có nhân cách, giàu lòng tự trọng. Nguyễn Tuân
không vì bất cứ cái gì mà đánh đổi nhân cách của mình. Có giai thoại kể rằng trong
(1940), “Chiếc lư đồng mắt cua” (1941), “Đường vui” (1949), “Sông Đà” (1960),
“Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi” (1972) Nguyễn Tuân là người biết quý trọng thực sự
nghề nghiệp của mình. Trong cái vội vàng, cẩu thả của những tác phẩm xuất bản
gần đây, những tác phẩm đã hạ thấp văn chương xuống mực giá trị của một sự đua
đòi, người ta lấy làm sung sướng khi thấy một nhà văn kính trọng, yêu mến cái đẹp,
coi công việc sáng tạo là công việc quý báu, thiêng liêng. Ngay từ trước Cách mạng
tháng Tám, ông đã quan niệm nghề văn là một cái gì đối lập với tính vụ lợi kiểu
con buôn, và ở đâu có đồng tiền phàm tục thì ở đó không thể có cái đẹp. Đối với
ông nghệ thuật là một hình thái lao động nghiêm túc, thậm chí là “khổ hạnh”. Ông
đã lấy chính cuộc đời cầm bút của mình để chứng minh cho quan niệm ấy. Ông tha
thiết yêu tiếng Việt và luôn có ý thức làm giàu làm đẹp thêm cho Tiếng Việt. Văn
Nguyễn Tuân thường chắt lọc kỹ lưỡng, tuy đôi lúc có kênh kiệu, cầu kỳ nhưng
nhìn chung giàu chất thơ và giàu tạo hình, tạo cảnh, tạo không khí. Nguyễn Tuân
một bậc thầy về ngôn ngữ, là tấm gương về việc dùng từ đặt câu, lập ý. Ông sống
với từng hình ảnh khắc họa, từng câu văn, từng từ đặt trên trang giấy. Nguyễn Tuân
chính là một trong những cây đại thụ của rừng đầu nguồn văn chương Việt Nam
thế kỷ XX. Những trang văn của ông thự sự có sức ám ảnh lâu bền tới bạn đọc. Tác
giả Hoài Anh từng nhận xét: “Nguyễn Tuân là người nghệ sĩ ngôn từ đã đưa cái
đẹp thăng hoa đến độ hiếm thấy trong văn học Việt Nam” [14, 191].
1.2. Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân
Qua hơn nửa thế kỷ cầm bút, Nguyễn Tuân đã để lại một sự nghiệp văn học
khá đồ sộ và có giá trị với những trang viết độc đáo và tài hoa. Nhìn một cách tổng
quát thì sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân có thể chia làm hai giai đoạn:
10
Giai đoạn 1: Sáng tác trước Cách mạng tháng Tám
Giai đoạn 2: Sáng tác sau Cách mạng tháng Tám
1.2.1. Sáng tác trước Cánh mạng tháng Tám
Thơ: “Giang hồ hành”.
Truyện ngắn: “Vườn xuân lan tạ chủ” (1935), “Vang bóng một thời”
Nguyễn Tuân muốn rút lui vào cái tôi kiêu ngạo, nhưng mặt khác lại hăm hở đi
vào cuộc sống thực, khao khát đi tìm “thực phẩm” cho tâm hồn mình ở cuộc đời
rộng rãi và luôn biến động. Quan niệm của ông luôn ở hai thái cực khác nhau.
Những tính chất không nhất quán, không dứt khoát giữa hai mặt tích cực và tiêu
cực trong ý thức nghệ thuật của Nguyễn Tuân, ngay cả ở những thời kỳ bế tắc
nhất xét đến cùng là do cái giằng co giữa chủ nghĩa cá nhân và lòng yêu nước,
tinh thần dân tộc. Nó khiến cho ông quay lưng hẳn với hiện thực, muốn thoát ly
đấy nhưng không thật đành lòng, trong cái nhởn nhơ vô trách nhiệm, vẫn nhói
lên lòng tự thẹn. Ông đã có những phen đụng đầu với luật pháp đế quốc. Ông
không chấp nhận khuôn khổ của chế độ thuộc địa. Ông chưa có được cái chí khí
vẫy vùng chống phá gì đối với trật tự của xã hội thực dân, mới là khao khát tự
do, khao khát sự thỏa mái, khao khát được ngắm trời ngắm biển, được thưởng
thức cho đầy đủ thỏa thuê vẻ đẹp của quê hương đất nước mình, vậy mà cũng đã
hai lần bị tù đày.
Con người của chủ nghĩa hưởng lạc và chủ nghĩa xê dịch ấy thế mà bị
giam chân, nếm cơm tù đế quốc hàng năm trời từ nhà lao Hải Phòng, Hỏa Lò –
Hà Nội, nhà tù Thanh Hóa, nhà tù tập trung Vụ Bản, Nho Quan. Ta hiểu vì sao
người ấy cảm thấy day dứt, “thiếu quê hương” và trên đường xê dịch quẩn
quanh lẩn vào cái thú giang hồ lãng tử, vẫn không nguôi cái tâm sự u uất của
một con người cứ phải “thầm lén mà yêu mà ngợi ca đất nước muôn vẻ muôn
màu của mình” (Cầu Ma). Ta hiểu vì sao ông châm biếm kín đáo lũ phong kiến
tay sai. Điều đó được thể hiện qua các tác phẩm “Một vụ bắt rượu lậu”, “Bữa
rượu máu”, “Những ngày Thanh Hóa”…Tính phức tạp của quan điểm sáng tác
của Nguyễn Tuân còn thể hiện ở một mâu thuẫn khác cũng gắn liền với mâu
thuẫn nói trên. Đó chính là cái “tôi” của Nguyễn Tuân. Thực ra bản thân nhà văn
cũng có lúc tự nhận xét như thế: “Lòng kiêu căng của ta đã xui ta chỉ chơi có
một lối độc tấu” (Vô đề).
Trước Cách mạng tháng Tám, cái tôi của Nguyễn Tuân về căn bản là cái
tôi cá nhân chủ nghĩa đối lập với xã hội. Nguyễn Tuân tự vẽ mình như một con
người cô độc và kiêu ngạo: “Rồi tôi vênh váo đi giữa cuộc đời như một viễn
thấy niềm tự hào trên con đường hòa mình vào sự nghiệp chung của đất nước.
Nếu trước Cách mạng tháng Tám, chủ nghĩa cá nhân hưởng lạc đã lôi kéo
ông chạy theo xu hướng văn học tiêu cực suy đồi thì giờ đây dưới sự giáo dục
của Đảng và thực tiễn cách mạng, nhờ mối liên hệ ngày càng máu thịt hơn đối
với đời sống chiến đấu và sản xuất cuả nhân dân, Nguyễn Tuân đã vượt qua
được tình trạng “giằng co” nói trên một cách thanh thoát hơn, để trở thành môt
cây bút có sức sáng tạo dồi dào, thấm nhuần những tư tưởng cao đẹp của thời đại
mới. Nguyễn Tuân đến với cách mạng và kháng chiến hăng hái đi thực tế, dùng
ngòi bút để ca ngợi đất nước và con người Việt Nam trong chiến đấu và trong lao
động sản xuất. Nếu như nhân vật trung tâm trong tác phẩm trước cách mạng của
ông là những ông Nghè, ông Cử, ông Tú, những con người tài hoa bất đắc chí, thì
giờ đây hình tượng chính trong sáng tác của ông là nhân dân lao động và người
chiến sĩ trên mặt trận vũ trang, những con người bình thường mà vĩ đại.
13
Cuộc chuyển biến tư tưởng, thay đổi tư duy nghệ thuật và lý tưởng thẩm
mỹ của Nguyễn Tuân là cả một quá trình phức tạp và đầy gian khổ. Cái tôi kiêu
bạc và đơn độc của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám đã nhường cho
một nhà văn hoà nhập chân thành vào đời sống kháng chiến với những con
người giản dị để cất lên tiếng hát ngợi ca họ, ngợi ca cuộc sống mới.
Ngòi bút của Nguyễn Tuân như trẻ lại, hào hứng hơn, say mê hơn trên
những nẻo đường kháng chiến, náo nức với những xúc cảm mới, những vẻ đẹp
mới của cuộc đời, con người, cảnh vật “Tôi mải miết qua những đồi chi chít chè
và dó. Nương dó suốt mấy vùng Hạ Hòa thi nhau trổ hoa. Hoa dó trắng nở từng
chùm ngào ngạt bốc quyện hương thơm. Đường hoa vui ngát như thế này thì
bao giờ mới mỏi chân được, hỡi các bạn đường!” (Lại Ngược).
Ánh sáng của Đảng Cộng Sản đã soi sáng cho con đường văn chương mà
Nguyễn Tuân đang đi và ông đã có những quan điểm đúng đắn, hiện đại hơn,
phù hợp với bước nhảy của lịch sử.
Nguyễn Tuân đã chuyển mình, nhà văn – chiến sỹ cách mạng đã dùng
Đầu năm 1958, ông lên Tây Bắc sống với bộ đội, công nhân cầu đường,
thanh niên xung phong, đồng bào các dân tộc miền núi, đây là kết quả của một
quá trình gian khổ và “lột xác” lâu dài của Nguyễn Tuân. Kết quả của chuyến đi
này là tập Sông Đà gồm 14 bài tùy bút và 1 bài thơ “phác thảo” lần lượt được
sáng tác từ tháng 10 năm 1958 đến tháng 4 năm 1960, đăng rải rác ở các báo tạp
chí, rồi xuất bản thành sách tháng 7 năm 1960. Tác phẩm mang hơi thở của thời
đại đã hòa nhập cùng tâm hồn đầy nhiệt huyết cách mạng của nhà văn, đã tạo ra
những đứa con tinh thần mang cảm hứng ngợi ca con người mới, ngợi ca cuộc
sống mới cùng thiên nhiên trăm núi ngàn sông diễm lệ.
2.1. Vẻ đẹp thiên nhiên Tây Bắc
2.1.1. Cảnh sắc thiên nhiên miền Tây Bắc
Nguyễn Tuân vốn là một nghệ sĩ say mê cái đẹp. Tây Bắc, mảnh đất diệu
kỳ này lại có biết bao vẻ đẹp dễ làm say đắm lòng người. Tìm đến nơi đây,
Nguyễn Tuân như thỏa sức khám phá và ghi chép. Dõi theo bước chân người
nghệ sĩ tài hoa, chúng ta sẽ thấy từng đường nét của non sông Việt Nam được
thể hiện trên bức tranh ngôn từ đẹp như thế nào. Đó là bức tranh thiên nhiên vừa
hoang sơ, kỳ bí vừa gần gũi yêu thương. Từng ngọn núi, dòng sông, từng ngọn
gió nhành hoa… đều được Nguyễn Tuân miêu tả rất tỉ mỉ nhằm làm hiện lên vẻ
đẹp của miền Tây Bắc nói riêng và của tổ quốc Việt Nam nói chung.
Chúng ta đều biết rằng, trên dải đất cong cong mềm mại này có biết bao
nhiêu dòng sông cho tình nhân soi bóng, cho con người chiêm ngưỡng yêu
thương và suy tưởng cội nguồn, cho tuổi thơ trong trẻo, hồn nhiên mỗi khi ngâm
mình trong dòng nước. Trong đời, mỗi người ai cũng mốn chọn cho mình một
dòng sông để lưu giữ “vườn cổ tích tuổi thơ”, niềm tự hào quê hương, xứ sở,
niềm biết ơn đất mẹ bao dung. Tế Hanh đi xa mà lòng đau đáu “Nhớ con sông
quê hương” biếc xanh, có nước gương trong soi bóng “những hàng tre”; Nguyễn
Khắc Hiếu cung kính lấy tên sông đặt cho một nửa tên mình trong đời cầm bút.
15
Còn Nguyễn Khoa Điềm cảm khái: “Ôi, những dòng sông bắt nước từ đâu/ Mà
hòa, kỳ diệu ở thơ Tago. Sông Voonga, sông Đơnhíp êm đềm, mơ mộng rồi khắc
khổ trong văn của Mácxim Gôrơki, văn Sôlôkhốp… Mỗi con sông có một vẻ đẹp
riêng nhưng không con sông nào đặc biệt như con sông Đà của Nguyễn Tuân:
“Chúng thủy giai Đông tẩu – Đà giang độc bắc lưu”, tức là mọi con sông đều
chảy về hướng Đông chỉ có sông Đà chảy theo hướng Bắc.
16
Sông Đà có nguồn gốc rõ ràng: “Nó khai khai sinh ở huyện Cảnh Đông
tỉnh Vân Nam bên Trung Quốc lấy tên là Li Tiên, đi qua một vùng núi ác, rồi
đến gần nửa đường thì xin nhập quốc tịch Việt Nam trưởng thành mãi lên và
đến ngã ba Trung Hà thì chan hòa vào sông Hồng” [11, 76]. Nói về con sông
mà nghe như nói về con người: nào khai sinh, nào xin phép nhập quốc tịch, nào
trưởng thành Ngôn ngữ học cho rằng đó là nhân hóa, kì thực đó là nghệ thuật
nhân hóa, coi con sông có đời sống, có tính cách có cá tính rất độc đáo.
Ngoài các yếu tố địa lí, con sông còn có các yếu tố lịch sử. Thời xưa, nhà
Trần lấy sông Đà đặt tên trong 15 lộ cho cả nước. Đà Giang lộ. Chính vì vậy mà
“Truyền kì mạn lục” có truyện Đà Giang dạ ẩm thuộc bối cảnh đời Hồ cuối đời
Trần. Đà Giang lộ là vùng đất từ Hưng Hóa trở lên. Bây giờ ta gọi đó là vùng
Tây Bắc, từ Lai Châu xuôi về Hòa Bình, nối nhau bằng “sợi dây thừng” (chữ
của Nguyễn Tuân) khổng lồ là sông Đà, nếu nhìn từ máy bay xuống.
Sông Đà còn có yếu tố cách mạng. Con sông trước tiên là một nguồn
sống. Miếng nước, con cá, con đường biết đi, lưu vực phù xa, cơn gió mát mùa
hè, nơi tụ họp đầu tiên để lập nghiệp thành tộc này dân nọ là ven các bờ sông.
Nhiều nền văn minh bắt nguồn từ những dòng sông. Con sông là trời sinh,
nhưng con sông cũng do con người góp phần tạo nên bằng công sức mình. Lịch
sử dù biến thiên, sông Đà vẫn là của dân xứ Tây Bắc nước Việt. Nó dữ, nó hiền
là một chuyện, nhưng con người vẫn ăn ở đời đời kiếp kiếp với nó. Không nói
chuyện quá xưa, chỉ nhắc lại hồi Tây mới sang cướp nước ta, người dân xứ Thái
này đã cùng nhà yêu nước Cần Vương Nguyễn Quang Bích (tuần phủ Hưng
Hóa) chiến đấu đến cùng và trong thơ nhật kí hành quân của ông đã có bao
danh của nó là từ Chợ Bờ trở nên. Phải đúng ba trăm cái thác đá mới là sông Đà.
Để làm chứng cho lời nói của mình và thêm chút mắm muối cho đậm đà, chất
sống, người lái đò già bình thêm. “Chạy thuyền trên khúc sông không có thác,
nó đến dại tay dại chân và buồn ngủ” [11, 62]. Sông Đà đối với ông giống như
“một thiên anh hùng ca”.
Tạo được một trường anh hùng ca phải là cài gì dữ dội, nguy hiểm cao độ,
khắc phục được phải là thiên tài, tối thiểu là tài ba hiếm có. Phải kiên trì, có khi
liều xông vào chỗ chết để giành lấy sự sống và tất nhiên cuối cùng phải chiến
thắng vẻ vang.
Sông Đà quả là một môi trường như thế. Bản chất nó đã vậy, tài ba của
nhà văn càng làm cho bản chất ấy sắc nhọn thêm, dữ dội, nguy hiểm thêm bội
phần. Cây cối, cỏ hoa hai bên bờ, ánh sáng trời trăng, nhà cửa, làng bản ven
sông là nằm trong cảnh quan của sông những cái đó thường hiền hòa, tươi đẹp,
ấm vui. Nhưng trước hết, ta nói đến những nét đặc trưng nhất của sông Đà.
Cát là thứ bình thường nhất. Cát trên sông có hại chăng là khi nó nổi lên
thành gò làm thuyền bị mắc cạn. Có mấy ai nghĩ rằng thứ hạt nham nhám ấy của
sông Đà làm loét cả da, còn lội nước thì nó đục thủng gan bàn chân lỗ rỗ như
những vệt hà đục thủng đáy và mạn dưới các thuyền ghỗ. Thế là cát dữ.
Bờ cũng chẳng hiền. Có nơi nó dựng vách thành “mặt sông chỗ ấy chỉ lúc
đúng ngọ mới có mặt trời. Có vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết
hầu. Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách. Có quãng con hổ
18
đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia. Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy đang
mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng
vọng lên một khung cửa sổ nào từ cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn
điện” [11, 69]. Lời văn ở đoạn này dùng những chi tiết chính xác, khoa học xen
lẫn nhận thức của cảm quan tác giả tạo nên cảnh sông Đà khi thì dữ dội, nguy
hiểm trong cái hùng vĩ không ngờ, khi thì pha chút hóm hỉnh ngầm chứa trong
những nét rất hiện thực như “con nai con hổ vọt từ bờ này sang bờ kia” tưởng
19
cũng hình dung ra sự đáng sợ hung dữ của sông Đà như thế nào rồi. Nhưng
vẫn chưa dừng ở đó Nguyễn Tuân còn miêu tả những chi tiết vừa đáng sợ vừa
buồn cười. “những bè gỗ rừng đi nghênh ngang vô ý là bị những cái giếng hút ấy
nó lôi tuột xuống” [11, 69 – 70]. Nếu có chiếc thuyền nào mà đi lạc vào đó thì
“thuyền giồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị chìm và đi ngầm dưới lòng
sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới” [11, 69 – 70].
Nghe sông Đà mà mường tượng hơi văn bài “Thục đạo nan” của Lí Bạch:
“Núi trùng điệp cách trời không đầy gang tấc
Thông khô treo ngược trên vách đá cheo leo
Suối bay thác đổ tiếng ầm ầm xen nhau
Đá chuyển đập sườn non như sấm đổ muôn vàn hang hốc”
Thiên nhiên chuyển động hùng vĩ dữ dội vô cùng. Cái đáng sợ nhất của
sông Đà chưa phải là những cái đó mà là đá và thác. Thác và đá bày thạch trận,
hay nói đúng hơn, thạch thủy trận. Nguyễn Tuân dụng ý trình bày một chiến trận
như kiểu Bát Trận Đồ của Khổng Minh theo binh pháp Tôn Ngô, mà Khổng
Minh sáng tạo lại cố nhiên có pha chút hiện đại. Không có Long Xà Trận nhưng
có Thạch Trận. Thạch Trận cũng đủ cửa tử, cửa sinh. Không đủ Bát Trận nhưng
có trận trước, trận sau, trận trên, trận dưới, nhiều lớp nhiều tuyến có tiên phong,
có dự bị… Không có tướng trấn cửa, những Ngụy Diên, Mã Siêu, Quang Hưng,
Trương Bào nhưng cón những tướng đá, quân nước. Đá thì “ngàn năm vẫn mai
phục hết lòng sông… có chiếc thuyền nào xuất hiện… là một số hòn bèn nhổm
cả dậy để vồ lấy… Mặt hòn nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào trông cũng
nhăn nhúm, méo mó” [11, 71]. Tưởng chừng như chúng nằm ngồi rải rác, tùy
tiện, nhưng không phải. “Hình như sông giao việc cho mỗi hòn, sông bày
Thạch Trận” [11, 71]. Đá được phân công hẳn hoi, chia làm ba hàng chặn
ngang trên sông. “Hàng tiền vệ, có hai hòn canh một của đá trông như là sơ
hở, nhưng chính hai đứa giữ vai trò dụ cái thuyền đối phương đi vào sâu nữa,
vào tận tuyến giữa rồi nước, sóng luồng mới đánh khuýp quật vu hồi hồi lại”
không trúng tim luồng thì vẫn có thể là thập tử nhất sinh như thường. Ở những
chỗ khác, “nước có thể đội thuyền lên, bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng
lái đò đòi lật ngửa ông lái đò cho phơi bụng giữa trận nước vang trời thanh la
não bạt” [11, 72]. Nước đã thành võ sĩ thực thụ. Nó “đánh đến miếng đòn hiểm
độc nhất: bó chặt hạ bộ người lái đò…” [11, 72]. Bây giờ thì nó là con ngựa bất
kham đang “tế mạnh trên sông đá”. Ông lái “nắm chặt lấy được cái bờm sóng…
ghì cương lái… phóng nhanh vào cửa sinh” [11, 72]. Nước đành chịu thua
nhưng đến chỗ cái hút nó rình sẵn, thuyền nào lơ mơ là nó rút luôn tận đáy,
không kịp ngáp. Chẳng khác gì dân gian đồn Hà Bá lên lấy gỗ.
Sông Đà giữ quả không sai với tiếng đồn. Cát giữ, bờ giữ, gió giữ, hút nước
giữ, tập trung cái giữ là những Thạch Trận, đá nước hòa bẫy người vào chỗ chết.
Tác giả đã dùng ngòi bút trăm màu và cặp mắt thiên lý nhãn của mình để
có hàng loạt những hình ảnh khác nhau nhưng luôn luôn đắc sách, vừa có tính trí
tuệ vừa có tính tạo hình, vượt lên trên thủ pháp gọi là nhân hóa mà đi vào bản
chất sâu xa nhất, độc đáo nhất của sự vật, thành những trang viết biến hóa khôn
lường. Đá dưới sông mà như là dân quân phục kích, là bộ đội giăng hàng bày