TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
-----------------
NGUYỄN MINH HIỀN
NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG
NHẬT KÝ NGUYỄN NGỌC TẤN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận Văn học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. Hoàng Thị Duyên
HÀ NỘI – 2015
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới ThS.
HoàngThị Duyên – ngƣời đã tận tâm chỉ bảo, hƣớng dẫn, giúp đỡ tôi trong
quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô trong Ban Giám hiệu trƣờng
Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2, các thầy cô trong khoa NgữVăn và đặc biệt là các
thầy cô trong tổ Lí luận văn học đã tận tụy tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện
thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận này.
Hà Nội, ngày 15 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Minh Hiền
1.2.2. Giá trị, ý nghĩa của cuốn Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn.................... 13
CHƢƠNG 2. NGƢỜI TRẦN THUẬT TRONG NHẬT KÝ NGUYỄN
NGỌC TẤN .................................................................................................... 14
2.1. Ngôi kể ................................................................................................. 14
2.2. Điểm nhìn trần thuật ............................................................................. 19
2.2.1. Điểm nhìn của người trần thuật .................................................... 19
2.2.2. Sự kết hợp đan xen điểm nhìn không gian và điểm nhìn thời
gian .......................................................................................................... 27
2.2.3. Điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài ............................... 30
2.2.4. Điểm nhìn đánh giá tư tưởng cảm xúc .......................................... 32
CHƢƠNG 3. NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT ................... 35
3.1. Ngôn ngữ trần thuật .............................................................................. 35
3.1.1. Ngôn ngữ quy ước, ẩn dụ .............................................................. 35
3.1.2. Ngôn ngữ hướng nội ...................................................................... 37
3.1.3. Ngôn ngữ trữ tình .......................................................................... 38
3.1.4. Ngôn ngữ ngắn gọn, giản dị, gần gũi tự nhiên .............................. 39
3.1.5. Ngôn ngữ tự do .............................................................................. 40
3.1.6. Ngôn ngữ mang đặc trưng vùng miền ........................................... 41
3.2. Giọng điệu trần thuật ............................................................................ 43
3.2.1. Giọng điệu thống thiết, chân thành ............................................... 43
3.2.2. Giọng hào hùng, đanh thép ........................................................... 46
3.2.3. Giọng lạc quan, tin tưởng.............................................................. 48
3.2.4. Giọng trữ tình sâu lắng ................................................................. 51
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN MỞ ĐẦU
Ngọc Tấn, chúng tôi rất mong muốn có thể góp phần vào việc tìm hiểu một
cách chuyên sâu hơn về thể loại nhật ký.
2. Lịch sử vấn đề
Nghệ thuật trần thuật là một trong những vấn đề đƣợc giới nghiên cứu
văn học quan tâm.Tuy nhiên, hiện nay có khá nhiều công trình nghiên cứu về
nghệ thuật trần thuật trong tác phẩm tự sự nhƣng nghiên cứu về nghệ thuật
trần thuật trong nhật ký thì rất ít. Bởi vì đặc trƣng của thể loại nhật ký là
những ghi chép mang tính chất riêng tƣ vì thế mà sự xuất hiện của chúng
không nhiều và cũng chƣa thu hút đƣợc sự quan tâm của độc giả cùng giới
nghiên cứu.
Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn từ khi ra đời đã gây ấn tƣợng mạnh mẽ tới
bạn đọc cũng nhƣ sự quan tâm của giới nghiên cứu. Hàng loạt những bài viết,
giới thiệu… xuất hiện dày đặc trên các phƣơng tiện truyền thông. Có một số
các bài viết, giới thiệu về Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn. Thông qua những bài
viết trên, chúng ta có một cái nhìn chân thực hơn về cuộc chiến vĩ đại mà thế
hệ cha anh đã đi qua, những khó khăn gian khổ và sự hy sinh vì lý tƣởng của
tuổi trẻ. Tất cả những bài viết đó đã giới thiệu sơ lƣợc về thể loại nhật ký tới
bạn đọc.
Hiện nay có rất ít bài nghiên cứu về nhật ký mang tính chuyên sâu:
Nguồn tư liệu đáng quý qua nhật ký chiến tranh của Tôn Phƣơng Lan đã ít
nhiều mang tới cho độc giả cái nhìn chân thực về hiện thực chiến tranh và sự
tàn khốc của nó. Có một số bài nghiên cứu về nhật ký tiêu biểu là Nhật ký
Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu này
vẫn chƣa đi sâu vào đặc điểm nghệ thuật khu biệt của thể loại.
Có thể nói, nghiên cứu về nhật ký bƣớc đầu chỉ là giới thiệu sách chứ
chƣa có một công trình nào đi sâu vào đặc sắc nghệ thuật của thể loại văn học
2
Phƣơng pháp hệ thống
6. Đóng góp luận văn
Với đề tài Nghệ thuật trần thuật trong nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn
chúng tôi mong muốn luận văn sẽ mang lại cái nhìn toàn diện về những đóng
góp của cuốn sách này trên phƣơng diện ngƣời trần thuật, điểm nhìn trần
thuật,ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật cũng nhƣ ý nghĩa hiệu ứng đối với
đời sống văn học Việt Nam.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của khóa
luận gồm 3 chƣơng cụ thể là:
Chƣơng 1: Những vấn đề lí luận về nghệ thuật trần thuật và đôi nét
vềNhật ký Nguyễn Ngọc Tấn
Chƣơng 2: Ngƣời trần thuật trong Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn
Chƣơng 3: Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật trong Nhật ký
NguyễnNgọc Tấn
4
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT
VÀ ĐÔI NÉT VỀ NHẬT KÝ NGUYỄN NGỌC TẤN
1.1.Những vấn đề chung về nghệ thuật trần thuật
1.1.1.Khái niệm trần thuật
Trần thuật (narration) là hành vi ngôn ngữ kể, thuật, miêu tả sự kiện,
miêu tả nhân vật theo một thứ tự nhất định, theo một cách nhìn nào đó. Trần
thuật đƣợc sử dụng phổ biến trong các thể loại văn học song ở tác phẩm
truyện trần thuật trở thành một tiêu điểm, một nguyên tắc chủ yếu để cấu tạo
của trần thuật đều thuộc về hai nhân tố cơ bản này.
1.1.2. Các yếu tố cơ bản của trần thuật
1.1.2.1. Ngôi kể
Ngôi kể là vị trí giao tiếp mà ngƣời kể sử dụng khi kể chuyện.Ngƣời kể
chuyện có thể kể theo ngôi thứ nhất, thứ hai hoặc thứ ba. Ngƣời kể chuyện chỉ
có thể kể đƣợc khi họ cảm thấy nhƣ ngƣời trong cuộc, đang chứng kiến sự
việc xảy ra bằng tất cả các giác quan của mình. Do đó, về căn bản mọi ngƣời
kể chuyện có thể kể theo nhiều ngôi khác nhau.
Cái đƣợc gọi là ngôi thứ ba thực chất là hình thức kể khi ngƣời kể chƣa
đƣợc ý thức nhƣ trong các truyện dân gian hoặc là đã ý thức đƣợc nhƣng cố
giấu mình đi nhƣ trong các truyện hiện đại.Ngôi thứ nhất là hình thức lộ diện,
ngôi thứ ba là ẩn mình đi.Sự phân biệt trên chỉ mang tính qui ƣớc, cho dù mỗi
sự chọn lọc hình thức kể cũng có khả năng tạo ngôn ngữ nhất định cho trần
thuật.
Ngƣời kể chuyện ngôi thứ ba là hình thức trần thuật ngự trị trong văn
học cổ trung đại.Hình thức kể này cho phép ngƣời kể có thể kể tất cả những gì
họ biết.
Hình thức kể ngôi thứ nhất là một nhân vật trong truyện chứng kiến các
sự kiện đứng ra kể.Hình thức này xuất hiện ở Châu Âu từ đầu thế kỷ XIX.
6
Ngƣời kể chuyện ngôi thứ hai cũng mang cái tôi của ngƣời kể song nó
tạo đƣợc một không gian gián cách, một cái tôi khác, một cái tôi đƣợc kể ra
chứ không phải là một cái tôi tự kể nhƣ ngôi thứ nhất.
1.1.2.2. Điểm nhìn trần thuật
Vấn đề điểm nhìn đã đƣợc nghiên cứu từ lâu từ đầu thế kỉ XIX với
Anna Barbauld, cuối thế kỷ XIX với Henri James (1884), đầu thế kỷ XX với
Friedman, Foster, Tomasevski, từ những năm 40 trở đi đƣợc nghiên cứu sâu
gần với tác giả, thƣờng trực tiếp xƣng tôi.
Trong tác phẩm thơ trữ tình có thể xƣng tôi hoặc không. So với nhân
vật điểm nhìn tác giả thƣờng là của ngƣời đứng ngoài vì tác giả thƣờng có vấn
đề suy nghĩ riêng không trùng với nhân vật.
Điểm nhìn nhân vật là điểm nhìn theo cá tính, địa vị tâm lý của nhân
vật. Điểm nhìn ngƣời trần thuật lại có thể tựa vào điểm nhìn của nhân vật để
miêu tả thế giới theo cảm nhận chủ quan của nhân vật.
Điểm nhìn không gian, thời gian.Ở đây là ví trí của chủ thể trong
không gian, thời gian thể hiện ở cách nhìn, khoảng cách nhìn ở đặc điểm của
khách thể đƣợc nhìn.
Khi điểm nhìn của ngƣời trần thuật trùng với điểm nhìn nhân vật, điểm
nhìn không gian, thời gian thể hiện qua các từ chỉ thị phƣơng vị, thời gian
điểm nhƣ: Ở đây, kia, hôm nay, nay… Khi điểm nhìn trần thuật không trùng
với điểm nhìn nhân vật ta có các hình thức: Điểm nhìn ở tầm khái quát, tầm
xa, điểm nhìn của ngƣời trầnthuật vận động theo hƣớng của mình, khi lùi về
quá khứ, khi ở phía này, khi ở phía kia trong các tuyến nhân vật, khi ở trên
cao có thể thấy cảnh câm, chỉ thấy mà không nghe….
Điểm nhìn bên ngoài, bên trong.
Điểm nhìn bên ngoài, bên trong của ngƣời của ngƣời trần thuật miêu tả
sự vật từ phía bên ngoài nhân vật(ngƣời quan sát có thể là ngƣời kể chuyện
trực tiếp, có thể từ các nhân vật khác, có thể theo một mô thức sẵn có).
8
Điểm nhìn bên ngoài, bên trong biểu hiện bằng hình thức tự quan sát,
tự thú nhận của nhân vật, bằng hình thức ngƣời trần thuật tựa vào các giác
quan, tâm hồn nhân vật để biểu hiện bằng cách cảm nhận về thế giới.
Điểm nhìn đánh giá tƣ tƣởng, cảm xúc.
Đây là hệ thống quan điểm cảm nhận thế giới khác với điểm nhìn bên
của nghệ thuật. Do đó, giọng điệu tác phẩm trƣớc hết là giọng điệu ngôn ngữ.
Khi nói tới ngôn ngữ trần thuật chúng ta có thể hình dung ra ngay các
yếu tố đó là ngôn ngữ của ngƣời trần thuật, ngôn ngữ nhân vật và lời nói nƣớc
đôi. Trong đó, ngôn ngữ ngƣời trần thuật, ngôn ngữ nhân vật giữ vai trò quyết
định tạo nên giá trị nghệ thuật của tác phẩm.
Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa ngôn ngữ ngƣời trần thuật: “phần lời
văn độc thoại thể hiện quan điểm tác giả hay quan điểm ngƣời kể chuyện (sản
phẩm sáng tạo của tác giả) đối với cuộc sống đƣợc miêu tả, có những nguyên
tắc thống nhất trong việc lựa chọn và sử dụng các phƣơng tiện tạo hình và
biểu hiện ngôn ngữ” [3; 212].
Ngôn ngữ ngƣời trần thuật là yếu tố cơ bản thể hiện phong cách nhà văn,
truyền đạt cái nhìn, giọng điệu, cá tính của tác giả” [3; 212].
Nhƣ vậy, ngôn ngữ trần thuật vừa mang tính cảm xúc, tính cá thể hóa
do đặc trƣng của ngôn ngữ ngƣời kể chuyện (ngƣời trần thuật) và ngôn ngữ
nhân vật trong tác phẩm văn học qui định. Ở tác phẩm tự sự, ngôn ngữ ngƣời
trần thuật giữ vai trò quan trọng nhất. Khi ngôn ngữ đa thanh thì lời văn trần
thuật sẽ đa giọng, điều này sẽ làm nên tính đối thoại của tác phẩm tự sự.
1.1.2.4. Giọng điệu trần thuật
Giọng điệu là thái độ, tình cảm, lập trƣờng đạo đức của nhà văn đối với
các hiện tƣợng đƣợc miêu tả trong lời văn qui định cách xƣng hô, gọi tên,
dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân sơ, thành kính hay
suồng sã, ngợi ca hay châm biếm… Chẳng hạn, trong thơ tình yêu của Thế
Lữ, theo Hoài Thanh, có giọng điệu “lẳng lơ mà xa vời và thiếu tình ấm áp”
10
thể hiện ở cách gọi thiếu nữ là cô em, do chƣa đủ thân mật để gọi bằng em,
giọng điệu ngọt ngào êm ái trong Hồn bướm mơ tiêncủa Khái Hƣng, giọng
điệu suồng sã, đay nghiến trong Chí Phèo của Nam Cao, giọng điệu mỉa mai,
1.2.1. Hoàn cảnh ra đời và quá trình lưu hành
Nhà văn Nguyễn Ngọc Tấn (Nguyễn Thi) xuất thân trong một gia đình
nghèo, cha làm hƣơng sƣ, mẹ buôn bán vặt. Tuy hoàn cảnh khó khăn, nhƣng
anh vẫn ham học. Năm lên 10 tuổi, anh mồ côi cha phải sống nhờ vào anh em,
họ hàng. Đầu năm 1945, ông theo ngƣời thân vào Sài Gòn kiếm sống.
Cách mạng tháng tám nổ ra, anh tham gia cách mạng tại Sài Gòn.
Trong kháng chiến chống Pháp, anh làm công tác tuyên huấn, đội trƣởng văn
nghệ quân khu miền Đông Nam Bộ. Đầu năm 1955, anh tập kết ra Bắc, làm
Đội trƣởng Đội văn nghệ công sƣ đoàn 330. Đến đầu năm 1956, anh chuyển
về Tạp chí Văn nghệ quân đội. Năm 1962, anh trở lại chiến trƣờng Miền
Nam, tham gia kháng chiến chống Mỹ trong lực lƣợng Văn nghệ giải phóng.
Trong di sản văn chƣơng của Nguyễn Ngọc Tấn có để lại cuốn nhật ký
đƣợc viết trong khoảng 1953-1955, chủ yếu là ghi lại những sự kiện trong đời
sống riêng tƣ của ông đó là Nhật ký NguyễnNgọc Tấn. Cuốn nhật ký ra đời
gắn với thời kỳ đẹp nhất và cũng bi tráng nhất trong cuộc đời Nguyễn Ngọc
Tấn khi gặp chị Bình Trang ở bƣng biền Nam bộ, họ yêu nhau, cƣới nhau, khi
anh tiếp tục đi đánh những trận đánh cuối cùng của cuộc kháng chiến, khi chị
Bình Trang hoài thai đứa con đầu lòng, khi họ sống những ngày gian nan mà
sôi nổi và tràn trề hạnh phúc…mà không hay biết một cơn lũ lớn dữ dội của
lịch sử đang từ từ ập đến, đổ trùm lên số phận của họ, đánh tan tác cuộc đời
và hạnh phúc của họ.
Nguyễn Ngọc Tấn đã ngã xuống trong một trận đánh anh hùng ở cửa
Sài Gòn đợt II tổng tấn công Mậu Thân, tháng 5 năm 1968. Ba mƣơi lăm năm
đã đi qua đến đầu năm 1997 cuốn Nhật ký Nguyễn NgọcTấn đã đƣợc công bố
với bạn đọc và ngày càng đƣợc nhiều độc giả đón nhận. Đó là một di vật
thiêng liêng của nhà văn Nguyễn Ngọc Tấn. Song ở đây còn là một trang đẹp
12
hiện tƣ tƣởng, quan điểm, thái độ của mình đối với thế giới và con ngƣời. Và
ngƣời trần thuật giữ vai trò trung giới giữa tác giả, tác phẩm và ngƣời
đọc.Việc xây dựng ngƣời trần thuật cũng xuất hiện với nhiều dạng khác nhau.
Có khi xuất hiện theo chiều hƣớng ngoại tức là đứng bên ngoài câu chuyện để
thuật lại câu chuyện có khi ngƣời trần thuật xuất hiện theo chiều hƣớng nội
tức là thâm nhập vào nội tâm nhân vật. Tất cả những điều đó chính là phƣơng
tiện để tạo nên Nghệ thuật trần thuật trong Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn.
2.1. Ngôi kể
Nói đến thể loại nhật ký chủ yếu sử dụng hình thức ngôi kể thứ nhất xƣng
„tôi”; “mình”; “chúng tôi”.Hình tƣợng cái “tôi”trong nhật ký không có gì có
thể phủ nhận đƣợc yếu tố tâm tình, trò chuyện là yếu tố quan trọng nhất trong
nhật ký.Hơn nữa, đó lại là những lời tâm sự trò chuyện của ngƣời viết với
chính bản thân họ nên việc ai là đối tƣợng trực tiếp trong nhật ký không phải
là vấn đề đáng quan tâm. Vì vậy sức hút của cuốn nhật ký này phụ thuộc vào
cái “tôi” với nhiều cảm xúc sâu sắc trƣớc những sự việc diễn ra trong đời
sống thƣờng ngày và tất nhiên điều đó phụ thuộc vào đạo đức và yếu tố thẩm
14
mỹ của chính ngƣời viết nhật ký. Bởi vậy, giá trị của nhật ký gắn bó chặt chẽ
với đời sống nội tâm của ngƣời viết góp phần tạo nên chiều sâu nhân văn cho
tác phẩm. Cái “tôi” trong nhật ký không ghi chép hoặc phản ánh một cách thụ
động về hiện thực cuộc sống và con ngƣời mà phải tái tạo biểu đạt một cách
chủ động, sáng tạo trƣớc những hình thức đó. Cái “tôi” không chỉ đảm bảo
tính xác thực của đối tƣợng miêu tả mà còn phải bằng tiếng nói của cảm xúc
làm cho thế giới hình tƣợng nghệ thuật càng thêm phong phú và đa dạng.Sự
tinh nhạy của ngƣời viết trong việc lựa chọn chi tiết, sự việc, hiện tƣợng để
đƣa vào nhật ký sẽ quyết định thêm nhiều giá trị cho nhật ký.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học : “Nhật ký là hình thức tự sự ở ngôi
bàng hoàng tới 60 giây, trố mắt, há miệng ra nhìn đồng chí X… loan tin cho
anh hay: “Cô Bá qua đây đấy, dặn tôi xe anh có về thì ra cho hay dùm coi
chừng tạc đạn, cô ấy đi công tác hồi 2 giờ rồi”. Đi rồi à… Anh lặng ngƣời
không nói, tê tái trong ngƣời anh” [15;74].
Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấngắn với những sự việc xảy ra mà cụ thể là
hiện thực đau thƣơng của đất nƣớc, trong bom đạn, cuộc sống của con ngƣời
thì khổ cực và lầm than, cơ cực. Tất cả đều đƣợc tác giả ghi chép lại rất cụ
thể, tỉ mỉ và chi tiết qua sự chứng kiến tận mắt và thậm chí còn trực tiếp tham
gia và gánh chịu nó.Những gì đã xảy ra đều có liên quan trực tiếp đến cuộc
sống thật của tác giả. Trong không khí của chiến tranh cuộc sống chung của
cả dân tộc trong cơn thử lửa đó lại là một việc lớn lao của cả cộng đồng, dân
tộc. Và ngƣời lính – Nguyễn Ngọc Tấn không nằm ngoài quy luật đó đã ghi
lại chính xác hiện thực cụ thể trong đời sống chiến tranh và tình cảm trong
cuốn nhật ký của mình. Song sức hấp dẫn là đã tái hiện lại đƣợc không khí
hào hùng của dân tộc, của cả một thời đại lịch sử. Qua những trang nhật ký
chân thành ấy ngƣời đọc nhƣ cảm nhận đƣợc về lịch sử hào hùng của dân tộc,
hiểu đƣợc những giá trị mà con ngƣời làm nên trong giai đoạn khó khăn nhất
của lịch sử với những gian khổ, thử thách và cay đắng. Và để có đƣợc chiến
16
thắng vinh quang ấy họ đã phải chiến đấu anh dũng, đoàn kết cùng nhau vƣợt
qua mọi gian lao, khổ cực thậm chí cả sự hy sinh. Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn
đã mang đến cái nhìn toàn diện hơn, đúng đắn hơn về chiến tranh và đời sống
riêng tƣ với một cái nhìn hoàn toàn khác.
Tuy nhiên, khi tái hiện đời sống Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn cũng đặc
biệt nói đến các mối quan hệ của anh với các đồng đội trong chiến đấu về
cách ăn ở, đi lại, sinh hoạt… và tình cảm của tác giả đối với ngƣời vợ mới
cƣới và những ngƣời đồngđội trong kháng chiến. Nguyễn Ngọc Tấn đã ghi lại
khác biệt với các cuốn nhật ký ở chỗ là mọi cảm xúc đều đƣợc viết ra một
cách chân thành.
Trong Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn hình tƣợng tác giả hiện lên một cách
trực tiếp, là trung tâm của mọi vấn đề, sự kiện xảy ra.Tác giả không bao giờ
vắng mặt cái tôi giữ vai trò quan trọng trong sự việc thể hiện tình cảm, cảm
xúc cũng nhƣ ghi chép sự kiện.Đồng thời lời kể ngôi thứ nhất đem lại cho thể
loại nhật ký độ chân thật và tin cậy cao.Chính điều này đã làm nên sức hấp
dẫn của cuốn nhật ký đối với bạn đọc.Đặc điểm này cũng làm cho thể loại này
khác với truyện, tiểu thuyết và thơ.Trong truyện chủ yếu lời kể ở ngôi thứ
nhất, có thể ở ngôi thứ hai, thứ ba thậm chí đan xen nhiều giọng kể.Không
những thế truyện sử dụng thủ pháp nghệ thuật đó là hƣ cấu trong lời kể ngôi
thứ nhất.Nhƣng trong nhật ký lại không hề có hƣ cấu, phóng đại mà nó đƣợc
viết bằng những cảm xúc thật của chính tác giả qua những gì mà họ đã chứng
kiến và đã từng trải qua.Chính điều này làm cho Nhật ký NguyễnNgọc Tấn đã
có một sự lôi cuốn và hấp dẫn riêng đối với bạn đọc, với các nhà nghiên cứu
và các nhà phê bình văn học.
Trong truyện ngôi kể là vị trí giao tiếp mà ngƣời kể sử dụng khi kể
chuyện. Ngƣời kể chuyện có thể kể theo ngôi thứ nhất, thứ hai và thứ ba.
Ngƣời kể chuyện chỉ có thể kể đƣợc khi nào họ cảm thấy nhƣ ngƣời trong
cuộc, đang chứng kiến sự việc xảy ra bằng tất cả các giác quan của mình.
18
Nhƣ vậy, với hình thức tự sự ở ngôi thứ nhất, Nhật ký Nguyễn Ngọc
Tấn không chỉ tái hiện đƣợc không khí chung của dân tộc những năm tháng
ác liệt mà còn là bức chân dung tinh thần của chính ngƣời viết. Đằng sau cái
ác liệt, dữ dội của chiến tranh với cuộc sống khó khăn thiếu thốn, vất vả gian
lao nhƣng ẩn sâu bên trong lại là tinh thần lạc quan, lòng quyết tâm đồng lòng
làm nên chiến thắng cho đất nƣớc. Nguyễn Ngọc Tấn đã viết lên những gì
góc độ nào, xa hay gần, cao hay thấp, từ bên trong hay bên ngoài” [10; 310],
bởi sự trần thuật bao giờ cũng tiến hành từ một điểm nhìn nào đó. Trong mỗi
tác phẩm, mỗi sự biểu hiện, miêu tả đều từ tác giả mà ra, song để tạo nên hình
tƣợng nghệ thuật tác giả thƣờng tạo ra kẻ môi giới đứng ra kể chuyện, quan
sát, miêu tả. Ngƣời kể chuyện có thể là giấu mình (thƣờng gọi là “ ngƣời kể
theo ngôi thứ ba”) hay là ngƣời lộ diện nhƣ là một trong số các nhân vật của
truyện (thƣờng xƣng “tôi”). Nhƣng dù là ai ngƣời kể chuyện phải lựa chọn
điểm nhìn trần thuật- tức là vị trí để quan sát để kể chuyện. Trong hồi ký, tùy
bút, ngƣời trần thuật trực tiếp xƣng tôi.
Điểm nhìn trần thuật giống nhƣ ống kính có vai trò dẫn dắt ngƣời đọc
quan sát các chi tiết và diễn biến có ý nghĩa đặc biệt của truyện. Khi đọc truyện
cần theo dõi điểm nhìn trần thuật để lĩnh hội đƣợc ý nghĩa của tác phẩm.
Điểm nhìn nhân vật là điểm nhìn theo cá tính, địa vị tâm lý của nhân
vật. Điểm nhìn ngƣời trần thuật lại có thể tựa vào điểm nhìn nhân vật để miêu
tả thế giới, theo cảm nhận chủ quan của nhân vật.
Điểm nhìn của ngƣời kể, ngƣời kể có một điểm nhìn bao quát để lựa
chọn, điều khiển các nhân vật hành động. Trong quá trình hành động, nhân
vật lại có điểm nhìn riêng, chọn một điểm xuất phát để từ đó theo hƣớng thiện
hay hƣớng nghịch để triển khai hoặc rút ngắn sự kiện, có tác dụng cô đặc hay
vƣơn ra ngoài cốt truyện.
20