TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
ĐỖ THỊ THANH NGA
MSSV: 6116191
TÌM HIỂU NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT TRONG MỘT
SỐ BÀI THƠ CỦA HOÀNG CẦM
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ văn
Cán bộ hướng dẫn: ThS. GVC CHIM VĂN BÉ
Cần Thơ,
2014
LỜI CẢM ƠN
Thắm thoát đã ba năm trôi qua, cũng đã đến lúc chúng tôi chu ẩn b ị r ời xa
giảng đường đại học để chuẩn bị bước vào một con đường mới hơn, đóng góp
những tri thức mà thầy cô truyền đạt vào sự nghiệp của đất n ước. Nh ưng đ ể có
thể tiến bước đến con đường mới ấy, chúng tôi phải trải qua khóa luận tốt
nghiệp, nó là một bước cuối cùng để đánh dấu sự trưởng thành c ủa một sinh
viên đại học.
Trong suốt thời gian làm khóa luận này,t ôi đã gặp không ít khó khăn t ừ
nhiều mặt, nhưng tôi cũng có thể vượt qua để đi đến hoàn thành luận văn cho
mình. Để làm được điều đó, không ngoài gì khác đó chính là bên cạnh tôi luôn có
I.Quan niệm của Nguyễn Phan Cảnh
1. Về ngôn ngữ giao tiếp và ngôn ngữ nghệ thuật
2. Về phương thức tạo hình và phương thức biểu hiện trong nghệ thuật ngôn
ngữ
3. Về cách tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa hay bản chất các ph ương th ức
chuyển nghĩa có tính chất ẩn dụ
4. Về lắp ghép hay bản chất các phương thức chuyển nghĩa có tính chất hoán dụ
5.Về nhạc thơ
II. Quan niệm của Hữu Đạt
1.Về hai phương thức cơ bản trong thơ
1.1.Phương thức tạo hình
1.2.Phương thức biểu hiện
2.Về tính tương xứng trong thơ
2.1.Tính tương xứng về âm thanh
2.2.Tính tương xứng về ý nghĩa
2.3.Tương xứng trực tiếp và tương xứng gián tiếp
3.Về tính nhạc của ngôn ngữ thơ
III. Quan niệm của Bùi Công Hùng
1.Về từ ngữ trong câu thơ
2.Về nhịp điệu
3.Về vần
4.Về ngữ điệu
IV. Quan niệm của Chim Văn Bé
1.Về phương thức biểu đạt của thơ trữ tình
2.Về đặc trưng của ngôn từ thơ trữ tình
2.1.Tính tạo hình – biểu cảm
2.2.Tính biểu trưng – đa nghĩa
3.Về tính hòa phối đa phương diện
vừa là tiếng nói bay bổng của trí tưởng tượng diệu kì, lại v ừa là ti ếng nói c ủa
tình cảm khi con tim đang xúc động. Chiều sâu của sức suy nghĩ, tính chất mẫn
cảm và tinh tế của sức sáng tạo trong những trạng thái rung động của tâm hồn…,
tất cả chỉ có thể đến được với người đọc thông qua vai trò của ngôn ngữ. Với cái
vị trí quan trọng đó, ngôn ngữ được các nhà thơ sử d ụng thông qua tác ph ẩm th ơ
để bộc lộ những suy nghĩ tình cảm của bản thân, từ đó tạo nên đặc trưng v ề
ngôn ngữ trong thơ của chính mình. Nhà thơ Hoàng Đức Lương đã từng nhận
định rằng: “Thơ là sắc đẹp ở ngoài sắc, vị ngọt ở ngoài vị, không thể trông bằng
mắt thường được, chỉ có thi nhân trông thì mới thấy đẹp, nếm m ới thấy ngon…”
Quả thật như vậy, chúng ta sẽ không thể nào dễ dàng nhận ra được cái hay c ủa
một bài thơ nào đó, mà phải đọc và suy ngẫm, liên tưởng thì ta mới nhận ra th ứ
ánh sáng, màu sắc, hương thơm man mát bên trong ngôn ng ữ thơ. Vậy, giá tr ị văn
học không chỉ phụ thuộc vào quy mô dài ngắn mà thực sự phụ thuộc vào giá tr ị
của ngôn ngữ. Ngôn ngữ đóng một vai trò cốt lỗi, chính nó sẽ đ ịnh hình và t ạo
nên hình ảnh, ý nghĩa, tình cảm của tác phẩm thơ.
Trong thơ ca Việt Nam thời hiện đại, Hoàng Cầm được đánh giá là một tác
giả tài hoa và độc đáo, ông đã dệt được một hồn thơ mang bản s ắc riêng. H ồn
thơ ấy đã góp phần tăng thêm sự phong phú, đa dạng cho nền thơ ca dân t ộc thời
hiện đại. Chính vì thế, tìm hiểu và nghiên cứu thơ ông luôn là một đề tài khá hấp
dẫn đối với những ai quan tâm đến lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ thơ. Đ ến nay,
đã có một số công trình nghiên cứu về thơ Hoàng Cầm. Nhưng hầu nh ư ch ưa ai
nói rằng đã hoàn thành tường tận việc nghiên cứu thơ ông, bởi vì hầu hết các
công trình nghiên cứu chỉ tập trung về phương diện nội dung, còn về phương
diện hình thức, cụ thể là vấn đề ngôn từ thì chúng ta hiếm khi bắt gặp, nó ch ỉ
được điểm qua sơ lược ở một vài công trình. Với những mảng sáng tác thơ c ủa
mình, Hoàng Cầm xứng đáng được xem là một trong những nhà thơ xuất sắc của
nền thi ca hiện đại. Tuy vậy đời thơ nhiều tìm tòi, trăn trở của Hoàng C ầm đ ến
nay vẫn chưa có sự quan tâm nghiên cứu một cách sâu sắc và hệ thống.
Kế đến là công trình nghiên cứu trong cuốn Ngôn ngữ thơ Việt Nam của
Hữu Đạt. Đây cũng là một công trình nghiên c ứu phong cách th ơ ca. Tác gi ả đã
tiếp thu, dựa trên nền tảng công trình của Nguyễn Phan Cảnh trong cuốn Ngôn
ngữ thơ, thêm vào đó là những hiểu biết, kình nghiệm và quan điểm c ủa riêng
mình tác giả đã đi sâu nghiên cứu về hai phương thức cơ bản trong thơ ca, đưa ra
những vấn đề cơ sở của tính tương xứng cũng như tính nhạc trong thơ.
Bùi Công Hùng cũng đã đưa ra một số vấn đề liên quan đến ngôn ngữ thơ
ở chương ba trong cuốn Tiếp cận nghệ thuật thơ ca. Ở chương này, tác giã đã
giới thiệu và xem xét về các thành phần chính trong câu thơ: từ ngữ, nhịp điệu,
vần và ngữ điệu trong thơ.
Gần đây nhất là công trình nghiên cứu của Chim Văn Bé trong cu ốn Ngôn
ngữ học văn chương Việt Nam. Sau khi xem xét các công trình của các tác giả vừa
nêu trên, Chim Văn Bé vẫn thấy còn có các v ấn đ ề ch ưa đ ược gi ải quy ết th ỏa
đáng. Chính vì lẽ đó, tác giã đã tiếp tục nghiên c ứu làm sáng t ỏ các ph ương di ện
của ngôn ngữ thơ. Chỉ là một chương trong công trình nghiên c ứu c ủa mình
nhưng tác giả đã tập trung xem xét, lý giải rất chi tiết và rõ ràng t ừng đặc đi ểm
một về bốn đặc trưng: Tính tạo hình – biểu cảm, tính biểu trưng – đa nghĩa, tính
hòa phối đa phương diện, tính mạch lạc ngầm ẩn.
2.2.Về ngôn từ thơ Hoàng Cầm
Hoàng cầm là một nhà thơ lớn của dân tộc, với nhiều tập thơ và bài th ơ
hay mà ông để lại đã khẳng định được vị trí của ông trong n ền th ơ ca n ước nhà.
Hoàng Cầm có thể được xem như là người kế tục thơ mới không phải nh ư m ột
sự ngân dài, mà như một sự phát triển sau một đứt đoạn. Chỗ đ ứt đoạn một cách
tuyệt vời ấy là Bên kia sông Đuống, Về Kinh Bắc lại nối mạch vào thơ mới và đi
xa hơn về phía hiện đại đó là siêu thực.
Vẻ đẹp thơ Hoàng Cầm toát ra từ thế giới tâm hồn, từ tình cảm bao la mà
rất chân thành của một nhà thơ suốt đời tận tụy vì nghệ thuật, xem thơ là lẽ sống
của mình. Sức quyến rũ kì lạ của thơ Hoàng Cầm khiến cho những ai yêu thơ
về kĩ thuật thơ” [14, tr. 116]. Nhưng cũng có khi vì quá đổi cầu kì mà “ cho chữ
nghĩa chơi son phấn, cho vần điệu lụa là quá xá rồng bay phượng múa, khiến cái
Chân Mộc có lúc bị tổn thương” [14, tr. 124].
Đánh giá chung về thơ Hoàng Cầm, Phạm Thị Hoài cho rằng: “ Hoàng cầm
quả thật là một trong số không nhiều lắm những người lập được cho mình một
vương quốc thơ riêng, với nền móng, bản sắc và các nghi thức không th ể tr ộn
lẫn” [18, tr. 127]. Về phương diện tình cảm trong thơ Hoàng Cầm, nhân đọc
Mưa Thuận Thành, Phạm Thị Hoài nhận xét: “ Thế giới tình cảm của Hoàng
Cầm trong Mưa Thuận Thành, dù gồm nhiều mảng rất khác nhau, chỉ xót xa
phiền muộn, yểu điệu, yết ớt, tinh vi, nhiều mặc cảm, nhiều nữ tính”. [18, tr.
253]
Trong Mấy ý nghĩ nhỏ về thơ Hoàng Cầm, Nguyễn Đăng Mạnh đã ghi lại
cảm nhận của mình về hai lần đọc thơ Hoàng Cầm.
Qua đây, chúng ta có thể thấy rằng, việc nghiên c ứu thơ Hoàng C ầm đã
được khá nhiều tác giả quan tâm. Các tác giả đã đ ưa ra đ ược nhi ều ki ến gi ải có
giá trị. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên đa s ố ch ỉ d ừng lại ở mặt n ội
dung thơ, còn về mặt nghệ thuật cũng như ngôn từ trong thơ Hoàng cầm vẫn còn
rất ít người đề cập cũng như nghiên cứu đến. Chính vì vậy, dựa trên cơ sở của
các công trình nghiên cứu trên và những hiểu biết về ngôn ngữ thơ, chúng tôi xin
được tiếp tục tìm hiểu thơ của Hoàng Cầm từ gốc độ ngôn từ.
3. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi muốn tìm hiểu rõ hơn về cuộc đời và s ự
nghiệp thơ ca của ông cũng như để khẳng định lại một lần n ữa tài năng và
những đóng góp của Hoàng Cầm trong dòng chảy của nền thơ ca Việt Nam. Và
hơn thế nữa là để dựa vào các đặc trưng trong ngôn từ thơ ca mà có thể hiểu sâu
sắc hơn về những ý nghĩ, tình cảm mà ông muốn g ửi gắm trong tác phẩm c ủa
mình. Đồng thời, chúng tôi cũng muốn tìm hiểu đôi nét v ề văn hóa vùng Kinh
Việt Nam. Nhưng trong số các công trình nghiên cứu đó, chúng tôi nhận th ấy
Hữu Đạt, Nguyễn Phan Cảnh, Bùi Công Hùng và Chim Văn Bé là nh ững ng ười
nghiên cứu ngôn ngữ thơ Việt Nam điển hình hơn cả. Tuy nhiên quan điểm c ủa
các tác giả vẫn có những sự khác biệt nhất định. Sau đây, chúng tôi s ẽ đi ểm qua
những đặc trưng của ngôn từ thơ ca theo quan niệm của các tác giả này.
I. Quan niệm của Nguyễn Phan Cảnh
Trong cuốn Ngôn ngữ thơ, Nguyễn Phan Cảnh đã xem xét và lý giải ngôn
ngữ thơ Việt Nam trên nhiều phương diện khác nhau. Trong đó có: ngôn ngữ giao
tiếp và ngôn ngữ ngệ thuật, phương thức tạo hình và phương thức biểu hiện của
nghệ thuật ngôn ngữ, cách tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa hay bản ch ất các
phương thức chuyển nghĩa có tính chất ẩn dụ, lắp ghép hay bản ch ất các
phương thức chuyển nghĩa có tính chất hoán dụ và nhạc thơ. Sau đây chúng tôi
xin điểm qua một số nét cơ bản và quan trọng trong các phương diện v ừa nêu
trên.
1. Về ngôn ngữ giao tiếp và ngôn ngữ nghệ thuật
Nguyễn Phan Cảnh đã chia vấn đề này thành hai ph ương diện nh ỏ: khái
niệm về “người thuyết minh” và hai thao tác cơ bản của hoạt động ngôn ngữ.
Về khái niệm “ người thuyết minh”, Nguyễn Phan Cảnh viết: “ với cái chất
liệu ngôn ngữ với một hoạt động như thế, nghệ thuật thơ văn sẽ có một nét riêng
rất tiêu biểu trong cách cảm thụ nghệ thuật cũng như trong sự xuất hiện hình
tượng nghệ thuật”. Hình tượng nghệ thuật trong ngôn ngữ nghệ thuật xuất hiện
trong ý thức chúng ta, trong sự hình dung suy nghĩ của chúng ta.
Nguyễn Phan Cảnh cho rằng, hai thao tác cơ bản của hoạt động ngôn ngữ là
thao tác lựa chọn và thao tác kết hợp.
Về thao tác lựa chọn, Nguyễn Phan Cảnh cho rằng: “ Thao tác lựa chọn
dựa trên một khả năng của ngôn ngữ là các đơn vị ngôn ngữ có th ể luân phiên
nghệ thuật ngôn ngữ
Khi xem xét đến vấn đề này, Nguyễn Phan Cảnh cho rằng có hai ph ương
thức quan trọng trong hoạt động nghệ thuật nói chung và trong nghệ thuật ngôn
ngữ nói riêng. Đó là phương thức tạo hình và phương thức biểu hiện.
Về phương thức tạo hình, Nguyễn Phan Cảnh nhận định nét nổi bật của
phương thức tạo hình trong nghệ thuật là “ trực tiếp miêu tả các hiện tượng của
hiện thực vẽ nên ( hiểu theo nghĩa rộng của từ này) bức tranh về cuộc sống, mở
ra trước mắt người xem những tác phẩm giống với các đối tượng trong thực tế.”
[4, tr. 28]. Đồng thờ ông cũng cho rằng, trong nghệ thuật ngôn ngữ, mỗi t ừ mang
một khái niệm có thể cho chúng ta một bức tranh riêng lẻ của hiện thực. Thao tác
kết hợp trong khi kết hợp với các từ để tạo nên các đơn v ị ngôn ngữ học lớn
hơn, đã mở ra một khả năng quyết định là kết hợp các bức tranh riêng lẻ đ ể mô
tả bức tranh vô hạn của hiện thực.
Về phương thức biểu hiện, Theo Nguyễn Phan Cảnh: “ nét chủ yếu của
nghệ thuật biểu hiện là ở chổ nó không tạo ra những bức tranh v ề cu ộc s ống,
mà qua chất liệu của mình, nó biểu hiện những cảm nghĩ nh ất đ ịnh c ủa con
người, thể hiện cách nhận thức và đánh giá của con người đối với cuộc s ống”
[4, tr. 33]. Đồng thời, ông cho rằng, trong hoạt động ngôn ngữ nghệ thuật, những
cảm nghĩ, sự nhìn nhận đánh giá của con người về cuộc sống th ường không
được hiện ra trực tiếp mà phải thông qua những hình ảnh, hình t ượng. “ chính
ngay cái lúc mà chức năng định danh của các từ bị xóa nhòa đi, thì đông th ời
cũng nảy sinh khả năng biểu hiện của chúng” [4, tr. 36].
3. Về cách tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa hay b ản ch ất các
phương thức chuyển nghĩa có tính chất ẩn dụ
Theo Nguyễn Phan Cảnh: Tổ chức kép lượng ngữ nghĩa là “ kỹ năng dựa
vào sức liên tưởng của người nhận, đem liên kết các tín hi ệu ngôn ngữ ho ặc
cùng xuất hiện trên thông báo, hoặc chỉ xuất hiện trên thông báo và tồn tại trong
thứ tự về sức chú ý và theo dõi của người nhận, đem đ ến các c ảnh mô t ả theo
quy luật nhất định, để nhằm tạo nên ý ngầm giữa các khoảng cách c ủa nh ững
cảnh đó” [4, tr. 103]
Và ông cho rằng, một nghệ thuật tạo mối lắp ghép giữa các đoạn riêng lẻ
làm thành tác phẩm, nhằm sử dụng một cách mỹ học các khoảng cách thời gian.
Trong tất cả các vấn đề kĩ thuật của phương pháp này, tiến độ của các
văn bản thơ từ lâu đã được nhận thức như một vấn đề c ốt t ử. Trong m ột đơn v ị
thời gian, số cảnh càng nhiều thì lượng tin càng lớn, tiến độ càng nhanh, s ức chú
ý của người nhận càng tăng. Nếu các cảnh dàn trải số cảnh trong đ ơn v ị th ời
gian sẽ ít đi, lượng tin bé, tiến độ chậm, sức chú ý của người nhận giảm súc.
Như vậy, theo quan niệm của Nguyễn Phan Cảnh, phương thức chuyển
nghĩa có tính chất hoán dụ về bản chất chỉ là các cách khai thác khả năng thi ca
trên trục kết hợp của ngôn ngữ. Thật ra, cách được sử dụng chính là các quan hệ,
vì thế người trau chuốt câu và cảm xúc mỹ học được xây d ựng bằng hi ệu qu ả
của lắp ghép, của các cấu trúc hoán dụ tính.
5. Về nhạc thơ
Theo Nguyễn Phan Cảnh: “Chính yêu cầu về truyền đạt thông tin đã được
xử lý về thời gian và không gian đã làm xuất hiện nhạc thơ” [4, tr. 117]. Tác giả
còn cho rằng: Chức năng của nhạc thơ là phát các tín hiệu báo động tr ước k ết
thúc đơn vị không phân lập để hướng đơn vị không phân lập theo sau vào th ế d ễ
dàng. Nhạc thơ tồn tại như “một cơ chế hãm / chặn chống lại các hợp thành thi
pháp không chương trình hóa, sau đó loại trừ mọi sai lệch khả năng, đảm bảo độ
trung bình cao cho hệ lưu giữ - truyền đạt” [4, tr. 117]
Nguyễn Phan Cảnh cho rằng: “các thuộc tính âm thanh được lưu giữ truyền đạt trong khi tổ chức các quá trình thi ca, làm nên ti ết t ấu”. “V ần là các
đơn vị âm thanh được lưu giữ - truyền đạt trong khi tổ chức các quá trình lo ại
thể”.
Nguyễn Phan Cảnh đã định nghĩa tiết tấu một cách cụ thể như sau: là sự
Hữu Đạt cho rằng, ngôn ngữ thơ Việt Nam có hai phương th ức quan trọng:
phương thức tạo hình và phương thức biểu hiện.
1.1. Phương thức tạo hình
Đề cập đến phương thức tạo hình, Hữu Đạt quan niệm đặc điểm nổi bật
của phương thức tạo hình là phản ánh trực tiếp đối tượng, nghĩa là “phương
thức tạo hình miêu tả đối tượng như nó vốn có trong thực tế khách quan ” [5, tr.
38]
Bên cạnh đó, Hữu Đạt cũng đưa ra cơ sở hình thành của phương th ức tạo
hình như sau:
Từ
ngữ (cụm từ)
câu
đoạn văn
văn bản
Như vậy, theo quan niệm của Hữu Đạt, một văn bản thơ có tính tạo hình
là văn bản có khả năng gợi ra trước mắt người đọc hình ảnh về một sự vật, hiện
tượng nào đó. Hình ảnh này thường khá cụ thể và có thể dễ dàng hình dung ngay
được.
“Anh bước lên nhức nhối chân đau
Dáng hiêng ngang vẫn ngẩn cao đầu
Quần áo trắng một màu thanh khiết
Thân gầy yếu mạnh hơn cái chết.”
(Tố Hữu)
Thứ hai: cần phải phân tích những biện pháp chuyển nghĩa mà nhà thơ áp
dụng để biểu thị những suy nghĩ, tình cảm của mình trước đối tượng cũng như
việc mêu tả những tính chất và phẩm cách của đối tượng.
Tiền đề vật chất của phương thức biểu hiện chính là tính tình thái. H ữu
Đạt quan niệm rằng: “ Thực ra tính tình thái tồn tại ở các đơn v ị thuộc m ọi cấp
độ của ngôn ngữ. Quan niệm này không chấp nhận quan niệm cho rằng tính tình
thái chỉ tồn tại ở các đơn vị có nghĩa ( như hình vị, từ, cụm từ, câu)” [5, tr. 88].
Theo Hữu Đạt, có hai nguyên nhân cơ bản làm nảy sinh tính tình thái: việc
hình thành các thể đối lập trong các cấp độ ngôn ngữ và việc hình thành ra thế bổ
sung giữa các đơn vị ngôn ngữ.
Ở thế đối lập, hình thành ra thế đối lập giữa:
+ Mũi/ không mũi, tắc/ vang đã làm nảy sinh ra tình thái của các âm vị.
Các câu thơ có nhiều từ có các phụ âm mũi – vang bi ểu hi ện nh ững tình
cảm dàn trải, mênh mông. Ngược lại, các câu thơ có nhi ều t ừ có âm cu ối là ph ụ
âm tắc thường biểu hiện những tình cảm khúc mắc, nghẹn ngào.
+ Trước/ sau trong nguyên âm và đối lập về bằng/ trắc trong thanh điệu.
Các từ mang nguyên âm dòng trước: i, ê, e biểu hiện nh ững tình c ảm t ươi
sáng, nhí nhảnh, còn các từ mang nguyên âm dòng sau và dòng gi ữa: ư, u, o, ô
biểu hiện những cảm giác u tối, trầm buồn.
+ Ở bậc cấu tạo từ, có sự đố lập giữa vần khép/vần mở
+ Ở bậc từ, sự đối lập về ngữ nghĩa giữa các đơn vị như: dài/ ngắn, cao/
thấp, gần/ xa
Ở thế bổ sung, sự tồn tại hàng loạt các từ đồng nghĩa trong thế bổ xung ý
nghĩa lẫn nhau đã làm cho khả năng biểu hiện c ủa ti ếng Việt vô cùng phong phú
về nhiều phương diện khác nhau.
2. Về tính tương xứng trong thơ
Tính tương xứng là một đặc điểm vô cùng quan trọng của ngôn ngữ thơ.
thế tương xứng hình thành do một trong những thế đối lập đã phân tích).
“Gió thổi nhiều khi giọng nói bay
Không cần chữ nghĩa vẫn nghe hay
Sau xe những tiếng em phơ phất
Cởi hết ưu phiền gửi gió mây”
( Xuân Diệu: Giọng nói)
Hữu Đạt cho rằng tương xứng trên một dòng thơ làm nên cái vẻ đẹp riêng
của mỗi câu thơ để từ đó làm cơ sở cho việc hình thành vẻ đẹp chung của toàn
bài thơ, kiểu tương xứng này thường hoạt động trong trường hợp trong hai dòng
thơ có số âm tiết không bằng nhau.
“Người nách thước / kẻ tay đau”
BTT / TTB
“Gió cây trúc lá / trăng ngàn ngậm sương”
TBTT / BBTB
Ông cũng chỉ ra rõ, kiểu tương xứng này chỉ xuất hiện trên các dòng thơ có
tổng số âm tiết chẳn, hoặc trên các vế chẳn của dòng thơ. Kiểu loại này gồm hai
loại nhỏ: tương xứng giữa hai vế của dòng thơ và tương xứng giữa các bộ phận
trong một vế của dòng thơ.
2.2. Tương xứng về ý nghĩa
Nghiên cứu về tính tương xứng về ý nghĩa trong ngôn ngữ thơ, Hữu Đạt đã
chia nó thành bốn kiểu: tính tương xứng về ý nghĩa từ vựng, tính tương xứng về
từ loại, tính tương xứng ở bậc từ, tương xứng ở bậc cấu trúc.
Thứ nhất là tính tương xứng về ý ngĩa từ vựng. Trong loại này gồm có tính
tương xứng theo nét nghĩa đối lâp nhau (trái nghĩa nhau) và tương x ứng theo nét
nghĩa bổ sung nhau (gần nghĩa, đồng nghĩa). Tất cả chúng đều có thể xảy ra trên
cả trục hệ hình và trục cú đoạn.
Thứ hai là tương xứng về từ loại, tương xứng từ loại là sự tương xứng
vào giữa.
Tương xứng gián tiếp được giải thích như sau: Nếu chúng ta có các c ặp
yếu tố: AB, CD…( một từ, cụm từ hoặc một câu) tương xứng với nhau thì trên
trục hệ hình và trục cú đoạn giữa A và B, giữa C và D có một yếu tố X nào đó
xen vào giữa. Kiểu tương xứng này thường xảy ra trên trục hệ hình.
3. Về tính nhạc của ngôn ngữ thơ
Đề cập đến tính nhạc trong thơ, Hữu Đạt đã dành riêng ra một chương để
nói về vấn đề này. Trong chương này, Hữu Đạt đã nói khá nhi ều v ề đặc đi ểm
của tính nhạc trong ngôn ngữ thơ Việt Nam.
Khi xem xét về tính giàu có về thanh điệu của nguyên âm và phụ âm, H ữu
Đạt nhận thấy rằng, đây là một đặc điểm quan trọng trong việc nghiên c ứu tính
nhạc trong ngôn ngữ thơ.
Và ông đã giả thích rằng: “ chính sự khác nhau về âm vực, về đường nét
của các thanh điệu, sự khác nhau về cách kết hợp nguyên âm v ới ph ụ âm, ph ụ
âm với nguyên âm trong từng âm tiết ( thế đối lập đóng / m ở, vang / không
vang…) cũng như các kết hợp các âm tiết để tạo thành câu thơ… sẽ tạo nên sự
khác nhau về cao độ, trường độ của nốt nhạc và tạo ra sự khác nhau về tiết tấu,
về đường nét âm nhạc nói chung”. [5, tr. 160]
Theo Hữu Đạt để nghiên cứu tính nhạc trong ngôn ngữ thơ Việt Nam chúng
ta cần chú ý tới 10 phương pháp diễn tả âm nhạc mà Xcrepxốp đã nêu ra.
Ngôn ngữ thơ là một loại ngôn ngữ giàu tính nhạc. Bởi lẻ, ngôn ngữ thơ với
tính cách là một thứ ngôn ngữ giàu nh ịp điệu, phong phú về các hòa âm, ti ết t ấu,
giàu từ láy âm, tượng hính, nó là một loại ngôn ng ữ có cơ c ấu d ễ làm chỗ d ựa
cho các phương pháp diễn đạt âm nhạc.
Cuối cùng, Hữu Đạt khẳng định rằng: cần phải quan niệm một cách rõ
ràng, tính xác định về quãng các trong âm nhạc là cái hoàn toàn khác v ới tính
không xác định về cách chia cắt nhịp điệu thơ theo cảm tính về tính nhạc c ủa nó.
tiếp của các tiếng sắp xếp thành từng khung đều đặn của giọng nói và theo thời
gian” [10, tr. 179]
Thơ kể cho ta nghe một câu chuyện có sự cô đọng nội tại c ủa riêng nó và
độc lập với hình thức nhịp điệu. Cho nên ngôn ngữ thơ ca gi ữ đ ược nhi ều tính
nhịp điệu, tính âm hưởng, tính tưởng tượng cố hữu của lời nói thơ ca.
Nhịp trong thơ còn phụ thuộc vào nhịp thở, nhịp thở có liên quan đ ến tình
cảm, cảm xúc. Nhịp thở chịu sự chi phối tình cảm. Thơ là lĩnh v ực th ể hiện tình
cảm rất mạnh, rất tập trung. Các rạng thái rung cảm, cảm xúc, xúc động đều ảnh
hưởng đến việc chọn lựa nhịp thở của câu thơ, bài thơ.
Bùi Công Hùng đã lý giải: “ nhịp trong thơ là nhịp trên cơ sở lao động, dựa
vào hơi thở gắn liền với xúc cảm, dựa vào bản chất c ủa ch ất li ệu ngôn ng ữ.
Nhịp thơ là nhịp điệu có tính mỹ học do con người sáng tạo ra để biểu hi ện t ư
tưởng, tình cảm con người.” [ 10, tr. 181- 182]
Nhịp điệu có tính mỹ học, nhịp điệu nghệ thuật trong thơ khác với nh ịp
điệu trong văn xuôi. Nhịp điệu của thơ xuất hiện trên cơ sở lập lại và luân phiên
các đơn vị âm luật theo sự cấu tạo đơn vị ngữ điệu của ngôn ngữ.
Bên cạnh đó Bùi Công Hùng còn khẳng định: “ Trong thơ của ta, đơn vị
nhịp điệu có thể là từ một từ trở lên (thường là 1 âm tiết), và thường là từ hai từ
trở lên” [10, tr. 184], để người đọc thấy được cách ngắt nh ịp, tạo nh ịp điệu là
rất đa dạng, có nhiều kiểu,tùy câu, tùy đoạn.
3. Về vần
Bàn về vần trong thơ, Bùi Công Hùng cũng đã tiếp nhận và tìm hi ểu nhi ều
nghiên cứu khác nhau. Nhưng theo ý kiến của ông, vần làm nổi bật yếu tố cảm
giác. Vần là một độ vang nặng và dày.
Đồng thời ,vần khôi phục uy quyền của yếu tố cảm giác được, làm cho các
biểu tượng tương đối gần nhau hơn. Âm đã nghe và ý đã quay trở lại làm cho con
người nhận thức hoạt động của mình một cách tự giác hơn.