PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Từ khi nhân loại được sinh ra đã xuất hiện những loại hình nghệ thuật
phong phú như thơ ca, hội họa, điêu khắc, âm nhạc,…Chính những tác phẩm
nghệ thuật đã đưa con người đi từ “chân trời một người đến chân trời của
tất cả”. Mỗi bài thơ là một cung bậc cảm xúc tạo nên những âm thanh riêng
trong bản nhạc thi ca. Mỗi nốt nhạc lại có một cái hay riêng, độ ngân riêng
và cảm xúc cũng thật phong phú. Để có được sự lay động ấy, nhà thơ cùng
với cảm xúc thiên phú của mình phải trải qua một cuộc lao động miệt mài,
gian khổ, vận dụng tài tình, linh hoạt bút pháp, ngôn ngữ,…để tạo nên
những thế giới ngôn từ nghệ thuật đặc sắc.
Đọc truyện Kiều, người đọc không chỉ thấy số phận người phụ nữ tài
hoa, bạc mệnh Thúy Kiều mà còn cảm nhận được những xúc cảm, những
nỗi niềm tâm sự của Nguyễn Du gửi trong từng câu chữ truyện Kiều.
Nguyễn Du đã tập trung, kết tinh, nâng cao ngôn từ nghệ thuật một cách
thần kỳ và đặc sắc. Ông đã đưa ngôn từ nghệ thuật cổ điển thơ ca Việt Nam
cũng như tiếng Việt văn học lên tới một đỉnh cao chưa từng có, trở thành
mẫu mực chói lọi cho muôn đời thưởng thức và noi theo. Lời văn của
Nguyễn Du cổ điển cân đối trang nhã mà vẫn thể hiện được trăm nghìn tâm
trạng, cảnh huống,…của nhân vật. Truyện Kiều của Nguyễn Du mang quan
niệm nghệ thuật của Nguyễn Du, với ngôn từ đặc sắc, một quan niệm thể
hiện cách nhìn, cách cảm, hệ thống giá trị tư tưởng, thẩm mỹ của ông gắn
liền với truyền thống văn hóa dân tộc.
Từ những rung cảm mãnh liệt và sự ngưỡng mộ tài năng nghệ thuật
của Nguyễn Du và với hy vọng tìm hiểu thấu đáo những yếu tố nghệ thuật
đã làm nên thành công của truyện kiều. Chúng tôi mạnh dạn chọn và nghiên
cứu đề tài ngôn từ nghệ thuật trong truyện kiều Nguyễn Du.
Nghiên cứu về ngôn từ nghệ thuật trong truyện Kiều đem lại một cách
thưởng thức mới, sâu sắc và hấp dẫn hơn. Bởi thông thường câu hay, chữ
đắt,…cho ta khả năng thưởng thức tác phẩm toàn diện và lý thú với những
cảm nhận mới mẻ hơn.
Phạm vi nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng tác phẩm truyện
Kiều, tác giả Huỳnh Văn Tới, NXB Đồng Nai, 2000.
4. Lịch sử vấn đề nghiên cứu.
Theo dòng lịch sử tác phẩm văn chương luôn chịu sự thử thách khắc
nghiệt của thời gian và nhiều tác phẩm đã rơi vào lãng quên. Dường như đi
ngược với quy luật ấy, tác giả Nguyễn Du với tác phẩm truyện Kiều lại
không ngừng được bàn luận qua các thời kỳ lịch sử. Vì vậy đã có rất nhiều
công trình nghiên cứu về truyện Kiều và nhân vật Thúy Kiều. Với bài tiểu
luận này chúng tôi xin điểm qua một số nhận xét tiêu biểu của các nhà
nghiên cứu có liên quan đến đề tài như sau:
Mộng Liên Đường từng ca ngợi truyện Kiều như sau: Nguyễn Du viết
truyện Kiều “như có máu rỏ trên đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ
giấy, khiến ai đọc cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột”.
Đây là một nhận xét rất sâu sắc đã bao trùm được nội dung nghệ thuật độc
đáo của truyện Kiều.
Đào Nguyên Phổ khen truyện Kiều là “Lời lẽ xinh xắn mà văn hoa, vần
điệu tròn trịa mà êm ái, tàii liệu lựa rất rộng, sự tích kể rất thương, lượm lặt
những diễm khúc tình từ ở đời trước, lại góp đên cả phương ngôn, ngạo ngữ
của nước nhà, nồng nàn vụn vặt không sót, quê mùa, tao nhã đều thu”. Đó
là lý do mà bao đời nay truyện Kiều đi vào lòng người như vậy.
Trong Viện văn học sử yếu theo phương pháp biên khảo hiện đại Dương
Quảng Hàm cho rằng “Cách dùng điển đích đáng, tự nhiên, khiến cho người
học rộng thì thưởng thức được lối văn uẩn súc, mà người thường cũng hiểu
được đại ý của câu văn”.
Phạm Thế Ngũ trong “Lịch sử văn học Việt Nam giải ước tân biên”
(1969) nhấn mạnh tài năng của Nguyễn Du về hành văn, tả tình, tả cảnh, đối
thoại thuật sự trong truyện Kiều.
Phong Tuyết trong bài viết vào tháng 2 năm 1828, nhận xét về truyện
Kiều như sau: “Đem bút mực tả mực tả lên tờ giấy những câu vừa lâm ly
vừa ủy mỵ, đốn tỏa, giải thư, vẽ hệt ra một người tài mệnh trong mười mấy
Trương Tửu với những nhận xét rất sâu sắc trong bài “Văn chương
truyện Kiều” có những nhận xét rất xác đáng về ngôn từ trong truyện Kiều:
“Trong toàn thiên chữ nào cũng êm, câu nào cũng thoát, đoạn nào cũng dồi
dào ý tứ, tả đến tinh thần, nhời thì nhẹ nhàng mà ý thì bát ngát, càng đọc
càng thấy hay càng nghe càng thấy thú, không khi nào chán tai được. Thực
là văn chương tuyệt phẩm của nước Nam ta”.
Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều là công trình
nghiên cứu khá kỹ về ngôn ngữ trong truyện Kiều, tác giả Phan Ngọc chú
trọng đến biện pháp hình thức cân đối “Một biện pháp hết sức quan trọng
đem đến cho câu thơ vẻ súc tích, chặt chẽ rất cần thiết cho ngôn ngữ thơ với
tính cách một ngôn ngữ lý tưởng…tránh chất nôm na tẻ nhạt của ca dao” và
từ láy âm “làm cho câu thơ tràn ngập âm hưởng và cảm xúc”.
Trần Đình Sử với Thi pháp truyện Kiều trong đó ông đã đề cập đến
thành công của Nguyễn Du về ngôn từ như sau: “Nói Nguyễn Du, nhà nghệ
sĩ ngôn từ chính là nói đến cách ứng xử nghệ thuật của ông đối với ngôn
ngữ dân tộc và hiệu quả của nó. Đây chính là phương diện đặc biệt có ý
nghĩa đối với việc sáng tạo ngôn ngữ trong thi ca…”. Ông chú trọng đề cập
đến ngôn từ ý tượng, loại câu đảo trang trong truyện kiều.
Khi nghiên cứu về ngôn từ nghệ thuật trong truyện Kiều, mỗi nhà nghiên
cứu có một hướng khai thác riêng. Xong xét cho cùng thì nghệ thuật đặc sắc
làm nên tên tuổi Nguyễn Du trên thi đàn Việt Nam và cả thế giới được tạo
nên bởi tài năng sáng tạo với những cách tân độc đáo trong tác phẩm của
Nguyễn Du.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Với đề tài này chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp liệt kê, thống kê.
- Phương pháp phân tích, so sánh.
- Phương pháp tổng hợp.
6. Bố cục.
Ngoài phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận còn có phần mục lục
được cử làm Chánh sứ sang Tàu. Sau khi về nước, năm 1815, ông được
thăng Lễ Bộ Hữu Tham Tri.
Năm 1820, Minh Mạng lên ngôi, định cử ông đi chánh sứ sang Trung
Quốc để cầu phong nhưng chưa kịp đi thì tháng 9 năm đó ông mất tại Huế.
Nguyễn Du sinh ra và lớn lên giữa những dâu bể của thời đại và những
thăng trầm cuộc đời. Nhưng cũng chính quê hương, gia đình, thời đại ấy là
nguồn tư liệu sống, dạt dào cảm xúc như là gió nâng cánh diều văn chương
nghệ thuật của ông lên đến đỉnh cao, mãi mãi lấp lánh trên thi đàn nhân loại.
Về sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du, thành công trên hai thể loại chữ
Nôm và chữ Hán. Ngoài “truyện Kiều” nổi tiếng được xem là tập đại thành
của văn học cổ Việt Nam, những tác phẩm viết bằng chữ Nôm của ông còn
có “Văn chiêu hồn”, “Bài văn tế sống hai cô gái Trường Lưu” và “Thác lời
trai phường nón”. Những sáng tác bằng chữ Hán của ông gồm ba tập thơ:
“Thanh Hiên thi tập”, “Nam trung tạp ngâm” và “Bắc hành tạp lục”.
Nguyễn Du là nhà thơ lớn của dân tộc, là tập đại thành của văn học
phong kiến, là người kế thừa một cách sáng tạo truyền thống tốt đẹp của văn
học dân tộc và nâng truyền thống ấy lên một đỉnh cao chói lọi.
1.2. Vị trí của truyện Kiều trong lịch sử văn học Việt Nam.
Kiệt tác truyện Kiều của Nguyễn Du nguyên tên là đoạn trường tân
thanh nghĩa là “Tiếng kêu mới đứt ruột”, là tác phẩm có vị trí đặc biệt trong
lịch sử văn học dân tộc.
Truyện kiều là một tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Du được viết dựa
theo tác phẩm cổ của Trung Quốc có tên là Kim Vân Kiều Truyện. Cái tài
của Nguyễn Du là đã chuyển tác phẩm của Trung Hoa sang tác phẩm Việt
Nam rất phù hợp với truyền thống tâm lý và thẩm mỹ dân tộc. Bởi vậy
truyện Kiều mang giá trị hiện thực sâu sắc “trong tác phẩm của mình nhiều
lần Nguyễn Du có ý thức tuyên bố những điều mình viết ra là sở hiến, những
điều ngã sa, những điều trông thấy”. Có thể nói rằng, qua truyện Kiều,
Nguyễn Du là người đầu tiên phác ra một bức tranh phong kiến toàn diện.
Truyện kiều là tác phẩm đạt đỉnh điểm sự hoàn thiện của truyện Nôm
thuẫn,vừa là sự thừa tiếp về thời gian, vừa giữ vai trò nhịp điệu câu thơ.
Đồng thời, tạo cho ý thơ có tính chất đay nghiến,…mỗi chữ lại không có
nghĩa xác định, vô định, phấp phỏng. Đó cũng là nỗi lòng của thúy kiều vào
tương lai có gì đó mơ hồ, một hy vọng mong manh không có cơ sở:
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Có tài mà cậy chi tài
Mai sau dù có bao giờ.
Cách dùng hư từ, các từ ngữ “lỏng” biểu thị thái độ, tình cảm của tác
giả. Chữ lỏng được Nguyễn Du dùng với tính chất đưa đẩy, bề ngoài có vẻ
khen “khéo là” nhưng thực chất là lời giễu cợt, chua chát:
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Và đặc biệt, là các chữ : bao, bấy được dùng một cách độc chiếc trong:
“Quản bao tháng đợi năm chờ”.
Biết bao duyên nợ thề bồi.
Chữ bao ấy đều dùng chữ bằng nào. Tất cả đều có ý hỏi để tỏ ra nghĩa là
nhiều không phải ít . Cũng vậy, chữ bấy được dùng độc chiếc như :
Phủ phàng chi bấy hoá công ;
Hoa sao hoa khéo đoạ đày bấy hoa .
Chữ bấy ấy đều dùng bằng ấy mà cắt nghĩa được. Đều có ý tỏ lòng
thương tiếc hoặc trách móc .
Với vốn hư từ phong phú và đa dạng nói trên đã góp phần đưa Truyện
Kiều của Nguyễn Du lên một tầm cao mới. Hàng thập kỉ đã qua đi nhưng
nỗi đau của Kiều vẫn còn vang vọng, ám ảnh tâm hồn người đọc bởi những
nỗi niềm kí thác cùng non sông gấm vóc. Có lẽ chính bởi một kết cấu truyện
lôi cuốn cùng việc vận dụng nghệ thuật ngôn từ một cách điêu luyện đã tạo
nên những thành công vang dội ấy.
2.2. Cách dùng từ gợi tả - gợi cảm, từ tượng thanh- tượng hình.
Truyên Kiều là một bản nhạc dài. Văn Kiều dễ nhớ, dễ thuộc, huyễn
diệu người ta, một phần lớn cũng do nhạc điệu. Nhạc điệu ấy bang bạc, hòa
chan, thấm vào từng câu, từng chữ. Nó còn là nhạc điệu của tâm hồn, của
Đùng đùng gió giục mây vần,
Một xe trong cõi hồng trần như bay
Thiên tài nghệ thuật của Nguyễn Du là ở chỗ đã tái tạo cuộc đời và
sáng tạo ra một thế giới có thật, một thứ năng khiếu đặc biệt về ngôn ngữ, về
vần điệu, tạo nên âm sắc vang vọng trong lòng người:
Người nách thước kẻ tay đao
Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi.
Trong câu thơ trên “ào ào” diễn tả tiếng ồn, sự huyên náo, vội vã
cũng như sự lộn xộn, mạnh mẽ, táo bạo của đám “đầu trâu mặt ngựa” khi
xông vào nhà Thúy Kiều, không những thế nó diễn tả sự việc diễn ra một
cách nhanh chóng không thể đoán biết trước được, tạo yếu tố bất ngờ, không
ai có thẻ ngăn cản. Và từ “ào ào” không chỉ diễn tả âm thanh, mà còn gợi tả
được trạng thái, không khí, tình thế nguy nan đang xảy đến với gia đình
Thúy Kiều.
Giọng Kiều rền rĩ trướng loan,
Nhà Huyên chợt tỉnh hỏi: Cơn cớ gì ?
Ở đây Nguyễn Du không dùng từ nghẹn ngào hay dùng một từ tượng
thanh khác để thay thế. “Rền rĩ” là tiếng khóc dai dẳng và sầu thảm, vang và
kéo dài, đó là tiếng khóc thê thiết, thảm thương của Kiều cho số phận đã
được dự báo trước của mình. Tiếng khóc như vậy ắt hẳn báo hiệu một cuộc
đời cay đắng, sóng gió của “phận má hồng”.
Trong “Truyện Kiều” Nguyễn Du dùng rất nhiều từ tượng hình, từ
tượng thanh góp phần tạo nên sức gợi cho câu thơ:
“Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.
“Đầy đặn, nở nang” không chỉ tượng trưng cho sự tròn trịa, cân đối
mà đặc biệt hơn nó thể hiện phương diện tinh thần chỉ sự sáng sủa, viên
mãn, đầy sức sống, gợi lên nét đẹp tươi trẻ, thanh xuân của nhân vật nữ. Có
thể nói đây là cách dùng từ chuẩn của Nguyễn Du để miêu tả một cách chính
xác vẻ đẹp hoàn hảo, cân đối mà phúc hậu của nàng Thúy Vân. Những từ
mạnh trong lòng người đọc.:
Ào ào đổ lộc rung cây
Đùng đùng gió giật mây vần.
Biện pháp đảo ngược từ láy âm là hết sức quan trọng để đạt kết quả
nghệ thuật rất cao, Nguyễn Du nhờ vậy đã đưa ra được những câu lục bát rất
dân gian, nhưng lại rất nghệ thuật.
2.4. Sử dụng thủ pháp đối ngẫu, tiểu đối.
Tiểu đối là một biện pháp hết sức quan trọng đem đến cho câu thơ vẻ
súc tích, chặt chẽ rất cần thiết cho ngôn ngữ thơ, một ngôn ngữ lý tưởng.
biện pháp này Nguyễn Du đã sử dụng rất tài tình trong truyện Kiều làm cho
câu thơ tránh được tính chất nôm na, tẻ nhạt.
Đối ngẫu trong câu của truyện Kiều đa dạng hẳn. nó có thể là 3/3, 4/4, hoặc
đối trong từng bộ phận 2/2. Các hình thức đối của của truyện Kiều là đối
chọi như câu thơ “mai cốt cách tuyết tinh thần”, đối cân như ở câu“ngựa
xe như nước áo quần như nêm”, và đối một phần trong câu, gồm các hình
thức sau: đối nửa đầu câu “phong lưu, phú quý ai bì” , đối nửa câu như “trải
bao thỏ lặn ác tà”, đối giữa câu “nghĩ người ăn gió nằm mưa xót thầm”.
Ngoài ra còn có đối hai đầu câu, mỗi câu thơ như mở ra hai cánh:
Lời vàng vâng lĩnh ý cao.
Đào tiên đã bám tay phàm
Sự lặp lại hai đầu câu cùng một chữ như phản chiếu đối xứng qua một
mặt gương có tác dụng nhấn mạnh và tạo nhạc điệu. Có trường hợp là đối
với hai từ tương phản hoặc khác biệt. Có khi trong một câu có hai cặp đối
liên tiếp:
Giọt dài/ giọt ngắn/ chén đầy/ chén vơi.
Và cả hình thức đối hồi hoàn như đối xứng qua một trục cũng rất đặc biệt
trong truyện Kiều:
Thúy Kiều là chị/ em là thúy vân
Thân còn chẳng tiếc/ tiếc gì đến duyên.
Đối ngẫu làm cho phép liệt kê trong miêu tả cảnh vật thêm hài hòa, thời gian
trúc mới, tạo nên một thứ ngôn ngữ trác tuyệt:
Đã buồn cả ruột lại dơ cả đời.
Chữ dơ đặt ở đây cũng không mấy ai làm được, chữ tục tằn nhưng ý thì rất
đau xót. Cái vô địch của ngôn ngữ ông là nói đúng với tâm trạng nhân vật
của mình.
Trong lời ngôn từ nghệ thuật, việc sử dụng hợp lý thành ngữ là một
thuộc tính thẫm mỹ, tạo nên giọng điệu riêng cho tác phẩm. Có thể nói rằng
cách dùng thành ngữ, tục ngữ cũng là phương diện quan trọng góp phần
thành công về mặt ngôn từ nghệ thuật Truyện Kiều.
KẾT LUẬN
Tác giả truyện Kiều đã từ chất văn xuôi của truyện chuyển sang chất
thơ của mình, phải hóa thành thơ, phải dùng bút pháp thơ. Nguyễn Du đã
gạn lấy nét chính, lọc lấy tinh chất, tập trung vào tâm tình, tạo ra hình tượng
và những điệp khúc giàu nhạc điệu. Nguyễn Du dùng nhiều phương pháp
cách điệu hóa diễn tả đúng sự vật và chiếm lĩnh được toàn diện sự vật, sự
việc ấy.
Nhào nặn ngôn ngữ dân tộc, thổi hồn của mình vào trong, in dấu bất
hủ của ngôn ngữ, Nguyễn Du đã đạt tới đỉnh cao nhất của tính cách nhân
dân và tính cách quần chúng trong truyện Kiều. Thi sĩ đã diễn đạt được cái
thần của cả dân tộc mình vì vậy văn Kiều rất sống, rất tươi. Qua ngôn từ
nghệ thuật đặc sắc trong truyện Kiều ta cảm nhận lòng yêu sự sống dạt dào,
lòng tin dân tộc mạnh mẽ, một sức lực tinh thần hăng hái của Nguyễn Du.
Với một tấm lòng quý báu, một tình cảm nhân đạo chủ nghĩa đúng đắn,
cho nên ông đã yêu ghét phải đường, thương xót những người bị áp bức, đau
khổ. Truyện Kiều là một tác phẩm viết bằng ngôn ngữ dân tộc. Từ đó ông đã
phản ánh xã hội, thời đại ông bằng những nét sâu sắc, điển hình, đã băn
khoăn thao thức về vận mệnh của con người trong xã hội cũ, về hạnh phúc
yêu đương, mơ ước sống tình nghĩa thủy chung, mơ ước đẹp trong xã hội.
Đi vào thế giới nghệ thuật của Nguyễn Du trong truyện Kiều ta càng
thấy rõ Nguyễn Du là một bậc thầy ngôn ngữ, là một phù thủy của ngôn từ.
19. Phan Ngọc, (2007), Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều,
NXB Thanh niên.
20. Truyện Kiều- Nguyễn Du, (2006), NXB Hội nhà văn.
21. Đặng Thanh Lê, (1978), Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm, NXB Sự
thật.
22. Nguyễn Quảng Tuân, (2000), Tìm hiểu Nguyễn Du và truyện Kiều, NXB
Khoa học xã hội- Trung tâm nghiên cứu quốc học.