ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
------------------------
TRIỆU THỊ LINH NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT
TRONG XÌNH CA CAO LAN
Chuyên ngành: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
Mã số: 60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Sán Chay là một trong 54 dân tộc thiểu số ở Việt Nam, có số dân là
147.315 người (1999), gồm 2 nhóm chính: Cao Lan và Sán Chỉ
(1)
. Nhóm Cao Lan
(còn được gọi bằng tên khác: Hờn Bán, Chùng,…) hiện cư trú ở các tỉnh Yên Bái,
Lào Cai, Hoà Bình, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Bắc Giang,
Lạng Sơn, Quảng Ninh…, nhưng tập trung đông nhất ở huyện Sơn Dương, tỉnh
Tuyên Quang (27.869 người). Theo một số nhà nghiên cứu và lời kể của đồng
bào, người Cao Lan vốn từ các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây (Trung Quốc) sang
Việt Nam, cách đây khoảng 300-500 năm.
Dân tộc Sán Chay nói chung và người Cao Lan nói riêng, với vốn văn hoá
văn nghệ truyền thống phong phú và độc đáo của họ, đang góp phần làm nên sự
đa dạng văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Vì vậy, nghiên cứu ngôn
từ nghệ thuật trong xình ca Cao Lan có thể góp phần giới thiệu và tôn vinh
những nét bản sắc văn hoá của nhóm người này.
1.2. Xình ca là dân ca của người Cao Lan, được lưu truyền từ đời này sang
đời khác. Theo truyền thuyết, đây là lời hát của Bà chúa thơ ca Lằu Slam khi đối
đáp với người yêu và nỗi lòng của cô gái Lằu Slam khi tìm tình yêu trong tuyệt
vọng. Người Cao Lan ghi nhớ và truyền lại các bài xình ca bằng văn bản chữ
“Nôm Cao Lan” (và cho đến nay bằng cả chữ tự chế trên cơ sở chữ Quốc ngữ).
Tương truyền một bộ sách xình ca được hát trong 36 ngày đêm chưa hết...
cấp, những bài báo, báo cáo..., bàn về những vấn đề này. Sự nghiên cứu và thảo
luận chủ yếu về văn hoá truyền thống Sán Chay và quan hệ giữa hai nhóm Cao
Lan và Sán Chỉ trong dân tộc Sán Chay.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như:
- Hợp tuyển Văn học dân gian các dân tộc Tày - Nùng - Sán Chay, Nxb
Văn hoá dân tộc, 1994.
- Phù Ninh - Nguyễn Thịnh (1999), Văn hoá truyền thống Cao Lan, Nxb
Văn hoá dân tộc, Hà Nội.
- Khổng Diễn (2003), Dân tộc Sán Chay ở Việt Nam, Nxb Văn hoá dân
tộc, Hà Nội.
- Lâm Quý (2003), Văn hoá Cao Lan, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
Cho đến nay, vấn đề quan hệ giữa hai nhóm Cao Lan và Sán Chỉ trong dân
tộc Sán Chay vẫn chưa có được ý kiến thống nhất: Đây là các nhóm của một dân
tộc hay là hai dân tộc riêng biệt? Câu hỏi này đã được đặt ra và nhận được nhiều
ý kiến bàn luận rất khác nhau, đặc biệt trong Hội nghị xác định thành phần
dân tộc Sán Chay (Cao Lan - Sán Chí) ở Bắc Giang (ngày 29-30/3/2004) do
Viện Khoa học - Xã hội Việt Nam và Uỷ ban Nhân dân tỉnh Bắc Giang chủ trì.
Trong các tài liệu về dân tộc Sán Chay nói chung và người Cao Lan nói
riêng, đều thấy có khẳng định người Cao Lan có nguồn gốc từ Trung Quốc sang
đã nhiều đời, sống rải rác ở phía bắc Việt Nam, là một cộng đồng người cấu kết
chặt chẽ, còn lưu giữ được những nét văn hoá đặc sắc, đặc biệt là kho tàng văn
nghệ dân gian rất phong phú.
2.2. Nghiên cứu về văn nghệ dân gian và XCCL
Trong kho tàng văn nghệ dân gian Cao Lan, xình ca là mảng văn nghệ đặc
sắc nhất, giá trị nhất. Xình ca được xem như cái làm nên nét “bản sắc văn hoá”
của người Cao Lan, vì thế cũng được các nghệ nhân Cao Lan và các nhà nghiên
cứu đặc biệt chú ý.
5
- Lâm Quý (2003), Xịnh ca Cao Lan - đêm hát thứ nhất, Nxb Văn hóa Dân
tộc, Hà Nội.
- Đặng Đình Thuận (2005), Văn hoá dân gian của dân tộc Cao Lan, Nxb
Khoa học xã hội, 2005.
- Phạm Thị Kim Dung (2005), Khảo sát đặc điểm Xình ca dân tộc Cao
Lan ở Tuyên Quang, Luận văn tốt nghiệp, trường Đại học Sư phạm 1, Hà Nội.
- Ngô Văn Trụ (2006), Dân ca Cao Lan, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.
- Trịnh Thành Công (2005), "Đi tìm câu hát xình ca", Báo Tuyên Quang
số tết Xuân Ất Dậu.
- Triệu Thị Linh (2006), “Đặc điểm thi pháp truyện cổ tích về người mồ
côi của dân tộc Cao Lan ở Tuyên Quang”, Luận văn trường Đại học Sư phạm
Thái Nguyên, 2006.
- Triệu Thị Linh (2007), “Cách biểu thị thời gian nghệ thuật trong cổ tích
Cao Lan”, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số 11.
- Triệu Thị Linh (2007), "Một số biểu tượng trong xình ca Cao Lan", Hội
thảo ngữ học trẻ - Xuân 2008.
Về xình ca Cao Lan, các tác giả đã có công sưu tầm những đêm hát,
những câu hát còn rải rác trong dân gian, tập hợp và biên soạn lại khá công phu.
Nhà thơ Lâm Quý đã sưu tầm được 9 đêm, dịch văn học trọn vẹn Xịnh ca Cao
Lan - đêm hát thứ nhất gồm 266 câu. Tác giả Ngô Văn Trụ sưu tầm biên soạn
được gần 1000 câu hát lẻ in trong cuốn Dân ca Cao Lan. Tác giả Phương Bằng
cũng sưu tầm được gần 500 câu hát... Từ tư liệu sưu tầm, biên soạn, các nhà
nghiên cứu đã xác định số lượng và kết cấu những đêm hát, nội dung của mỗi
đêm. Các tác giả Lâm Quý, Ngô Văn Trụ đã bước đầu phân tích được bối cảnh
diễn ra đêm hát, giai điệu lời hát; phân tích ý nghĩa một số câu hát...
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Trong luận văn tốt nghiệp "Khảo sát đặc điểm xình ca dân tộc Cao Lan ở
như thế nào? Trả lời được những câu hỏi này có thể giúp cho việc xác định mối
quan hệ giữa người Cao Lan và người Sán Chí.
Về ngôn ngữ trong xình ca, trong cuốn Văn hoá Cao Lan tác giả Lâm
Quý nhận định: Đây là “thứ tiếng cổ dùng trong cúng bái và hát ví thuộc ngữ hệ
Hán - Tạng, thổ ngữ Quảng Đông - Trung Quốc” [34; tr.166]. Xình ca có hai
loại, ca bậc và ca ý, tương ứng với mỗi loại thì ngôn ngữ cũng có đặc điểm riêng.
“Ca ý” nghĩa là “lời hát nhỏ”, lời hát tâm tình của đôi người yêu thương nhau,
được sáng tạo một các bất chợt” nên lời ca có vần có điệu, dễ nhớ người hát có
thể ứng đối ở nhiều tình huống khác nhau, có thể thay đổi giọng, lời ca cho phù
hợp. “Ca bậc” nghĩa là “hát lớn”, “hát cho cả dân bản cùng nghe, nhờ thế lời ca
được ghi chép vào sách thành chương, mục có tình chất qui định bắt buộc” [34;
tr.188-192].
Tác giả Lâm Quý cũng thống kê tập một của xình ca gồm trên 500 cặp bài
hát bằng 1.000 bài theo thể thơ tứ tuyệt (4 câu, 7 chữ), với trên 4.000 câu thơ 7
chữ [34; tr.193]. Tác giả Ngô Văn Trụ nhận xét: “Ở một số trường hợp, câu thứ
nhất chỉ có 3, 4 chữ, 4 câu chỉ gồm 24, 25 chữ, do vậy khi hát, người ta phải
dùng lời láy để ngân nga”[44; tr.2].
Về ý nghĩa của lời ca, những người già Cao Lan thường khen rằng ý tứ
trong lời đối đáp của xình ca rất thâm sâu, nhiều hình ảnh ví von bất ngờ, thú vị.
Tuy nhiên, cảm nhận cũng như nghiên cứu về ngôn từ xình ca là một công
việc không dễ dàng. Ông Nịnh Văn Độ - một người con của đồng bào Cao Lan đã
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
tâm sự: “Suốt quãng đời của tôi...tôi say sưa tìm hiểu về xình ca mà vẫn chưa cảm
nhận được hết cái hay cái đẹp của lời ca trong xình ca dân tộc mình”[8; tr.5].
Như đã liệt kê ở trên (mục 2.2), trong Hội thảo Ngữ học trẻ - Xuân 2008
(do Hội ngôn ngữ học Việt Nam tổ chức), tác giả của luận văn này đã trình bày
báo cáo về một khía cạnh nhỏ của NTNT trong XCCL - "Một số biểu tượng
trong xình ca Cao Lan".
4.2. Về thực tiễn
- Góp phần bảo tồn và phát triển vốn nghệ thuật truyền thống của người
Cao Lan, trong đó có xình ca và ngôn ngữ của họ.
- Khuyến khích và tạo cơ sở, đề xuất hướng tiếp tục đi sâu nghiên cứu
các mặt khác trong ngôn ngữ cũng như vốn văn nghệ truyền thống của người
Cao Lan.
- Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng trong giảng dạy về văn nghệ
dân gian các dân tộc thiểu số nói chung và về XCCL nói riêng.
5. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1. Đối tƣợng
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là ngôn từ trong văn bản "Xịnh
ca Cao Lan - đêm hát thứ nhất" của tác giả Lâm Quý, Nxb Văn hoá Dân tộc
phát hành năm 2003. Đêm hát thứ nhất này có 8 chương, 266 khúc hát. Phần một
của tác phẩm được viết bằng chữ Nôm - Cao Lan, phần hai được tác giả dịch văn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
học ra tiếng Việt. Chúng tôi đã tiến hành dịch nghĩa từng đơn vị từ của 266 khúc hát
này để hiểu và phân tích sâu hơn về ngôn từ trong xình ca.
Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu còn là ngôn từ của xình ca trong các văn
bản: "Dân ca Cao Lan", Nxb Văn hoá dân tộc, phát hành năm 2006 được tác giả
Ngô Văn Trụ sưu tầm và biên soạn, với 898 khúc hát; "Dân ca Cao Lan", Nxb
Văn hoá dân tộc, phát hành năm 1981, tác giả Phương Bằng sưu tầm và biên
soạn, với 665 khúc hát... Việc mở rộng đối tượng nghiên cứu trên nhiều văn bản
khác nhau là để có cái nhìn tổng thể về XCCL, từ đó có những nhận định về đặc
điểm hình thức và ngữ nghĩa của xình ca.
5.2. Phƣơng pháp
- Điền dã: sưu tầm, ghi âm và ghi chép về văn hoá truyền thống Cao Lan,
phiên dịch (dịch nghĩa từng từ và dịch văn học ra tiếng Việt) các bản xình ca.
- Miêu tả: với các thủ pháp phân tích và tổng hợp, trên cơ sở các văn bản
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN
1.1. CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1.1. Ngôn ngữ - Ngôn ngữ văn học - Ngôn từ nghệ thuật
1.1.1.1. Ngôn ngữ
Theo cách hiểu chung nhất, ngôn ngữ là “hệ thống những âm, những từ và
những quy tắc kết hợp chúng mà những người trong một cộng đồng dùng làm
phương tiện để giao tiếp với nhau” [53; tr.683].
Khi nói đến ngôn ngữ, người ta thường hiểu đó là ngôn ngữ tự nhiên của
con người (đối lập với ngôn ngữ nhân tạo và ngôn ngữ của động vật). Đây có thể
được xem là phương tiện quan trọng nhất được dùng trong giao tiếp giữa các
thành viên của cộng đồng, đồng thời cũng là phương tiện để tư duy, để diễn đạt và
truyền lại các giá trị văn hoá - lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Khi bàn về ngôn ngữ nói chung, còn có thể nói đến các hình thức giao tiếp
khác: bằng động tác của cơ thể, màu sắc... Tuy nhiên, hình thức phổ biến nhất
của ngôn ngữ trong xã hội loài người là ngôn ngữ âm thanh (ngôn ngữ được nói
trường hợp trong cộng đồng Cao Lan ở Việt Nam.
Ở người Cao Lan, tiếng Cao Lan được sử dụng trong đời sống hàng ngày
và phần nào đã được sử dụng trong văn nghệ dân gian (xình ca là một loại sáng
tác như vậy). Tuy nhiên, hình thức “ngôn ngữ văn học” này chưa được xác định
là “chuẩn mực”, cũng chưa được sử dụng rộng rãi mà chỉ trong phạm vi gia
đình và làng bản. Hình thức trong văn nghệ dân gian Cao Lan này cũng chưa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
được ghi nhận bằng thứ chữ viết ai cũng đọc được, cho nên không có điều kiện
phổ biến. Như vậy, trong điều kiện hiện nay, nên hiểu ngôn ngữ văn học của
người Cao Lan theo cách thứ hai (đó là hình thức ngôn ngữ được sử dụng trong
sáng tác văn học).
Tuỳ theo phạm vi sử dụng, trong ngôn ngữ văn học có ba dạng thức khác
nhau, đó là: ngôn từ hội thoại, ngôn từ chuyên môn và ngôn từ nghệ thuật.
1.1.1.3. Ngôn từ nghệ thuật
NTNT là một dạng trong ngôn ngữ văn học, là "khái niệm chỉ loại hình
ngôn ngữ dùng để biểu đạt nội dung hình tượng của các tác phẩm ngôn từ (sáng
tác lời truyền miệng và văn học viết)" [52; tr.1090].
Xét về mặt chất liệu, NTNT bao gồm tất cả các yếu tố ngôn ngữ được sử
dụng đạt tới mức nghệ thuật, đó là các hình thức ngôn ngữ bóng bẩy thường được
sử dụng trong tác phẩm văn học như ví von, ẩn dụ, khoa trương, tượng trưng, nhân
hoá… Đồng thời, NTNT cũng bao gồm cả những yếu tố như phương thức tổ
chức, cách gieo vần, ngắt nhịp, sử dụng thể thơ, tạo dựng kết cấu…
Như vậy, NTNT là sự thể hiện của ngôn ngữ chung một cách khéo léo và
năng động, nhằm phản ánh đầy đủ, sinh động và gợi cảm mọi hình tượng, đồng
thời truyền đạt được tư tưởng, tình cảm của người nói, người viết.
Xét về mặt tính chất, NTNT được các nhà nghiên cứu xác định là mang
nhiều đặc trưng của ngôn ngữ nói chung, ngôn ngữ nghệ thuật nói riêng. Tác giả
Đinh Trọng Lạc cho rằng có bốn đặc trưng là: "tính cấu trúc; tính hình tượng; tính
đáp, người ta thường yêu cầu phải đổi giọng (nghĩa là bên nam hát làn điệu nào
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
thì bên nữ cũng phải hát đúng làn điệu ấy). Còn ở loại đơn điệu thì khi hát đối
đáp, đôi bên chỉ đối nhau bằng lời, bằng ý” theo một điệu nhất định [9; tr.33].
Xình ca Cao Lan có thể được coi là loại dân ca đơn điệu.
Khi nói đến dân ca, người ta thường nghĩ đến đồng thời ba yếu tố cơ bản
cấu thành nó: lời ca, âm nhạc và phương thức diễn xướng.
Dân ca các dân tộc thiểu số, theo đặc điểm diễn xướng của văn hoá dân
gian nói chung, luôn gắn bó mật thiết với sinh hoạt xã hội (như lao động sản
xuất, giao duyên, phong tục, nghi lễ, sinh hoạt ngày thường...) và mang đậm dấu
ấn của từng cộng đồng.
Với những nét đặc sắc trong kết cấu ngôn ngữ, trong cách sử dụng ngôn
ngữ để xây dựng hình tượng nghệ thuật, tạo nên nhịp điệu với cách thức diễn
xướng..., đi kèm với ý nghĩa sâu sắc của lời ca, XCCL đã được lưu truyền trong
dân gian và có sức sống tới ngày nay.
1.1.2.2. Xình ca
Cho đến nay, chưa có định nghĩa đủ rõ xình ca (còn viết là “xịnh ca”,
“sịnh ca”, “sình ca”) là gì. Nhưng khi nghiên cứu xình ca, nhiều nhà nghiên cứu
đã đề cập đến khái niệm này.
Theo tác giả Lâm Quý thì xình ca là tác phẩm thơ ca dân gian mang tính
sử thi về một cuộc thiên di đầy vất vả gian lao của tộc người Cao Lan di cư từ
nội địa các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Trung Quốc sang Việt Nam sinh sống
từ cuối thế kỉ XVII đầu thế kỉ XVIII vì nhiều lí do như giặc giã, đời sống khó
khăn [34; tr.12].
Trong lời nhà xuất bản cuốn “Xịnh ca Cao Lan - đêm hát thứ nhất” có
đoạn viết: “Đây là tác phẩm thơ ca dân gian cổ của người dân tộc Cao Lan được
ghi chép bằng chữ Hán Nôm Cao Lan và lưu truyền trong đồng bào từ nhiều đời
thành, có một ngữ điệu nhất định, diễn đạt một ý trọn vẹn" [53; tr.137], đồng vì
vậy để dễ dàng trong miêu tả chúng tôi đề nghị một "dòng" thơ như trong XCCL
(trên chữ viết là một dòng) nên gọi là một câu.
Nếu hiểu "lời" là một "chuỗi âm thanh phát ra trong không khí nói mang
một nội dung trọn vẹn nhất định" [53; tr.582], thì một đến hai "dòng" thơ có thể
gọi là "lời". Như vậy, không nên gọi cả 4 "dòng" thơ 7 chữ hoặc những hình thức
tương tự là "lời hát", "câu hát", vì như vậy rất đại khái và khó phân định từ nó ra
những đơn vị nhỏ hơn.
Khái niệm "bài" chỉ "công trình sáng tác hoặc biên tập, có nội dung tương
đối hoàn chỉnh, nhưng không dài" [53; tr.40] có thể phù hợp với đơn vị đang xét
(4 "dòng thơ" mỗi "dòng" 7 chữ). Tuy nhiên đối chiếu vào những văn bản XCCL
sưu tầm và dịch của các tác giả Lâm Quý, Ngô Văn Trụ, Phương Bằng…, chúng
tôi thấy rằng XCCL còn bao gồm cả những "cụm ca" [44;tr.14], gồm có từ một
đến nhiều "bài" hợp thành.
Vì vậy, đơn vị ở trong một chương hát (thường gồm 4 dòng thơ 7 chữ) có
thể được gọi là một "khúc hát" - là "phần có độ dài nhất định được tách ra khỏi
một vật để thành một đơn vị riêng" [53; tr.512]. Có thể một khúc hát là một bài
xình ca hoàn chỉnh, có thể nhiều khúc hát mới hợp thành một bài, nhiều bài hợp
thành một chương, nhiều chương làm nên một đêm hát.
Hình thức và biện pháp kết cấu của xình ca Cao Lan như thế nào, xin
được phân tích kĩ hơn ở chương sau.
1.1.3.2. Nhịp điệu (tiết tấu, tiết điệu)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
Theo cách hiểu chung nhất, nhịp điệu là "sự nối tiếp và lặp lại một cách
đều đặn, tuần hoàn các độ dài thời gian bằng nhau làm nền cho nhạc"
[53;tr.714].
Đặc điểm nổi bật của thơ và ca là ngôn từ có nhịp điệu. Từ yêu cầu nhịp
điệu, văn bản thường được tổ chức thành từng dòng, từng khổ, từng câu, từng
Nói đến nhịp điệu trong thơ ca, không thể không nhắc đến vần. Theo cách
hiểu chung nhất, vần được sử dụng trong thơ ca là hiện tượng lặp lại một (hoặc
các) bộ phận của âm tiết ở một (hoặc những) vị trí nhất định trong câu, để tạo nên
nhịp điệu. Đồng thời, vần có vai trò liên kết các câu trong khúc ca hay bài thơ.
Phân biệt theo vị trí gieo vần, ta có vần chân và vần lưng; phân biệt theo
mức độ hoà âm, ta có vần chính và vần thông.
Trong thơ, vần chân là vần được gieo vào cuối dòng thơ, có tác dụng đánh
dấu sự kết thúc dòng thơ và tạo nên mối liên kết giữa các dòng thơ, có các dạng
vần liền, vần ôm, vần cách.
Vần lưng là vần “được gieo vào giữa dòng thơ”. Vần thông "được tạo nên
bởi sự hoà phối âm thanh giữa các tiếng được gieo vần”. Còn vần chính cũng
được tạo bởi “sự hoà phối âm thanh ở mức độ cao giữa các tiếng được gieo vần”
nhưng trong đó “bộ phận vần cái (kể từ nguyên âm chính đến cuối âm tiết) hoàn
toàn trùng hợp” [9; tr.362-364].
1.1.4. So sánh - Ẩn dụ - Nhân hoá
1.1.4.1. So sánh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
Có thể hiểu so sánh là: "Phương thức biểu đạt bằng ngôn từ một cách hình
tượng dựa trên cơ sở đối chiếu hai hiện tượng có những dấu hiệu tương đồng
nhằm làm nổi bật đặc điểm, thuộc tính của hiện tượng này qua đặc điểm thuộc
tính của hiện tượng kia" [9; tr.237].
So sánh thường có hai vế. Một vế là đối tượng cần được biểu đạt một cách
hình tượng. Vế kia là đối tượng được dùng để so sánh. Hai vế này thường được
nối liền với nhau bởi các từ so sánh: như, bằng, hơn, kém...
Phương thức so sánh đem lại hiệu quả cao đối với nghệ thuật biểu đạt
bằng ngôn từ, vì vậy được dùng phổ biến trong dân ca các dân tộc thiểu số, trong
đó có XCCL.
1.1.4.2. Ẩn dụ
nhất, "biểu tượng là một loại tín hiệu mà mối quan hệ giữa mặt hình thức cảm
tính (tồn tại trong hiện thực khách quan hoặc trong sự tưởng tượng của con
người, được gọi là cái biểu trưng) và mặt ý nghĩa (cái được biểu trưng) mang
tính có lí do, tính tất yếu" [12]. Hiểu đơn giản hơn, biểu tượng là "hình ảnh
tượng trưng" hay hình ảnh cảm tính về hiện thực khách quan, thể hiện quan niệm
thẩm mĩ, tư tưởng của người sáng tạo ra nó, ví dụ hình ảnh "chim bồ câu" là biểu
tượng của hoà bình. Để tạo nên các biểu tượng, từ ngữ phải được khai thác chủ
yếu ở nét nghĩa biểu cảm, nghĩa bóng.
Từ hình ảnh trở thành biểu tượng phải trải qua một quá trình biến đổi ý
nghĩa. Quá trình chuyển hoá này diễn ra trong một phạm vi khác nhau: đời sống
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23
văn hoá, nghệ thuật, văn học… Vì vậy, khi nghiên cứu về biểu tượng cần phân
biệt rõ các khái niệm: "biểu tượng văn hoá", "biểu tượng nghệ thuật", "biểu
tượng NTNT".
- Biểu tượng văn hoá:
"Những thực tế vật chất hoặc tinh thần (sự vật, hành động, ý niệm,…) có
khả năng biểu hiện những ý nghĩa rộng hơn chính hình thức cảm tính của nó, tồn
tại trong một tập hợp, một hệ thống đặc trưng cho những nền văn hoá nhất định"
[12] là những biểu tượng văn hoá. Biểu tượng văn hoá bao gồm cả những biến
thể vật thể (trong các ngành nghệ thuật như kiến trúc, hội hoạ, điêu khắc,…) và
phi vật thể (tín ngưỡng, lễ hội, phong tục, văn học).
- Biểu tượng nghệ thuật: là các biến thể loại hình của biểu tượng văn hoá
trong những ngành nghệ thuật khác nhau như hội hoạ, âm nhạc, văn học…
- Biểu tượng NTNT: là các biểu tượng nghệ thuật được thể hiện dưới dạng
tín hiệu ngôn ngữ trong văn học, còn gọi là "từ - biểu tượng" (word-symbols) [12].
Nếu như biểu tượng chỉ là hình ảnh cảm tính của con người về các hình thức vật
chất cụ thể ở hiện thực khách quan, thì biểu tượng ngôn từ là sự tín hiệu hoá các
hình thức vật chất cụ thể ấy qua hệ thống âm thanh ngôn ngữ.