ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐINH THỊ THANH HẢI
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT
TRONG SÁNG TÁC CỦA TÔ HOÀI
THỜI KÌ TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đào Thuỷ Nguyên
Thái Nguyên - 2013
iiLỜI CẢM ƠN Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Ngữ văn
trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, cùng toàn thể các thầy cô giáo đã tham gia
giảng dạy và hướng dẫn nghiên cứu khoa học cho tập thể lớp Cao học K19 - Văn
học Việt Nam; Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh; Ban Giám hiệu và tập thể giáo
viên trường THPT Đông Triều huyện Đông Triều đã tạo điều kiện để tôi có cơ hội
học tập và nghiên cứu khoa học.
Xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Đào Thủy Nguyên
- người thầy, người mẹ tận tình trong công việc đã truyền thụ cho tôi nhiều kiến
thức quý báu cũng như kinh nghiệm nghiên cứu khoa học trong suốt quá trình học
tập và nghiên cứu đề tài.
Thái Nguyên, ngày 12 tháng 04 năm 2013
Tác giả Đinh Thị Thanh Hải
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
2.2. Không gian nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài thời kì trước Cách mạng tháng
Tám 54
2.2.1. Không gian bối cảnh thiên nhiên 54
2.2.1.1. Không gian thiên nhiên trong sáng, thơ mộng 54
2.2.1.2. Không gian thiên nhiên tăm tối, lạnh lẽo và dữ dội 59
2.2.2. Không gian bối cảnh xã hội 64
2.2.2.1. Không gian xã hội nhộn nhịp, vui tươi, đầy sinh khí 64
2.2.2.2. Không gian xã hội u ám, buồn bã, tan tác, chia lìa 71
Chương 3: THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA TÔ HOÀI
THỜI KÌ TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 86
3.1. Khái niệm và phân loại thời gian nghệ thuật 86
3.1.1. Khái niệm thời gian nghệ thuật 86
3.1.2. Phân loại thời gian nghệ thuật 87
3.2. Thời gian nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài thời kì trước Cách mạng tháng
Tám 88
3.2.1. Thời gian sự kiện 88
3.2.1.1. Thời gian sự kiện lịch sử 88
3.2.1.2. Thời gian sự kiện đời tư 96
3.2.2. Thời gian nhân vật 101
3.2.2.1. Thời gian nhân vật được hưởng niềm vui, hạnh phúc 101
3.2.2.2. Thời gian nhân vật chịu nhiều cơ cực, lầm than 107
3.2.2.3. Thời gian nhân vật phiêu lưu, trải nghiệm 115
KẾT LUẬN 121
TÀI LIỆU THAM KHẢO 124
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
2
1.3. Tô Hoài là một trong những tác gia lớn được giảng dạy ở trường đại học,
đồng thời hai tác phẩm đặc sắc của ông được chọn giảng ở trường phổ thông là Dế
mèn phiêu lưu ký và Vợ chồng A Phủ. Vì vậy đề tài được hoàn thành sẽ là tài liệu
tham khảo thiết thực cho việc dạy và học tác giả và tác phẩm Tô Hoài ở các cấp học.
2. Lịch sử vấn đề
Tô Hoài bước chân vào con đường văn học khá sớm. Ông cầm bút và nổi
danh từ trước Cách mạng tháng Tám 1945. Đến nay, Tô Hoài vẫn là nhà văn viết
đều, viết nhiều, dẻo dai, sung sức ở nhiều thể loại. Sáng tác của ông đã được giới
nghiên cứu phê bình chú ý ngay từ những ngày đầu ông tham gia làng viết. Bởi
những sáng tác đó luôn mang đến cho bạn đọc những phát hiện mới mẻ về nhiều
vấn đề của đời sống và văn học nghệ thuật. Trong đó, thế giới nghệ thuật là một
phương diện thẩm mĩ nghệ thuật có nhiều ý nghĩa trong sáng tác của Tô Hoài thời
kỳ trước Cách mạng tháng Tám. Một số nhà nghiên cứu văn học đã dành nhiều thời
gian, tâm huyết để tìm hiểu về ông và có đề cập đến vấn đề này.
2.1. Về thế giới nhân vật trong sáng tác của Tô Hoài
Tô Hoài đến với nghề văn thật ngẫu nhiên và dường như đó cũng là cái
duyên của ông. Ông được người đọc biết sớm qua những truyện ngắn, truyện dài
viết về người dân quê và về loài vật. Trong bài giới thiệu Tô Hoài – Nguyễn Sen,
nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan chủ yếu đưa độc giả tiếp cận với Tô Hoài trên
phương diện tác phẩm. Ông phê bình, giới thiệu về hai tác phẩm: Quê người (tiểu
thuyết) và tập truyện ngắn O Chuột, trên cơ sở đó đưa ra nhận xét về quan niệm và
phong cách sáng tác của Tô Hoài. Đề cập đến thế giới nhân vật và phong cách sáng
tác của Tô Hoài, Vũ Ngọc Phan viết:“Cái tính chất xã hội trong tiểu thuyết của Tô
Hoài hơi thiên về một mặt là trong hầu hết các truyện dài của ông, ông đều tả hạng
dân nghèo nàn, mà hạng người này cũng chỉ là những người ở một miền, một vùng-
vùng Nghĩa Đô, quê hương tác giả”[20,53]. Ông chỉ ra rằng, Tô Hoài tỏ ra là một
nhà tiểu thuyết có con mắt quan sát sâu sắc, đã nhận xét rất kỹ, tỉ mỉ những tính
tình, thói tục và cách sống của người dân quê vùng Bưởi. Đồng thời nhà nghiên cứu
chưng, giã bánh giày, nấu cơm thi. Ông dùng sức tưởng tượng để tạo dựng lại
những khung cảnh hội hè đông vui, ông đi sâu vào từng nghề nghiệp của người lao
động trên đồng ruộng, trên sông nước”[19,128]. Đồng thời, nhà nghiên cứu cũng
chỉ ra nét riêng trong cách thức xây dựng nhân vật của Tô Hoài:“Tô Hoài đã miêu
tả những nhân vật của mình với tình cảm trân trọng, mến yêu. Không có khoảnh
cách giữa tác giả và nhân vật. Ông không nhìn ngắm họ với cặp mắt dò la, tìm hiểu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
Ông không quan sát họ với sự chăm chú, lạ lùng. Ông đến với họ như những người
bạn chân tình”[19,125]. Chính nhờ sự gần gũi, chân tình này mà các nhân vật hiện
lên trên trang sách của Tô Hoài trở nên chân thực như những con người trong đời
thực.“Thế giới nhân vật của Tô Hoài vốn là những kiểu người bình dị, gần gũi
trong cuộc sống hằng ngày của những vùng quê. Họ quay tơ, dệt lụa, chạy chợ… để
kiếm sống. Gặp buổi thuận thời làng quê vang lên đều đặn tiếng thoi dệt cửi đến
canh khuya, phiên chợ đông vui kẻ mua người bán, hội làng nhộn nhịp trong những
ngày xuân, trai gái hẹn hò lứa đôi…Những trang sách vui chắc chắn là không
nhiều. Cuộc đời cũ dần dần đẩy những người lao động đến chỗ cùng đường, kiệt
sức để rồi phải lang thang biến chất hoặc tan tác chia lìa”[19,115].
GS.Nguyễn Đăng Mạnh trong Bài khảo luận tổng hợp văn học nhận thấy:
“Tô Hoài hay viết về những bà mẹ nghèo suốt đời khó nhọc mà chẳng bao giờ
gặp điều may mắn. Hình ảnh bà cụ Vối trong tác phẩm Mẹ già có cái gì quá tội
nghiệp, gây cảm giác nặng nề cho người đọc. Hình ảnh người mẹ trong U Tám
đạt hơn. Thông qua cái nhìn hồn nhiên của một đứa trẻ trong truyện, U Tám hiện
lên thật thà, chất phác, bình dị đến thô kệch, nhưng tâm hồn thật trong trẻo, đẹp
đẽ biết bao”[37,50]. Hình ảnh của những u Tám hay mẹ già trong truyện ngắn của
Tô Hoài dường như là hình ảnh người mẹ lam lũ, tần tảo và chịu nhiều bất hạnh
của chính tác giả.
Viết về làng quê, Tô Hoài còn chú ý tới một đối tượng nhân vật đặc biệt. Đó
sự soi chiếu, cộng hưởng lẫn nhau. Mượn cuộc sống của thế giới loài vật, Tô Hoài
muốn nói đến cuộc sống của xã hội loài người. Đó là nét đặc biệt và khác biệt của
Tô Hoài so với các nhà văn cùng thời.
2.2. Về không gian nghệ thuật
- Không gian bối cảnh thiên nhiên
“Thiên nhiên đóng một vai trò quan trọng trong tác phẩm của Tô Hoài”
(Vân Thanh). Phản ánh và tạo dựng bức tranh ca ngợi cảnh đẹp của đất nước chính
là nhà văn đã bộc lộ tình yêu quê hương đất nước của mình. Tô Hoài “đặc biệt
thành công khi ghi lại hình ảnh thiên nhiên bao la tươi đẹp của đất nước”[19,102].
Điều đó khẳng định, ở Tô Hoài tình yêu thôn quê là nguồn cảm hứng bất tận giúp
ông thành công khi viết về phong cảnh thiên nhiên. Nhiều nhà nghiên cứu đã phát
hiện ra điều này ở ông. Tiêu biểu là GS.Hà Minh Đức, người am hiểu sâu sắc văn
Tô Hoài đã nhận định rằng: “Tô Hoài giỏi miêu tả thiên nhiên. Thiên nhiên trong
tác phẩm của ông gồm nhiều màu vẻ từ những cảnh thơ mộng gợi cảm đến một
thiên nhiên khắc nghiệt, hung dữ. Tô Hoài miêu tả thiên nhiên theo một cách nhìn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
ngắm tự nhiên, nhẹ nhàng. Không có dấu vết ngăn cách giữa khung cảnh thiên
nhiên và bức tranh xã hội (…). Trong tác phẩm của ông, thiên nhiên luôn có mặt và
dường như là một nhân vật có cuộc sống, có tâm hồn”[19,138]. Nhà nghiên cứu đã
chỉ ra biệt tài của Tô Hoài là viết về thiên nhiên. Từ đó, tiếp tục khẳng định trong
sáng tác của ông, thiên nhiên vừa mang vẻ đẹp khách quan tồn tại với nhiều màu vẻ
như nó vốn có nhưng cũng có lúc lại hiện diện như một nhân vật trong tác phẩm,
“có cuộc sống” và “có tâm hồn”.
TS.Mai Thị Nhung nhận xét: “Thiên nhiên trong cảm quan của Tô Hoài
mang đậm hình ảnh bình dị, khách quan: có ánh sáng và bóng tối, có mặt trời và
mặt trăng, có nắng và mưa, có cỏ cây hoa lá chim muông như trong cuộc sống thực.
Mỗi bức tranh thiên nhiên trên từng trang sách của ông lại gần gũi, gắn bó, theo
người thợ dệt. Anh viết về quê hương của mình như chính anh viết về cuộc đời của
anh”[19,109]. Nhà thơ cảm nhận được tình yêu tha thiết của Tô Hoài với thôn quê.
Tình yêu đó giúp nhà văn đưa vào trong trang sách của mình hình ảnh làng quê thân
thương như là một cuốn “tự truyện” về bản thân.
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu khi tìm hiểu sáng tác của Tô Hoài thời kỳ
trước Cách mạng đều nhấn mạnh: Một trong những “vùng thẩm mĩ nghệ thuật”
đặc sắc của ông là làng – Nghĩa Đô, một làng nghề nằm bên dòng sông Tô Lịch và
nổi tiếng với nghề dệt lụa truyền thống:“Tô Hoài viết về quê ngoại của mình –
làng Nghĩa Đô và các khu vực lân cận như Bưởi, Trích Sài, Thụy Khuê, Võng
Thị… Những đường thôn ngõ xóm, những căn nhà đơn sơ luôn vẳng ra tiếng
khung cửi lách cách, những“ tàu seo” róc rách nước đến khuya…”[19,145].
Một số nhà nghiên cứu đã phát hiện ra nhãn quan phong tục đậm đặc chi
phối ngòi bút của Tô Hoài: PGS.Nguyễn Văn Long: “Ở Tô Hoài, cảm quan hiện
thực nghiêng về phía sinh hoạt phong tục”[19,238]. Và thế giới nhân vật trong sáng
tác của ông cũng rất đa dạng gắn liền với những nét sinh hoạt phong tục cổ xưa như
trong lời nhấn mạnh của GS.Hà Minh Đức: “Làng quê trong sáng tác của Tô Hoài
còn hiện lên với nhiều màu vẻ, nhiều kiểu người sinh động và những phong tục tập
quán từ lâu đời”[19,136]. Bởi vậy: “Dưới ngòi bút của ông, nhiều phong tục tập
quán, nhiều tính cách nhân vật được miêu tả chân thực, sắc sảo”[19,136].
Khác với một số nhà văn Việt Nam thường thể hiện hình tượng con người
Việt Nam trong những biến cố lớn lao, phi thường, Tô Hoài lại bám sát đời sống
bằng cách thể hiện con người với những hành động bình thường nhất và trong
những hoàn cảnh đời thường bằng cái nhìn khách quan, chân thực. Đó là cuộc sống
“nghèo nàn”, đói khổ của người nông dân trước Cách mạng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
GS.Hà Minh Đức nhận ra rằng: “Làng quê của Tô Hoài hiện lên trang sách
với những nét vẽ chân thực, nhẹ nhàng mà thấm thía, xót xa”[19,36]. Nhà nghiên
9
vui tươi và đượm buồn; hạnh phúc và bất hạnh như cuộc đời thực. Nhưng gam màu
trầm buồn có phần đậm hơn do ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử mang lại.
2.3. Về thời gian nghệ thuật
Qua thống kê, khảo sát chúng tôi thấy có một số nhận định sau đây của các nhà
nghiên cứu về vấn đề thời gian nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài:
GS.Hà Minh Đức đã khẳng định ngòi bút linh hoạt của ông trong việc tái
hiện thời gian nghệ thuật:“Truyện Tô Hoài quan tâm đến nhịp sống quen thuộc của
đời thường, ở đây có niềm vui, nỗi buồn, có những điều may mắn và những số phận
hẩm hiu”[19,116]. Không chỉ linh hoạt, ngòi bút của nhà văn còn “quan tâm tới
những mảnh nhỏ, mảnh vụn của từng gia đình, những cảnh đời nằm trong mạch
máu chung của cuộc sống”. “Ông không quá tập trung vào những xung đột xã hội ở
điểm nóng, ở phút căng thẳng nhất mà quên đi trăm ngàn mạch đời lan tỏa trong
cuộc sống”[19,120]. Ông “muốn chú ý đến sự vận động của cuộc đời với những
đường nét quen thuộc ở những quy luật phổ biến, điều mà ông đã từng ghi nhận và
miêu tả”[19,127]. Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn khẳng định “cái tạng” của Tô
Hoài là “viết về cái mạch ẩn chìm kia hơn và lặng lẽ làm cuộc phiêu lưu đơn
độc”[19,180].
Nhà phê bình Trần Hữu Tá phát hiện ra đặc điểm riêng của Tô Hoài khi miêu
tả thời gian sự kiện lịch sử và thời gian tâm lý nhân vật:“Không đề cập đến những
mâu thuẫn giai cấp sục sôi, quyết liệt, không tả những nhân vật độc đáo phi thường.
Tô Hoài viết về những chuyện đời thường với những con người thật bình thường,
tâm hồn giản dị, không có ước muốn cao xa, khát vọng mãnh liệt. Họ yêu cuộc sống
bình dị và muốn sống mãi trong cảnh ấy. Quả thực họ cũng đã được nếm trải trong
một số ngày ngắn ngủi vị ngọt ngào của hạnh phúc đơn sơ: được làm việc, được
yêu nhau. Tình yêu của họ thoảng hương thơm của hoa ngọc lan và lấp lánh ánh
trăng khuya”[19,146]. Đồng ý kiến với nhà nghiên cứu Trần Hữu Tá, GS.Phong Lê
nhận định:“Không lên giọng. Không nhấn mạnh. Thậm chí không muốn có bất kì sự
chọn đề tài:“Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài thời kì trước
Cách mạng tháng Tám”. Và những ý kiến ý kiến trên của các nhà nghiên cứu
đi trước sẽ là những gợi ý thiết thực cho chúng tôi khi thực hiện đề tài này.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu vấn đề “Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài
thời kì trước Cách mạng tháng Tám”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
- Phạm vi tài liệu nghiên cứu của đề tài là: Các sáng tác của Tô Hoài thời kì
trước Cách mạng tháng Tám.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài:“Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài thời kì
trước Cách mạng tháng Tám” chúng tôi xác định những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những nét đặc sắc của “Thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Tô
Hoài thời kì trước Cách mạng tháng Tám” ở các phương diện cơ bản: thế giới
nhân vật, không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật. Từ đó, có cái nhìn đầy đủ
hơn về các sáng tác của nhà văn.
- Góp phần làm rõ nét hơn phong cách nghệ thuật của Tô Hoài và khẳng
định vị trí của nhà văn trong nền văn học Việt Nam hiện đại.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát, thống kê
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp liên ngành
6. Đóng góp của đề tài
- Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên có tính chất chuyên biệt về vấn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
NỘI DUNG
Chương 1
THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG SÁNG TÁC
CỦA TÔ HOÀI THỜI KÌ TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
1.1. Khái niệm thế giới nghệ thuật
Thế giới nghệ thuật là thiên nhiên thứ hai do người nghệ sĩ sáng tạo ra. Một
mặt nó phản ánh hiện thực, mặt khác nó biểu hiện những khát vọng chân, thiện, mĩ
của chủ thể sáng tạo.
Ở “Liên Xô cũ” vào những năm 70 đã có một số công trình nghiên cứu theo
hướng này như công trình: Thế giới nghệ thuật của M.Gorki, Thế giới nghệ thuật
của Sôlôkhốp…Ở Việt Nam, khái niệm này được nhắc đến vào những năm 80
nhưng cách hiểu của các tác giả chưa hoàn toàn cụ thể về nội hàm khái niệm của nó.
Năm 1985, trong luận án Tiến sĩ khoa học: Sự hình thành và những vấn đề
của chủ nghĩa hiện thực xã hội trong VHVN hiện đại, tác giả Nguyễn Nghĩa
Trọng đã xác định hàm nghĩa khái niệm thế giới nghệ thuật như sau:“Thế giới nghệ
thuật là một phạm trù mĩ học bao gồm tất cả các yếu tố của quá trình sáng tạo nghệ
thuật và tất cả kết quả của quá trình hoạt động nghệ thuật của nhà văn. Nó là một
chỉnh thể nghệ thuật và một giá trị thẩm mĩ. Thế giới nghệ thuật bao gồm hiện thực
- đối tượng khách quan của nhận thức nghệ thuật, cá tính sáng tạo của nhà văn hay
Dựa vào các khái niệm thế giới nghệ thuật nêu trên chúng tôi sẽ đi sâu
nghiên cứu thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài thời kì trước Cách mạng
tháng Tám ở các phương diện sau: Thế giới nhân vật (thế giới nhân vật và thế giới
loài vật), không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật.
1.2. Tô Hoài và hành trình 70 năm viết
1.2.1. Vài nét về tiểu sử và con người nhà văn Tô Hoài
* Về tiểu sử
Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen, sinh ngày 27/9/1920 (tức 16/8 âm lịch năm
Canh Thân) tại một làng quê nghèo bên dòng sông Tô Lịch: Làng Nghĩa Đô, Phủ
Hoài Đức (tỉnh Hà Đông cũ) nay là phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Bút
danh Tô Hoài gắn với hai địa danh: sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức. Ngoài ra, ông
còn có một số bút danh như: Mắt Biển, Mai Trang, Duy Phương, Hồng Hoa.
Xuất thân trong một gia đình nghèo với nghề dệt lĩnh truyền thống, từ nhỏ Tô
Hoài đã cùng mẹ và chị gái rong ruổi khắp các chợ để bán lụa. Cha ông, do hoàn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
cảnh nghèo túng đã bỏ nhà vào Sài Gòn hi vọng lập nghiệp rồi ở luôn trong đó
không về nữa. Gánh nặng gia đình đè lên vai người mẹ…Nhà nghèo, học hết bậc
tiểu học, Tô Hoài đã sớm bươn trải trên đường đời và làm rất nhiều nghề khác nhau
để kiếm sống như: thợ thủ công, dạy học tư, bán hàng, kế toán hiệu buôn…Vậy là
Tô Hoài lớn lên trong cái đói khổ, thiếu thốn cả về vật chất và tinh thần. Chính hoàn
cảnh xuất thân và những trải nghiệm cuộc sống đã giúp cho nhà văn có vốn kiến
thức thực tế sâu sắc để đưa vào những trang viết của mình một cách chân thực và
thấm đượm tình yêu thương. Lớn lên trong hoàn cảnh đất nước oằn mình dưới gót
giầy của chế độ phong kiến thực dân, Tô Hoài được tận mắt chứng kiến nỗi khổ của
người dân nơi thôn quê. Cầm bút viết văn, ông đã bày tỏ thái độ cảm thông, chia sẻ
với quê nghèo bằng một tấm lòng gắn bó thiết tha, sâu nặng.
Hiểu được nỗi thống khổ của người nông dân dưới sự kìm kẹp của chế độ xã
Nam hiện đại so sánh được”[19,21].
1.2.2. Hành trình sáng tạo nghệ thuật của Tô Hoài
* Tô Hoài trước Cách mạng tháng Tám
Tô Hoài đến với nghề văn khá sớm. Mười bảy, mười tám tuổi ông đã có một
số sáng tác thơ đăng trên Tiểu thuyết thứ Bảy. Những bài thơ non nớt về nghệ thuật
như thế đã giúp ông hiểu mình và nhanh chóng chuyển hướng. Từ giã vườn thơ,
ông đến với cánh đồng văn xuôi, từ chân trời lãng mạn, ông đến với chủ nghĩa
hiện thực nhưng chất trữ tình vẫn là một phần không thể thiếu trong những
trang viết của Tô Hoài.
Tô Hoài lớn lên trong cuộc sống nghèo nàn vất vả. Cảnh sống thiếu thốn của
bản thân và gia đình đã chi phối cách viết của ông, khiến ông khó có thể thả hồn
phiêu diêu vào thế giới thơ mộng của “chàng” và “nàng” như Nhất Linh, Khái
Hưng, Hoàng Đạo…Sống trong môi trường Nghĩa Đô, những người dân quê cần
lao chất phác và những cảnh đời điêu đứng, cùng quẫn của họ đã trở thành đối
tượng phản ánh của Tô Hoài. Nước lên, truyện ngắn đầu tiên của Tô Hoài được
đăng trên Hà Nội tân văn đã miêu tả những cảnh nhà văn được chứng kiến tận mắt
trong chuyến đi hộ đê ở Tứ Tổng: cảnh canh đê, các gia đình ven sông Hồng điêu
đứng trong mùa nước “người lớn và trẻ con rúc ráy trên vệ cỏ”.
Là “bà đỡ” cho những sáng tác đầu tiên của Tô Hoài, Vũ Ngọc Phan - ông
chủ tờ báo Hà Nội Tân Văn đã xếp Tô Hoài vào nhóm “các tác gia tả chân”. Và
chưa đầy bốn năm, ở tuổi đời ngoài hai mươi, ông “viết như chạy thi” được tám đầu
sách. Tiêu biểu là các tập truyện ngắn: Nhà nghèo (1941), O chuột (1942); các tiểu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
thuyết: Dế mèn phiêu lưu ký (1941), Giăng thề (1941), Quê người (1942), Xóm
giếng ngày xưa (1944), Cỏ dại (1944). Sáng tác của ông thời kỳ này tập trung vào
hai đề tài chính: truyện loài vật và truyện kể về làng quê tác giả. Trong những
truyện ngắn về loài vật, Tô Hoài miêu tả những con vật bé nhỏ gắn bó với sinh hoạt
* Tô Hoài sau Cách mạng tháng Tám
Sau Cách mạng, với Tô Hoài, là một quá trình gần 60 năm viết bền bỉ, liên
tục, không ngừng nghỉ, không mệt mỏi trên rất nhiều đề tài quan trọng của văn học
Việt Nam hiện đại. Nhà văn đi vào thực tế, khai thác đề tài về đời sống của các dân
tộc vùng cao trong kháng chiến chống thực dân Pháp với tập truyện Núi cứu quốc
(1948). Tiếp tục đi sâu vào đề tài miền núi, Tô Hoài đã thu hoạch được nhiều thành
công với hai tác phẩm: Truyện Tây Bắc (1953) và Miền Tây (1967). Với hai tập
truyện này, ông nhận được nhiều ý kiến khen ngợi về khả năng bao quát hiện thực
trước và sau 1945, về sự khắc họa rất công phu cảnh sống và thiên nhiên miền núi,
đồng thời người đọc cũng chỉ ra cả những mặt yếu của Tô Hoài trong việc tạo dựng
tính cách nhân vật và sự mờ nhạt của hình ảnh vùng cao trong công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội.
Sau Cách mạng, ngòi bút của Tô Hoài thấm nhuần lý tưởng cộng sản. Nhờ sự
trải nghiệm những khốc liệt của chiến tranh nên sáng tác của ông càng trở nên “hiện
thực” hơn. Ông trở lại đề tài về Hà Nội với vùng ngoại ô. Như là một sự tiếp tục của
Quê người (1942), Tô Hoài viết Mười năm (1958), Người ven thành (1972), Quê
nhà (1980)…hầu hết các tác phẩm đều thu hút sự chú ý của bạn đọc. Cũng trong
mảng sáng tác này còn phải kể đến một tác phẩm mang tính tư liệu phong tục rất quý
hiếm của Tô Hoài đó là Chuyện cũ Hà Nội (1998). Mảng đặc sắc nhất của Tô Hoài
sau Cách mạng là các chân dung và hồi ức. Qua Tự truyện (1978), Những gương
mặt (1988), Cát bụi chân ai (1992) và Chiều chiều (1999) người đọc cái nhìn gần
hơn và thật hơn về chính con người tác giả Tô Hoài và các bạn văn cùng thời với
ông. Năm 2006, khi đã ở cái tuổi “xưa nay hiếm”(86 tuổi), nhà văn cho ra đời cuốn
tiểu thuyết Ba người khác với những khám phá mới về một thời kỳ đặc biệt quan
trọng trong lịch sử nước nhà.
Nhìn chung, sáng tác của Tô Hoài trước và sau Cách mạng đều để lại dấu ấn
khó phai trong lòng người đọc. Với gần 70 năm cầm bút, trải qua bao biến cố, thăng
trầm của thời đại:“Tô Hoài vẫn luôn luôn là người cùng thời và cùng đồng hành với
bạn đọc”[19,22].
nên đồng nhất nó với nguyên mẫu, mà chỉ coi nhân vật trong văn học như là một
yếu tố hình thức mang tính nội dung.
Đó là những ước lệ nghệ thuật có những quy ước chung và sáng tạo riêng củ
a tác giả. Phân tích nhân vật trở thành một trong những con đường quan trọng nhất
để tìm đến giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo của tác phẩm, để nhận ra lí tưởng thẩm
mỹ của nhà văn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
* Phân loại nhân vật
Có nhiều cách phân loại nhân vật:
- Căn cứ vào vai trò của nhân vật trong triển khai cốt truyện, ta có: nhân vật
chính, nhân vật trung tâm, nhân vật phụ.
- Căn cứ vào tác động của nhân vật đối với sự phát triển của xã hội gắn với
những đối kháng mâu thuẫn trong tác phẩm, ta có: nhân vật chính diện, nhân vật
phản diện.
- Căn cứ vào cấu trúc nhân vật, ta có: nhân vật chức năng, nhân vật loại hình,
nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng.
Dựa vào đặc điểm sáng tác của Tô Hoài thời kì trước Cách mạng tháng Tám,
chúng tôi chia thế giới nhân vật của ông thành các kiểu loại sau: Thế giới nhân vật
người dân quê và Thế giới loài vật. Nhân vật người dân quê là những người dân
vùng Bưởi - nơi nhà văn sinh ra, lớn lên và gắn bó máu thịt. Họ trở thành văn liệu
cho những áng văn đậm chất thôn quê của ông. Sở dĩ chúng tôi coi thế giới loài vật
trong sáng tác Tô Hoài là một kiểu loại nhân vật hay chính xác hơn là “nhân vật đặc
biệt” bởi trong cảm quan hiện thực của ông những con vật ấy là những người bạn
nhỏ gắn bó với tuổi thơ, với cuộc sống của tác giả và với những người dân làng
Nghĩa. Nhưng điều đáng lưu ý là đằng sau thế giới loài vật ấy, Tô Hoài muốn nói
tới xã hội loài người. Bởi vậy, khi nói tới thế giới nhân vật trong tác phẩm Tô Hoài
chúng ta không thể không nhắc đến thế giới loài vật được miêu tả một cách hồn