thế giới nghệ thuật trong tùy bút của đỗ chu - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

MAI SƠN TÙNG

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG
TÙY BÚT CỦA ĐỖ CHU

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Thành phố Hồ Chí Minh - 2011


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

MAI SƠN TÙNG

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG
TÙY BÚT CỦA ĐỖ CHU
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 32

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN HOÀI THANH

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011



0

T
0

MỤC LỤC ................................................................................................................... 5
T
0

T
0

DẪN LUẬN ................................................................................................................. 7
T
0

T
0

1. Lí do chọn đề tài..............................................................................................................7
T
0

T
0

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................................................8
T
0



1.1 Về thể loại tùy bút .......................................................................................................13
T
0

T
0

1.1.1 Khái niệm về thể loại tùy bút .................................................................................13
T
0

T
0

1.1.2 Xác định loại hình nghệ thuật tùy bút ....................................................................14
T
0

T
0

1.1.3 Vẻ đẹp lưỡng hợp trong thể loại tùy bút ................................................................16
T
0

T
0

1.2 Thể loại tùy bút trong sự nghiệp sáng tác văn học của Đỗ Chu .............................17


T
0

2.1 Cái tôi trữ tình ............................................................................................................48
T
0

T
0

2.1.1 Cái tôi trữ tình công dân ........................................................................................48
T
0

T
0

2.1.2 Cái tôi trữ tình đời thường .....................................................................................53
T
0

T
0

2.1.3 Cái tôi trữ tình hoài niệm về tuổi thơ và quê nhà yêu dấu .....................................55
T
0

T

2.3 Cái tôi tài hoa, uyên bác .............................................................................................69
T
0

T
0

2.3.1 Tầm hiểu biết sâu rộng...........................................................................................69
T
0

T
0

2.3.2 Những trích dẫn đa dạng, phong phú .....................................................................71
T
0

T
0

2.2.3 Sự cảm nhận thiên nhiên tinh tế, tài hoa ................................................................72
T
0

T
0

CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT TÙY BÚT CỦA ĐỖ CHU .................................... 75
T


T
0

3.2 Nhịp điệu và giọng điệu ..............................................................................................88
T
0

T
0

3.2.1 Nhịp điệu ................................................................................................................88
T
0

T
0

3.2.2 Giọng điệu ..............................................................................................................91
T
0

T
0

3.3 Ngôn từ nghệ thuật .....................................................................................................98
T
0

T

TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 110
T
0

T
0


DẪN LUẬN
1. Lí do chọn đề tài
Truyện ngắn Ao làng được trích in trên tạp chí Văn nghệ quân đội năm 1961 đã đánh
dấu bước đầu khởi nghiệp văn chương của cậu học sinh tên Chu Bá Trình. Tính đến nay đã
ngót năm mươi năm, cậu học sinh trường trung học Hàn Thuyên năm ấy giờ đã là một nhà
văn lão thành, có những cống hiến không nhỏ cho nền văn học dân tộc. Sau những năm
miệt mài sáng tạo, ông đã có trong tay trên chín tập truyện ngắn và ba tập tùy bút. Có thể
nói, Đỗ Chu là nhà văn sớm bén duyên với thể loại truyện ngắn và được đông đảo độc giả
biết đến qua các tập truyện ngắn. Trước năm 2004, người ta biết một Đỗ Chu với những
truyện ngắn mang giọng điệu nhẹ nhàng sâu lắng và giàu sức biểu cảm. Ông được vinh dự
nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật vào năm 2001 với bộ ba tác phẩm
Hương cỏ mật, Phù sa, Mảnh vườn xưa hoang vắng, và Giải thưởng Hội Nhà văn Việt
Nam năm 2003 với tác phẩm Một loài chim trên sóng, đặc biệt cũng với tập truyện ngắn
này Đỗ Chu cũng vinh dự nhận Giải thưởng Văn học ASEAN năm 2004. Với các giải
thưởng này, tài năng, tâm huyết và những đóng góp của

văn Đỗ Chu về thể loại

truyện ngắn đã được ghi nhận, tôn vinh. Đồng thời, tên tuổi của ông cũng có vị trí nhất
định trong nền văn học hiện đại Việt Nam và khu vực.
Quả là một trường hợp hiếm thấy, khi nhà văn vừa bước sang tuổi lục tuần, cái tuổi đã
trông thấy rõ rệt sự mệt mỏi và già nua, nhà văn của thể loại truyện ngắn lại bất ngờ làm

tiến trình văn học Việt Nam với tư cách là tác giả tùy bút có những nét đặc trưng riêng biệt
và là một trong những đại diện tiêu biểu cho thể loại tùy bút đương đại. Trong chừng mực
nhất định, người viết cũng hi vọng chỉ ra được những đóng góp riêng của Đỗ Chu trong
việc mang lại diện mạo mới cho thể loại tùy bút.
Mặt khác, chúng tôi hi vọng rằng luận văn này sẽ là tài liệu tham khảo cần thiết cho
sinh viên, các giáo viên Ngữ văn bật phổ thông và những ai quan tâm đến tùy bút đương
đại Việt Nam.

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Với đề tài “Thế giới nghệ thuật trong tùy bút của Đỗ Chu”, chúng tôi sẽ lấy ba tập
tùy bút Những chân trời của các anh (1986), Tản mạn trước đèn (2004 và Thăm thẳm
bóng người (2008) làm đối tượng nghiên cứu.
Do đặc điểm của đề tài nên chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu thể loại tùy bút của
nhà văn Đỗ Chu. Phạm vi của luận văn này là đi vào thế giới nghệ thuật và một số đặc
điểm chính của ba tập tùy bút trên.

3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trừ tập Những chân trời của các anh, hai tập tùt bút còn lại là những tác phẩm mới
được xuất bản. Hiện nay có khá nhiều bài viết, bài cảm nhận trên báo, tạp chí và trên mạng


Internet khen chê về hai tập tùy bút này như bài viết của Hoàng Ngọc Hiến, Lý Hoài Thu,
Thu Hà, Thạch Linh, Phan Huy Dũng, Nguyễn Hòa, Hà Khái Hưng, Tô Hoàng, Nguyễn
Thanh Kim…Tuy nhiên đó cũng chỉ là những cảm nhận, suy nghĩ có tính ấn tượng ban
đầu và tính thời sự. Tùy bút của Đỗ Chu chưa được đặt trong hệ thống tùy bút Việt Nam
để phân tích, nghiên cứu và tìm ra được đặc trưng riêng của nó. Đa số các tác giả đều cho
rằng Đỗ Chu đến với tùy bút như một hối thúc tự nhiên để trải nghiệm vốn sống, vốn hiểu
biết cùng những suy tư, trăn trở của mình trước hiện thực cuộc sống hôm nay và hôm qua.
Đỗ Chu “hiểu rành rẽ từng khúc quanh co của dòng sông văn học, lúc này đang chứng kiến
một thời kì mới của sáng tác với nhiều bề bộn, lẫn lộn cái thực, cái giả chen nhau, cái đích

ngợi Đỗ Chu như sau: “Văn Đỗ Chu viết kĩ, đẹp cả về giọng điệu lẫn những suy tưởng
nhân tình” [44]. Ông còn những nét đặc sắc trong nghệ thuật trần thuật: “Đoạn văn nào
cũng đầy ắp chi tiết, phập phồng hơi thở đời sống, chốc chốc tác giả lại chêm vào đó cái
nhìn sắc sảo, những câu đúc kết dẫu chưa phải hoàn toàn là chân lí thì cũng rất khoáng đạt,
độc đáo…Đặc biệt là, dẫu chủ đề có lan man, song tiết tấu câu văn vẫn luôn rộn ràng, cuốn
hút người đọc” [44]. Bên cạnh đó, Nguyễn Hòa cũng chỉ ra những nét hạn chế trong lối
văn miên man dàn trải dễ gây nhàm chán cho người đọc: “Tuỳ bút Đỗ Chu thường mở đầu
một cách “chật vật” với những luận đề dài dòng, khô khan, dễ làm người ta ngại đọc” [44].
Trong bài Cái tôi tùy bút, Nguyễn La đã chỉ ra được một nét kết cấu độc đáo trong
tùy bút của Đỗ Chu. Đó là kết cấu theo kiểu “hình xương cá”. Sau đó ông khen sự uyên
thâm của Đỗ Chu: “Đỗ Chu viết tùy bút bằng sự hiểu đời của chính ông, tôi gọi văn ông là
thứ văn biết đời – dựa theo cách nói của Cao Bá Quát nhận định về Truyện Kiều là thứ văn
hiểu đời. Tất nhiên từ biết đến hiểu là khoảng cách rất xa. Nói thế để thấy rằng nhận định
thứ văn biết đời của Đỗ Chu cũng có chừng mực chứ không đề cao một cách quá đáng. Đỗ
Chu biết nhiều lắm, biết nhiều nên làm người đọc thích thú với một câu ca dao cổ được tái
hiện trong văn cảnh phù hợp, một câu đối chữ Nho được cắt nghĩa làm rõ cái thâm thúy
của các cụ ngày trước, một phong tục xứ Kinh Bắc quê ông, mà bóc đi cái vỏ tưởng là mê
tín dị đoan lại là cái nhân đậm đà tình người…” [62]. Cuối cùng, Nguyễn La khen sự liên
tưởng, nhập thân vào nhân vật của Đỗ Chu trong quá trình trần thuật: “Đỗ Chu là người
chéo thuyền giỏi, cái tình – phần nào tôi đã nói ở trên, cái tài là cái duyên của văn anh thể
hiện rõ ở sự liên tưởng nhiều khi độc đáo, đột xuất; ở sự nhập vai nhập thân vào nhân vật
để kể, lúc bấy giờ giọng Đỗ Chu hay giọng nhân vật khó mà phân biệt. Thi pháp gọi đó là
song điệu, tôi gọi đó là giọng nhập vai, bề ngoài vẫn là giọng Đỗ Chu nhưng lại là tiếng
nói, tư tưởng của nhân vật” [62].
Ngũ Nhị Song Hiền đã tìm ra được những cảm hứng chính trong ba tập sách của Đỗ
Chu. Ngoài ra, cô còn phát hiện ra chất thơ và chất truyện, phân loại được những giọng
điệu khác nhau trong tùy bút của ông: “Sự chuyển hướng từ cái nhìn sử thi sang cái nhìn


hiện thức phức hợp, đa chiều của văn học thời kì đổi mới đã giúp Đỗ Chu cảm nhận cuộc



2.3 Cái tôi tài hoa, uyên bác
Chương 3: Nghệ thuật tùy bút của Đỗ Chu
3.1 Kết cấu, ngôi kể và nghệ thuật khắc họa chân dung
3.2 Nhịp điệu và giọng điệu
3.3 Ngôn từ nghệ thuật
Kết luận
Tài liệu tham khảo


CHƯƠNG 1: THỂ LOẠI TÙY BÚT VÀ TÙY BÚT CỦA ĐỖ CHU
1.1 Về thể loại tùy bút
1.1.1 Khái niệm về thể loại tùy bút
Tùy bút là một trong những thể loại thuộc thể kí, một trong năm thể loại của văn học.
Ngoài những tính chung, tùy bút còn có những đặc trưng riêng biệt. Có vẻ như cách hiểu
đơn giản theo cảm tính: tùy bút là những trang văn xuôi mà ở đó nhà văn tùy theo ngòi bút
mà đưa đẩy – lâu nay đã được nhiều người yên tâm thừa nhận. Ngay cả Nguyễn Tuân –
nhà văn sáng tác tùy bút hàng đầu của Việt Nam – cũng có lần thừa nhận: “Nguyên tắc
quan trọng của tùy bút là không có nguyên tắc gì cả”. Cách hiểu này đặt cơ sở trên một nét
đặt trưng của tùy bút là luôn coi trọng và phát huy tối đa cảm xúc, quan điểm chủ quan ở
người nghệ sĩ. Tuy nhiên, những điểm bất cập và chưa thỏa đáng cũng nảy sinh từ chính
những điều đơn giản ấy.
Bất kì sáng tác văn chương nào cũng đều bắt đầu từ một nguồn cảm hứng của cá
nhân người nghệ sĩ, chứ không chỉ riêng tùy bút. Tuy nhiên, với thể loại tùy bút, người
nghệ sĩ phải lưu trữ nguồn cảm xúc mãnh liệt thì mới có thể thăng hoa trong quá trình sáng
tác. Một cách hiểu không thỏa đáng về khái niệm tùy bút sẽ dễ dẫn đến lẫn lộn lối viết tự
do, phóng khoáng với lối viết lan man, tản mạn, bịa đặt tùy tiện. Bởi vì “những sự việc,
những con người trong tùy bút tuy có thể không kết thành một hệ thống theo một cốt
truyện, hay theo một tư duy luận lí chặt chẽ, nhưng tất cả vẫn phải tuân thủ trật tự của

chặt chẽ như châm ngôn…những người đó mới đi vào thể loại tùy bút.
So với các thể loại khác, đội ngũ sáng tác của tùy bút còn khá khiêm tốn: Trong văn
học Việt Nam từ trước Cách mạng đến nay, số lượng nhà văn đứng được ở thể tùy bút
không nhiều. Nhưng rõ ràng với tư cách một thể loại văn chương, tùy bút đã có quá trình
hình thành và phát triển, kế thừa và cách tân, với những đặc trưng nghệ thuật chịu ảnh
hưởng sâu sắc cả về phương Đông lẫn phương Tây. Còn có thể hiểu “tùy bút” như là một
bút pháp tự do, phóng túng, tài hoa, không thuộc sở hữu riêng của sáng tác văn chương.
Cách hiểu này không phổ biến và chỉ có ý nghĩa gợi mở thêm hướng nghiên cứu.
1.1.2 Xác định loại hình nghệ thuật tùy bút
Mặc dù là một thể loại văn xuôi mang rõ nét khá nhiều đặc trưng nghệ thuật, nhưng
trên thực tế hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào cho thể loại tùy bút. Trong các tác
phẩm lí luận văn học, do những biểu hiện có tính chất trung gian, tùy bút bao giờ cũng
được nhắc tới với tư cách là một tiểu loại của thể loại kí, bằng sự dè dặt nhất định. Quan


điểm trong việc xác định loại hình của tùy bút vẫn chưa thấy có sự nhất trí cần thiết. Có
thể thấy nổi lên hai quan điểm vừa tương đồng vừa có chỗ chưa nhất trí với nhau về vấn đề
này: 1- Tùy bút là một tiểu loại văn xuôi giàu chất trữ tình, nhưng phát sinh từ thể kí (một
biến thể của tự sự); 2- Tùy bút là một thể văn xuôi thuộc loại trữ tình. Như vậy, cả hai
quan điểm trên đều thừa nhận sự tồn tại thường trực của chất trữ tình trong tùy bút, nhưng
cách nhìn nhận về vai trò, mức độ của yếu tố tự sự có điểm khác nhau.
Các tác giả của quyển Văn học Việt Nam thế kỉ XX đã xếp tùy bút vào loại kí: “Tùy
bút là một thể thuộc loại hình kí có lối viết phóng khoáng, tự do và chủ quan nhất…So với
các tiểu loại khác, tùy bút giàu chất trữ tình hơn cả, tuy vẫn không ít yếu tố chính luận và
chất suy tưởng triết lí” [30; 234]. Trong quyển Lí luận văn học - vấn đề và suy nghĩ,
Nguyễn Văn Hạnh cũng xếp tùy bút vào hệ thống thể kí: “Các thể kí chủ yếu có mặt cả
trong văn học cổ điển và hiện đại là kí sự, tùy bút, bút kí, nhật kí” [43; 99]. Khác hẳn với
các ý kiến trên, trong cuốn Lí luận văn học, Nguyễn Xuân Nam lại xếp tùy bút vào loại trữ
tình: “Tác phẩm trữ tình không phải chỉ có thơ trữ tình, mặc dù nó là tiêu biểu nhất. Ngoài
thơ trữ tình còn có tùy bút, thơ văn xuôi, ca trù, từ khúc,…Tùy bút là thể loại văn xuôi

Đến đây, thiết nghĩ đã có đủ cơ sở để khẳng định: tùy bút là một thể văn xuôi thuộc
loại tự sự – trữ tình. Vấn đề sẽ phức tạp hơn khi vận dụng quan điểm này để xem xét các
tác phẩm cụ thể. Nhưng không thể vì thế mà muốn có được sự tường minh về lí thuyết mà
lại gò ép thực tiễn sinh động vào tác phẩm không phù hợp.
1.1.3 Vẻ đẹp lưỡng hợp trong thể loại tùy bút
Tính lưỡng hợp trong tác phẩm tùy bút có cội nguồn từ một lối viết ở nhiều khía cạnh
như cách nhận thức vấn đề, cách xây dựng tình huống, giọng điệu văn chương…Hơn nữa,
tùy bút là loại văn rất cần sự hiện diện của lí trí tỉnh táo, lối tư duy về các vấn đề xã hội
nhưng cũng không thể loại trừ nhịp đập của con tim với những rung động mãnh liệt, đầy
hứng thú trước các hiện tượng của cuộc sống. Nếu không có lí trí tỉnh táo, ngòi bút của
người viết sẽ tung hứng lên chín tầng mây mà không tìm được nẻo về và rồi cũng đồng
thời rơi vào trạng thái mông muội dẫn tới bịa đặt, suy diễn lan man, không hợp với thực tế.
Có khi, chính cái trạng thái ngất ngây không có sự kiểm soát của lí trí, người viết sa vào
lối văn duy mĩ, dẫn người đọc vào trò chơi chữ nghĩa. Cái kiểu “chén đĩa mùa đi nhịp hải
hà” ban đầu có thể tạo ra một lực hút, đem lại sự khoái cảm thẩm mĩ nhưng sau đó thì
người ta sẽ nhận ra đây chỉ là sự khoe mẽ, phô trương ngôn từ rỗng tuếch, vô nghĩa.
Ngược lại, nếu bài tùy bút qua nặng về lí trí, chú trọng thông tin, liệt kê chính xác từng sự
kiện, dữ liệu thì sẽ biến văn bản thành một thể khác như phóng sự, kí sự...Hơn nữa, việc
thiếu sự gọt giũa ngôn từ, nghệ thuật hóa dữ kiện, loại trừ cảm xúc sẽ làm trang viết trở
thành một loại văn bản khô khan, cứng nhắc, mờ nhạt tính chất, đặc trưng của văn chương.


Vì thế, để có được những trang tùy bút hay, người nghệ sĩ phải vừa say mà lại vừa
tỉnh, vừa xúc cảm nhưng cũng vừa suy tư. Kết quả của cuộc hôn phối của xúc cảm và lí trí
sẽ là tác phẩm tùy bút, một thực thể sinh động mang vẻ đẹp lưỡng hợp dung hòa hai yếu tố
trên. Cái trọng tâm của sự sáng tạo trong thể loại tùy bút không phải là ở sự hư cấu những
hình tượng vốn không hiện hữu trong thực tế mà là cách sắp xếp, trình bày, điều phối sự
kiện hay vấn đề nào đó, không những mang lại giá trị nhận thức mà còn đem lại những
rung động thẩm mĩ thực sự. Tài năng của người viết tùy bút giống như hình ảnh ngưòi
nghệ sĩ đi xiếc trên dây cần một thế cân bằng giữa hai bờ vực. Đồng thời, người nghệ sĩ

màu sắc của bút kí và truyện ngắn. Sự pha tạp ấy cũng là điều dễ lí giải. Nguyên ủy, Đỗ
Chu là cây bút của thể loại truyện ngắn vững vàng và đã định hình được cho mình một lối
viết riêng. Hơn nữa, ranh giới giữa truyện ngắn và tùy bút cũng rất gần nhau. Tuy tác
phẩm chưa tạo được tiếng vang mạnh mẽ trong lòng người đọc nhưng lại chính là bước thử
nghiệm để nhà văn phát triển sở trường văn chương của mình ở một thể loại văn học mới.
Tản mạn trước đèn là tập tùy bút thứ hai được xuất bản năm 2004. Tác phẩm như là sự
trở lại với thể loại tùy bút sau tám năm kể từ khi ông cho ra đời tập tùy bút đầu tiên. Với
bốn mươi năm cầm bút, cộng với những trải nghiệm đã mang lại cho Tản mạn trước đèn
một sức nặng về phản ánh và nhận thức nhưng không vì thế mà làm cho cuốn sách mất đi
chất thơ ngọt ngào, đằm thắm…Đã có lúc ông viết những câu văn xuôi như thơ, viết rất
thơ về cát nóng ở Quảng Bình, hình dung nó như “một bản giao hưởng cát”. Rồi có lúc
ông lại mơ về một mối tình với cô gái chăn trâu thuở nào, một sự trào lộng về chính con
người mình…bao năm mới có được sự tản mạn như thế, và ngẫm được điều đó, ta thấy
trân trọng hơn những trang viết của nhà văn. Đỗ Chu từng tâm sự: “Bốn mươi năm cầm
bút thì có lẽ chỉ có bốn tháng được làm nhà văn thực sự”. Là người khó tính lại cầu toàn,
ông tự nhận: “Trong một tác phẩm có khi đoạn trước là nhà văn nhưng lúc sau không còn
đưôc là nhà văn nữa”. Người cầm bút mà cứ phải phân vân, e ngại hay chiếu cố một điều
gì thì sẽ không còn là mình nữa. Đọc Tản mạn trước đèn của ông, tập tùy bút hơn ba trăm
trang, người ta thấy ông không nói suông, không chiếu cố những chuyện chính bản thân
mình. Nó dẫn người đọc vào một trạng thái tâm lí triền miên phải suy nghĩ, thấm thía và
nhiều khi có sự nhìn lại mình. Trong trang sách, Đỗ Chu hiện lên thật rõ những yêu ghét
rạch ròi.
Tùy bút của ông khiến người ta nhận thấy trước tiên là thái độ cẩn trọng và có trách
nhiệm với những gì mình viết ra. Dù chỉ là một câu chuyện tếu nhưng câu chuyện ấy sử
dụng vào mục đích gì, và đọc xong sẽ khiến người ta nghĩ gì cũng là điều khiến ông phải
cân nhắc. Tập hợp các bài viết trên báo trong suốt hai mươi năm qua, nhà văn xếp lại theo
ý tưởng của mình để từ đó phác họa một Đỗ Chu trăn trở và trưởng thành qua từng giai
đoạn cuộc sống. Cái đáng quí của cuốn sách là ở mỗi câu chuyện, mỗi một tản mạn, người



những con người xưa và nay, trong nước và ngoài nước, những vấn đề từ quá khứ đến hiện
tại. Tất cả được khơi lên, tái hiện lại bằng một thứ văn phong giản dị, đậm đà cảm xúc và


mang nhiều dư vị triết lí. Nhà văn đau đáu đi tìm bóng người thăm thẳm trong niềm hoài
vọng thiết tha. Phần ba của tập sách có đề tựa là Về quê đốt lửa. Đây là phần được nhà văn
viết chủ yếu trong mạch cảm hứng hoài niệm. Quê nhà yêu dấu bao giờ cũng là cội nguồn
của mọi sự sáng tạo. Bởi lẽ nơi ấy có những người bình thường nhưng vĩ đại, có tuổi thơ
lam lũ, cơ bần nhưng tràn ngập niềm vui và kỉ niệm…Đỗ Chu gửi gắm vào đấy những tình
ấm áp nhất, ngọt lành nhất, thân thương nhất.
Xuyên suốt cả ba phần là chiều dài thời gian lịch sử của một dân tộc, có những đời
người, những thân phận vinh quang có, cay đắng có, nổi danh có, âm thầm có, là chiều
rộng không gian của nước Việt mở ra đến những bờ bến lạ, những xứ sở xa xôi. Đọc sách
này mới thấy Đỗ Chu giấu cả trong mình một kho văn hóa dân gian, bác học, lịch sử,
huyền tích, cái trông thấy, cái nghe thấy, cái sống và cái ngẫm, trộn lại tất cả vào mình rồi
rút ra bằng những câu văn như kể chuyện mà như tâm sự, giãi bày, khiến cho những điều
ông nói ra đọng lại day dứt, ngậm ngùi…
Chúng ta đang sống trong thời đại mà nhịp sống bị dồn đẩy rất gấp gáp. Con người
thích tìm đọc những cuốn sách có tính chuyên đề phục vụ cho sở thích riêng cũng như
chuyên môn hẹp của mình. Trong bối cảnh ấy, những loại sách có chủ đề tản mạn, bát ngát
và cách nhìn nhận, đánh giá phần nào mang dấu ấn chủ quan của tác giả như Thăm thẳm
bóng người, thoạt xem có vẻ như một món quà hơi xa xỉ với một số người. Tuy nhiên, nhìn
một cách tổng thể thì đó thực sự là một loại sách hữu ích.
Nhìn chung, qua ba tập sách, ta thấy tùy bút của Đỗ Chu hoàn toàn có sắc thái riêng.
Ông không có chất ngông như tùy bút của Nguyễn Tuân, cũng không gợi buồn u uẩn như
tùy bút của Vũ bằng, không tài hoa lịch thiệp như tùy bút Hoàng Phủ Ngọc Tường…Tùy
bút của Đỗ Chu dung dị, đôn hậu mà không kém phần sâu sắc, mượt mà, trữ tình nhưng lại
thấm nhập ý vị triết lí nhân sinh. Đỗ Chu luôn hết mình với những trang viết để chuyển
đến cho con người những bức thông điệp của ngoại giới và nội tâm. Ba tập tùy bút với
dung lượng ngàn trang tuy chưa phải là đồ sộ nhưng đủ sức đi sâu vào lòng người và làm

xã hội chủ nghĩa. Cái giếng, cây đa, con đò, bến sông, hoa sen, hoa nhài…trong văn học có
ý nghĩa khác hẳn với các thứ ấy trong thực tại. Và do đó nghiên cứu thế giới nghệ thuật
cũng khác với phân tích hình tượng nghệ thuật. Thứ tư, thế giới nghệ thuật là một thực tại
tinh thần mà người đọc mở vào khi sống với tác phẩm. Nhưng đó không đơn giản là một tồn


tại khác của thực tại, mà là một thế giới đã đột phá tính hữu hạn của thực tại để mở vào
chiều sâu vô hạn của ý nghĩa, làm thành một thế giới ước lệ, tượng trưng” [48; 1660-1661].
Trong lịch sử văn học, những nhà văn có tầm đều tạo ra cho mình một thế giới nghệ
thuật riêng. Mỗi thể loại văn học cũng có thế giới nghệ thuật với qui luật riêng của nó. Tính
sáng tạo của nhà văn chính là yếu tố quan trọng hàng đầu làm nên thế giới nghệ thuật. Đọc
ba tập tùy bút của Đỗ Chu, chúng tôi có dịp đi vào một thế giới nghệ thuật rộng rãi, thoáng
đạt với nhiều cảnh sắc ở các vùng miền, nhiều con người ở những không gian và thời gian
khác nhau, nhiều sự hiện xã hội trải dài theo dòng lịch sử... Trong Miền sáng tạo của mỗi
nhà văn, Đỗ Chu tâm đắc với lời độc thoại cũng là lời tâm sự của nhà văn Nguyễn Minh
Châu: “Mỗi thằng nhà văn phải có một miền quê của mình. Nơi ấy chưa phải là quê cha đất
tổ, cũng chả phải là chỗ nó sinh ra. Nhưng trong nó, nơi ấy không bao giờ quên nổi, nơi ấy
ngày đêm cứ trăn trở cựa quậy trong lòng. Đấy là thánh địa mà nó gửi gắm hồn mình” [17;
145]. Không phải ngẫu nhiên mà Đỗ Chu viện lời dẫn của Nguyễn Minh Châu, Với ông,
quê hương xứ sở luôn là nguồn cảm xúc bất tận tràn đầy nỗi thương yêu. Nó là cội nguồn
của cảm hứng nghệ thuật. Mỗi lần đặt bút viết là một lần nhà văn thực hiện cuộc hành trình
tìm về với hồn dân tộc, dù rằng chưa một ngày Đỗ Chu rời xa, chưa một lần xem quê hương
mình, đất nước mình trong cái nhìn xa lạ.
Đỗ Chu viết nhiều về những con người Việt Nam trong đấu tranh chống giặc ngoại
xâm cũng như trong công cuộc kiến thiết đất nước với cảm hứng yêu mến, ngợi ca và tri
âm chân thành và sâu sắc. Xin được mượn chính lời văn nghệ thuật của nhà văn để nói về
cái tình sâu nặng của ông đối với con người: “Tôi lại thích bắt đầu từ người, đến đâu tôi
chỉ muốn được gặp người, bàn chuyện về người, những kiếp người. Còn như phong cảnh
cho dù có lạ đến mấy cũng vầy vậy thôi, nó là chuyện chóng nhớ chóng quên” [17; 71].
1.3.2 Khái quát về thế giới nghệ thuật trong tùy bút của Đỗ Chu

dốc thoai thoải, có vài quả núi nhỏ bất chợt nhô lên chơ vơ tựa như những điểm nhấn làm
cho bức tranh làng cảnh thêm sống động và ấn tượng. Các nhà địa chất gọi chúng là
“những hòn núi sót, là dấu chấm hết cho diễn thế một dải địa tầng” [18; 269]. Cái thế đất
như chênh chao hóa ra lại là điểm đặc biệt tạo cho Kinh Bắc một địa thế đa dạng, phong
phú, vừa có đồng cao vừa có vùng chiêm trũng. Vào mùa nước nổi, “sóng vỗ ì oạp, thuyền
câu trôi nổi, qua Ninh Khánh, Núi Hiểu, Bài Xanh, Trúc Tay, xuống mãi Lục Đầu”. Quê
hương của Đỗ Chu có một dòng sông máng lấy nước từ Thái Nguyên chảy qua Hiệp Hòa,
Yên Thế, Lạng Giang, Tân Yên, Việt Yên, đến vùng Kinh Bắc là chấm hết. Dòng nước từ
sông máng về đến làng thì đổ xuống những dãy ao trước làng. Kinh Bắc còn còn có những
bờ khe dẫn nước từ tận chân núi voi chảy về, chạy quanh co trên cánh đồng. Không rõ


những khe nước ấy có tự bao giờ mà lại hiền hòa, thân thương đến vậy. Mùa khô, “nước
đọng thành vũng trong lòng khe, mùa mưa, nước khắp các cánh đồng đều dồn cả xuống
đấy, cái khe bỗng hóa thành suối ồn ào, răm ba ngày, đổ nước lung tung ra những dộc đất
thấp, xong xuôi, khe lại hoàn khe” [18; 273].
Quê hương của tác giả là vùng đất có lịch sử văn hóa lâu đời, nơi sản sinh ra các
danh nhân văn hóa lịch sử như Nguyễn Trãi, Cao Bá Quát…cũng là miền đất ươm mầm
cho những tài năng nghệ thuật như Nguyễn Khải, Hoàng Cầm, Nguyễn Huy Tưởng, Ngô
Tất Tố, Nguyễn Địch Dũng, Kim Lân , Nguyên Hồng…và là nơi hun đúc những trí thức
tài giỏi như Trần Đức Thảo, Ngô Ngọc Quản, Đỗ Đình Chất…
Trong tùy bút của Đỗ Chu, quê hương còn là miền đất của tuổi thơ, của mộng tưởng
hồn nhiên trong sáng. Thấp thoáng hiện đến trong trang văn của Đỗ Chu là những đàn trâu
chen lấn nhau trên những con đường nhỏ để ra đồng gặm cỏ. Chúng đuổi nhau, húc nhau,
ghì đầu nhau xuống đất. Theo sau chúng là những đứa trẻ với những trò chơi của tuổi nhỏ
đầy hồn nhiên, phấn khích, tinh nghịch, vụng dại : “Đám con gái chia bài tam cúc, lũ con
trai đánh đáo đánh khăn, có hôm trẻ con làng nọ ném nhau với trẻ con làng kia, đuổi nhau
dọc bờ sông máng, trên những luống cày, những cục đất khô khốc cứng như những cục
gạch tương cả vào đầu nhau máu chảy ròng ròng” [18; 272]. Ở miền quê, nhất là những
vùng có ao hồ sông suối, một trong những sở thích của trẻ nhỏ là được lặn ngụp dưới dòng

Giọng nói của người làng Mật Ninh làm toát lên bản sắc con người Kinh Bắc. Giọng
nói ấy “không trộn vào đâu được, nghe nặng lắm, mà nói to lắm”. Có thể người khác miền
xem đấy là một trở ngại trong giao tiếp, có khi cảm thấy kì khôi, khó chịu nhưng đối với
người Kinh Bắc, đó là những âm điệu mặn mà, thân thương, không kém phần quí phái,
sang trọng… Cũng nhờ giọng nói quê nhà mà người cùng quê có thể nhận biết nhau, chạy
đến tìm nhau trên bước đường tha hương cầu thực: “Năm trước vợ chồng tôi sang thăm
Hàng Châu, có ông bạn Trung Quốc vừa gặp đã ôm lấy tôi mà bảo, đồng tính đấy nhé,
phải uống rượu tại đây theo phong tục gặp họ mới được” [18; 275]. Cái đáng yêu đáng
quý của con người Kinh Bắc là họ còn mang nét thuần hậu, luôn có ý thức về đối nhân xử
thế và cũng như giữ gìn tâm hồn: “…đàn ông, đàn bà nhìn chung đều đon đả mau mắn”
[18; 274]; “những nụ cười đôn hậu, những cách khu xử mặn mà vừa phải mà tin cậy vững
vàng, có lề thói, đủ biết lui tới, đủ biết ý tứ ngượng ngùng, biết xấu hổ biết tự trọng, không
dễ gì sa vào những cạm bẫy của ham hố tham lam, của quàng xiên viển vong và rối loạn”
[18; 265].
Quê hương Kinh Bắc còn là vùng miền lưu giữ những giá trị văn hóa phi vật thể của
văn hóa Việt. Điệu hồn xứ sở Kinh Bắc là những làn điệu dân ca quan họ ngọt ngào, ru
hồn người vào thế giới của tình người, thế giới của nghệ thuật. Lời ca nhạc điệu của dân
ca Kinh Bắc có một sức lôi cuốn, hấp dẫn lạ lùng mà không nơi nào có được: “Mỗi lần


Trích đoạn Kết cấu giản dị, tự nhiên Nghệ thuật khắc họa chân dung Nhịp điệu và giọng điệu Ngôn từ nghệ thuật Ngôn từ trong trẻo, giàu chất thơ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status