tìm hiểu ngôn từ nghệ thuật trong một số bài thơ của nguyễn bính - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN


NGUYỄN THỊ CẨM LINH
MSSV: 6116186

TÌM HIỂU NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT TRONG
MỘT SỐ BÀI THƠ CỦA NGUYỄN BÍNH

Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ văn

Cán bộ hướng dẫn: Ths. GVC. CHIM VĂN BÉ

Cần Thơ, năm 2014


ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ ĐẶC TRƯNG CỦA NGÔN TỪ THƠ CA
TIẾNG VIỆT
1.1. Quan điểm của Nguyễn Phan Cảnh

đáng như Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Phan Cảnh, Tiếp cận nghệ thuật thơ ca của
Bùi Công Hùng hay Ngôn ngữ thơ Việt Nam của Hữu Đạt. Vì thế chúng tôi thực
hiện công trình nghiên cứu này, nhằm tìm hiểu những đặc trưng của ngôn ngữ thơ
trữ tình, góp phần khám phá đặc sắc của thơ ca Việt Nam.
So với các nhà thơ lãng mạn trước cách mạng, Nguyễn Bính đứng riêng một
cõi. Về các nhà thơ khác, Hoài Thanh nhận xét: “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ
tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên
cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong tình trường cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với
Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép,
tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn rồi
trở về hồn ta cùng Huy Cận”. Họ thì đi tìm cái khác lạ, mới mẻ. Riêng Nguyễn
Bính thì trở về với thiên nhiên, làng quê, với những tình cảm giản dị nhưng đậm đà
của con người.
Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính mang hương vị rất riêng. Đó là hương đồng
cỏ nội gần gũi với con người Việt Nam. Tình yêu ấy không chỉ khép kín giữa nam
và nữ, mà còn là nỗi niềm nhớ thương mẹ cha, người chị, đứa em, vườn dâu, ao cá,
bến đò…Những tình cảm gắn bó những người, những vật ở làng quê từ bao đời, nay
thức dậy thì thầm trong tâm thức chúng ta khi thưởng thức thơ Nguyễn Bính. Vì thế

1


chúng tôi quyết định chọn thơ của Nguyễn Bính để tìm hiểu đặc trưng của ngôn ngữ
thơ Việt Nam.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1. Về ngôn ngữ thơ
Theo Trần Đình Sử: “Văn học là một phương tiện giao tiếp đặc biệt giữa
người và người và với tư cách đó nó là một ngôn ngữ theo quan điểm của kí hiệu
học”. Ngôn ngữ văn chương (cũng gọi là ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ nghệ thuật
của văn học) là hệ thống cấu tạo để thực hiện chức năng giao tiếp thẩm mĩ của văn

Một công trình đã giải quyết được những hạn chế vừa nêu và mang lại cái
nhìn toàn diện về đặc trưng ngôn ngữ thơ Việt Nam đó là quyển Ngôn ngữ học văn
chương Việt nam của Chim Văn Bé. Trong quyển sách này, ngôn từ nghệ thuật
được tiếp cận ở hai cấp độ vi mô và vĩ mô. Ở cấp độ vĩ mô, ngôn từ nghệ thuật được
xem xét ở tính chỉnh thể của nó. Ở cấp độ vi mô, ngôn từ nghệ thuật được xem xét ở
cấp độ Thi pháp học trong mối quan hệ với đặc trưng thể loại của thơ trữ tình và
truyện. Xét riêng đối với thơ trữ tình, ngôn từ nghệ thuật được tập trung lý giải về
phương diện ngữ nghĩa -ngữ dụng thông qua tính tạo hình- biểu cảm, tính biểu
trưng, tính hòa phối đa phương diện và mạch lạc trong tổ chức nội tại của câu và
mạch lạc của văn bản thơ trữ tình.
2.2. Về ngôn từ nghệ thuật trong một số bài thơ của Nguyễn Bính
Trước tiên, khi đánh giá về phương diện nghệ thuật, các tác giả có những
nhận định như sau:
Trong công trình nghiên cứu Thơ Nguyễn Bính với nghệ thuật biểu hiện
đậm đà sắc thái văn hóa dân gian, Đoàn Đức Phương nhận xét: “Một đời thơ đã
khép lại, nhưng vẫn còn đó những vần thơ ngọt ngào như ca dao của Nguyễn
Bính... Có thể nói đến với thơ Nguyễn Bính là đến với những hình thức dân gian
dân tộc, đến với những giá trị văn hóa truyền thống của quảng đại nhân dân”.
[7,tr.325]
Hay trong Thi pháp dân gian trong thơ mới Nguyễn Bính, Nguyễn Quốc
Túy cho rằng: “Không gian nghệ thuật của thơ mới dân gian Nguyễn Bính là một
thứ không gian của cổ tích, của huyền thoại. Thời gian nghệ thuật là một thứ trộn
lẫn giữa xưa và nay”. [7, tr.342]
Mã Giang Lân nhận định: “Bản sắc dân tộc trong thơ Nguyễn Bính rất đậm,
rất rõ từ nội dung đến hình thức. Tâm hồn dân tộc, giọng điệu dân tộc là chất men
để thơ ông thấm sâu vào trí nhớ người đọc...trong thơ Nguyễn Bính bên những câu
thơ duyên dáng thuần thục như ca dao, ta thấy xen vào nhưng câu thơ quá mới, nên
thơ ông giống ca dao mà cũng khác ca dao” [7, tr.168-169].

3

Còn Đỗ Đình Thọ trong Nguyễn Bính, Nhà thơ của tình yêu thì nhận định:
“Nguyễn Bính đến với bạn đọc như một cô gái quê kín đáo, mặn mà, duyên dáng.
Người đọc thấy ở thơ ông những nét dung dị, đằm thắm, thiết tha, đậm sắc hồn dân

4


tộc, gần gũi với ca dao. Cái tình trong thơ Nguyễn Bính luôn luôn mặn mà, mộc
mạc, sâu sắc và tế nhị hợp với phong cách và điệu tâm hồn của người Á Đông”
[9,tr.154].
Trong Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính, Thanh Việt cũng nêu những đánh
giá của mình: “Thơ Nguyễn Bính thiên về tiếng nói tình cảm, những tâm trạng bộc
bạch của chính nhà thơ. Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính chiếm đa phần trong cái
bầu cảm xúc của ông. Tình yêu nhất là tình yêu đơn phương bao giờ cũng tìm được
chỗ bám víu vu vơ nhất để mơ mộng. Mơ mộng một tình yêu không tưởng, một mái
ấm hạnh phúc lứa đôi, mơ mộng một tình yêu trong hoài niệm” [9, tr.164-165].
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã tiếp cận các công trình nghiên cứu của
các tác giả như Bùi Công Hùng, Nguyễn Phan Cảnh, Hữu Đạt, Chim Văn Bé. Trên
cơ sỡ đó, chúng tôi chọn ra một công trình nghiên cứu một cách toàn diện, khái quát
nhất để áp dụng vào việc nghiên cứu sự nghiệp thơ Nguyễn Bính. Thông qua đó,
chúng tôi có thể tìm hiểu nét đặc sắc của trang thơ Nguyễn Bính nói riêng cũng như
ngôn từ thơ ca Việt Nam nói chung.
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nguyễn Bính bước vào thi đàn Thơ mới và để lại một dấu ấn khó phai trong
lòng người đọc bởi những nét vẽ rất đặc trưng về đời sống nông thôn Việt Nam.
Một dòng sông bên lở, bên bồi, một con đò nằm đợi khách sang ngang, một vườn
chè, một nương dâu, một gian nhà cỏ đầy trăng….đã đi vào hồn người như là
những hình ảnh rất đỗi thân quen nơi thôn dã. Nguyễn bính đã chinh phục độc giả
bằng nội dung lẫn nghệ thuật đậm đà màu sắc dân tộc. Xác định hướng đề tài là tìm


6


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG MỘT
VẤN ĐỀ ĐẶC TRƯNG CỦA NGÔN TỪ THƠ CA
TIẾNG VIỆT
Trong lịch sử phát triển của các thể loại văn chương thuộc nhiều nền văn hóa
Đông, Tây, thơ có lịch sử lâu đời nhất. Song song với lịch sử hình thành và phát
triển của thơ ca Việt Nam, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thơ và ngôn ngữ
thơ từ nhiều khía cạnh khác nhau. Trong đó có nhiều khuynh hướng tiếp cận khác
nhau về những vấn đề đặc trưng của ngôn ngữ thơ Việt Nam nhằm làm rõ sự khác
biệt giữa thơ và các loại hình ngôn ngữ nghệ thuật khác. Cũng đã có nhiều công
trình đi sâu vào nghiên cứu ngôn từ thơ trữ tình. Đáng chú ý nhất là Ngôn ngữ thơ
của Nguyễn Phan Cảnh, Ngôn ngữ thơ Việt Nam của Hữu Đạt, Tiếp cận nghệ
thuật thơ ca của Bùi Công Hùng và tiêu biểu hơn cả là công trình nghiên cứu Ngôn
ngữ văn chương của Chim Văn Bé.
1.1. QUAN ĐIỂM CỦA NGUYỄN PHAN CẢNH
Trong công trình nghiên cứu về Ngôn ngữ thơ, Nguyễn Phan Cảnh đã tập
trung làm sáng tỏ các vấn đề như: hai thao tác cơ bản của hoạt động ngôn ngữ, hai
phương thức của nghệ thuật ngôn ngữ, cách tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa hay
bản chất các phương thức chuyển nghĩa có tính chất ẩn dụ, lắp ghép hai bản chất
các phương thức chuyển nghĩa có tính chất hoán dụ, mối quan hệ của ngôn ngữ thơ
và ngôn ngữ văn xuôi… Sau đây, chúng tôi xin trình bày những vấn đề ngôn ngữ
đáng chú ý mà Nguyễn Phan Cảnh đã trình bày trong công trình nghiên cứu của
mình.
1.1.1. Về thao tác cơ bản của hoạt động ngôn ngữ
Tác giả cho rằng: “Thao tác lựa chọn là một thao tác dựa trên một khả năng
của ngôn ngữ là các đơn vị có thể luân phiên cho nhau nhờ vào tính tương đồng

Phan Cảnh, trong ngôn ngữ có hiện tượng biến dạng, các biến thể âm vị hay các tha
hình đều được phân công cụ thể, không dẫm chân nhau, nghĩa là được phân bố vào
những bối cảnh nhất định.
Theo tác giả, hiện tượng lựa chọn diễn ra giữa vốn ngôn ngữ và cá nhân tác
giả. Công việc này giúp cho tác giả nói được ý mình. Nếu xét từ phía người đọc, thì
hiện tượng lựa chọn diễn ra giữa vốn ngôn ngữ và cá nhân người đọc. Công việc
này giúp người đọc hiểu được ý tác giả.
Nguyễn Phan Cảnh kết luận rằng trong hoạt động ngôn ngữ thao tác lựa chọn
liên quan đến vốn ngôn ngữ, tức đến những đơn vị ngôn ngữ tồn tại trong óc các cá
nhân, và vận dụng năng lực liên tưởng để cung cấp sự lựa chọn cho những đơn vị
ngôn ngữ cần thiết.
8


Đề cập đến thao tác kết hợp, Nguyễn Phan Cảnh định nghĩa: “Thao tác kết
hợp dựa trên một khả năng khác của hoạt động ngôn ngữ, là các yếu tố ngôn ngữ
có thể đặt bên cạnh nhau nhờ vào mối quan hệ tương cận giữa chúng” [4, tr.19].
Các đơn vị ngôn ngữ đều là ngữ cảnh của những đơn vị ngôn ngữ đơn giản hơn và
đều tìm thấy ngữ cảnh của mình trong một đơn vị ngôn ngữ học phức tạp hơn. Thực
tế này cho phép giả định rằng có thể kết hợp vế này với vế khác trong khi nói, cũng
giống như trong quan hệ tương đồng ở đó các sắc thái của từ không được thể hiện ra
trong câu nói hiện thực mà nó được thể hiện chính bằng thao tác kết hợp, trong khi
đặt yếu tố ngôn ngữ này bên cạnh yếu tố ngôn ngữ khác, đã dùng mối quan hệ
tương cận đó để nói lên.
1.1.2. Về hai phương thức của ngôn ngữ nghệ thuật
Nguyễn Phan Cảnh cho rằng hai phương thức cơ bản của ngôn ngữ nghệ
thuật là phương thức tạo hình và phương thức biểu hiện.
Theo ông, nét nổi bật của phương thức tạo hình trong nghệ thuật là “trực tiếp
miêu tả các hiện tượng của hiện thực vẽ nên bức tranh về cuộc sống, mở ra trước
mắt người xem những tác phẩm giống với các đối tượng trong thực tế” [4, tr.28].

Nguyễn Phan Cảnh cũng đưa ra lưu ý rằng: “Trong thực tiễn sinh động, cũng
như hai thao tác lựa chọn và kết hợp là xoắn xuýt với nhau, dạng tạo hình và biểu
hiện cũng luôn xen lẫn nhau”. Trong một tác phẩm biểu hiện có thể có những yếu
tố tạo hình và ngược lại. Thậm chí trong một đoạn tạo hình cũng có thể có những
chi tiết biểu hiện [4, tr. 38-39].
1.1.3. Về cách “tổ chức kép” các lượng ngữ nghĩa hay bản chất các
phương thức chuyển nghĩa có tính chất ẩn dụ
Nguyễn Phan Cảnh định nghĩa: “Tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa là kỹ
năng dựa vào sức liên tưởng của người nhận, đem liên kết các tín hiệu ngôn ngữ
hoặc cùng xuất hiện trên thông báo và tồn tại trong mã ngôn ngữ, để kiến lập
những chỉnh thể không phân lập về mặt mỹ học, tạo nên ý ngầm về chiều dày các
câu, chữ” [4, tr.81].
Ông quan niệm rằng “Tổ chức các lượng ngữ nghĩa” là lấy nghĩa đen làm
giá trị, tức nhân tố thứ hai không được sử dụng, nghĩa trực tiếp của từ là tất nhiên và
không gây bất cứ sự chú ý nào đối với người tiếp nhận. Còn về phần “Tổ chức kép
các lượng ngữ nghĩa” thì lấy nghĩa ngầm làm giá trị, trước mắt người đọc chỉ là
những câu chữ đơn sơ, tức nhân tố thứ nhất và khi đó nhân tố thứ hai mới là yếu tố
chính. Lúc này, nhân tố thứ nhất được nhận thức là một vế đối lập của ý ngầm được
tri giác.

10


Tác giả cũng khẳng định, muốn cho một tín hiệu gọi một tín hiệu khác, thì
phải tổ chức ngôn ngữ thành một đơn vị không phân lập, sao cho đủ liên tưởng đến
tín hiệu muốn kêu gọi. Theo Nguyễn Phan Cảnh, cách tổ chức lượng ngữ nghĩa kép
tối ưu là phương thức ẩn dụ, kế đến là so sánh và điển tích.
Ẩn dụ là kiểu mã hóa cơ bản “nơi mối liên tưởng do chỗ không bị quy định
bởi tín hiệu trên thông báo cũng như bởi nội dung của tín hiệu được kêu gọi, nên đã
trở thành vô cùng linh hoạt, đa dạng cho phép nhà thơ đi hết chiều sâu của năng

này đến bình diện ngữ nghĩa khác, tức là phân bố tuyến tính, lấy trật tự làm giá trị.
Ngược lại, khi một cảnh xuất hiện mà chúng ta không thể đoán trước được
thì sẽ xuất hiện một ý ngầm giữa khoảng cách của hai cảnh miêu tả. Từ đó, Nguyễn
Phan Cảnh suy ra mối quan hệ ẩn ngầm trong ngôn ngữ thơ là: “Khi mối quan hệ ẩn
ngầm được phát hiện đầy đủ, sẽ xuất hiện một bố cục thứ hai, trên cơ sở của bố cục
thứ hai đó, quá trình tri giác của văn bản nghệ thuật mới thật sự kết thúc”
[4,tr.109]
Nguyễn Phan Cảnh cho rằng các phương thức chuyển nghĩa có tính chất
hoán dụ về bản chất vẫn là việc khai thác khả năng thi ca trên trục kết hợp của ngôn
ngữ. Cái được sử dụng là các quan hệ, vì thế người ta trau chuốt câu, cảm xúc mỹ
học được xây dựng bằng hiệu quả bất ngờ cú pháp - nghĩa là của lắp ghép, của cấu
trúc hoán dụ tính.
1.1.5. Về nhạc thơ
Nguyễn Phan Cảnh cho rằng: “Chính yêu cầu truyền đạt thông tin đã được
xử lý về thời gian và không gian làm xuất hiện nhạc thơ”. [4, tr.117]
Ông khẳng định chức năng của nhạc thơ là: “phát các tín hiệu báo động
trước kết thúc đơn vị không phân lập để hướng đơn vị không phân lập theo sau vào
thế sẵn sàng. Với chức năng này, nhạc thơ tồn tại như một cơ chế hãm/ chặn chống
lại các hợp thành thi pháp không chương trình hóa, qua đó loại trừ mọi sai lệch khả
năng, đảm bảo độ trung thành cao cho hệ lưu giữ - truyền đạt” [4, tr.117]. Nhạc
thơ đóng vai trò đặc biệt trong thi pháp: “thiên chức tự điều chỉnh thiêng liêng đã
làm nhạc hòa hồn thơ” [4, tr.117].
Nguyễn Phan Cảnh nêu ra ba hệ thống nhịp điệu như sau:
“Một mặt, các thuộc tính âm thanh vừa có đối lập, nghĩa là một trong hai vế
của chúng (cao - thấp, mạnh - nhẹ, dài - ngắn) là được thực hiện trong một thông
báo.
Mặt khác, các thuộc tính âm thanh lại còn có tương phản, nghĩa là hai vế
của chúng chỉ nhận diện hoàn toàn khi cả hai cùng hiện diện trên chiết đoạn. Một
hệ luận quan trọng đã xuất hiện từ đây: nhờ quan hệ tương cận, tính chất của các
thuộc tính âm thanh đã được nêu bật.

và khép-mở” [4, tr.124]. “Trong giai đoạn văn học khi văn xuôi làm chủ đạo: văn
bản ngôn ngữ xây dựng theo hệ kết hợp, nhạc thơ xây dựng theo hệ tương phản:
mọi khai thác nhạc tính trong thơ sẽ xoay quanh tiết tấu. Điều này làm cho số lượng
âm tiết trong câu thơ tự do hơn. Nhạc thơ ở đây do thanh điệu tạo thành. Các
nguyên âm tiếng Việt nằm trong thế đối lập cao - thấp và bằng - trắc” [4, tr.127]

13


1.1.6. Nhận xét quan điểm của tác giả
Tên công trình nghiên cứu của Nguyễn Phan Cảnh là Ngôn ngữ thơ và hệ
thống thành mười hai chương nhưng chưa thực sự giúp người đọc nắm bắt được nội
dung, đặc điểm mà ông trình bày. Hơn nữa tiêu đề của mỗi chương lại là những
cách định danh xa lạ và khó hiểu.
Ông vận dụng quan điểm của R. Jakobson vào việc nghiên cứu thơ trữ tình
Việt Nam thông qua hai thao tác lựa chọn và kết hợp. Qua đó, Nguyễn Phan Cảnh
cũng nêu lên được một số phương diện của ngôn ngữ thơ trữ tình Việt Nam, nhưng
vẫn còn nhiều điểm bất cập cần xem xét.
Kế đến, tác giả đề cập đến “lắp ghép - một khả năng vô cùng quyết định với
nghệ thuật ngôn ngữ” [4, tr.32], nhưng khái niệm mà tác giả đưa ra không rõ nội
hàm gì cả. Mà thực chất cái mà tác giả gọi là lắp ghép chính là một tên gọi khác của
song hành cú pháp trong tu từ học.
Nguyễn Phan Cảnh đặt tên chương V là: Cách tổ chức kép các lượng ngữ
nghĩa hay bản chất các phương thức chuyển nghĩa có tính chất ẩn dụ. Ngay phần
tiêu đề, ông đã đồng nhất tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa với phương thức ẩn dụ.
Mà bản thân khái niệm Tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa cũng đã là một khái
niệm quá mơ hồ, không có cơ sở ngôn ngữ học. Xét về mặt thao tác ngôn từ nói đến
tổ chức kép là nói đến việc tạo nghĩa bằng thao tác kết hợp ứng với quan hệ ngữ
đoạn. Và thực chất tổ chức kép không đơn giản chỉ là kép (hai) mà cón có thể nhiều
hơn hay chính xác hơn, đó là hiện tượng đa nghĩa theo tác giả Chim Văn Bé đã dẫn

như nhịp, tiết tấu và quãng lặng là xác định. Còn tính nhạc của ngôn từ thơ ca là
khách quan nhưng nó vẫn mơ hồ, không rõ ràng. Điều đó cho thấy Nguyễn Phan
Cảnh không có ý thức xác lập mối quan hệ giữa các yếu tố biểu hiện tính nhạc của
ngôn ngữ thơ và các thành tố âm nhạc.
1.2. QUAN ĐIỂM CỦA BÙI CÔNG HÙNG
Công trình nghiên cứu của Bùi Công Hùng về Tiếp cận nghệ thuật thơ ca là
một trong ba công trình nghiên cứu thơ của ông. Trong công trình vừa nêu, Bùi
Công Hùng đã nghiên cứu về các phương diện của nghệ thuật thơ ca. Trong đó,
phương diện ngôn ngữ được ông xem xét qua các cấp độ cấu trúc bài thơ.
Với điều kiện trong phạm vi luận văn, chúng tôi xin xem xét về hệ thống
ngôn ngữ, các thành phần của câu thơ trong bài thơ.
1.2.1. Về hệ thống ngôn ngữ
Theo Bùi Công Hùng: “ Hệ thống ngôn ngữ được xây dựng theo các quy luật
của mối quan hệ ngôn ngữ trong tác phẩm, giữa cái biểu đạt và cái biểu hiện trong
văn học. Vì vậy, khi nghiên cứu thơ ca, ta phải phân biệt ngôn ngữ nói chung ngôn
ngữ có tính nghệ thuật nói riêng.” [8, tr.62-63]
Bùi Công Hùng đi vào ngôn ngữ thơ, xác định ngôn ngữ thơ có nhiều nét
tương đồng với âm nhạc, nhưng lại có nhiều nét khác biệt. Ông cho rằng ngôn ngữ
thơ và ngôn ngữ âm nhạc đều có sự hòa âm, có các quãng cách giữa các nhịp, có sự

16


phân bố dài ngắn của các âm. Ông đã tiếp thu quan điểm của Jimunxki khi cho
rằng: “Trong ngôn ngữ thơ, quãng cách không xác định rõ ràng như trong âm
nhạc, còn quãng cách trong âm nhạc phải được xác định rõ ràng, không được tùy
tiện thay đổi. Trong ngôn ngữ thơ, sự phân bố độ dài ngắn của các âm trong từ
không có sự chình xác cố định. Còn sự phân bố độ dài ngắn của âm trong âm nhạc
được xác định thời gian cố định trong các nốt nhạc”. [8, tr.69]
Bên cạnh việc phân biệt ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ âm nhạc, ông còn phân

(1) “Từ ngữ trong thơ là những từ ngữ cô đọng, hàm súc có sự lựa chọn kĩ
càng.” [4, tr.165]
(2) “Từ ngữ trong thơ chứa đựng tiếng vang cảm giác được của các chữ
trong sự kết hợp của chúng”. [8, tr.168]
(3) “Trong từ ngữ của thơ, có những từ ngữ vị trí là vai trò, là chìa khóa của
bài thơ, là từ đặc biệt mang âm hưởng riêng, sắc thái riêng của bài thơ, là điểm
ngời sáng trong bài thơ”. [8, tr.172]
(4) “Từ ngữ trong thơ có sức tạo nên sự liên tưởng nhiều tầng” [8, tr.175].
(5) “Từ ngữ sử dụng trong thơ được vận dụng bởi nhiều phép chuyển nghĩa,
nhưng chủ yếu là ẩn dụ [8, tr.178].
Về Nhịp điệu, Bùi Công Hùng cho rằng: “Nhịp điệu là sự nối tiếp của các
tiếng sắp xếp thành từng khung đều đặn của giọng nói và theo thời gian” và “nhịp
điệu trong thơ xuất hiện trên cơ sở nhịp điệu của lao động, nhịp điệu của hơi thở
con người” [8, tr.178].
Ngoài ra, ông dẫn ra hàng loạt nhận định của các tác giả nước ngoài:
Theo Tômasépki: “Nhịp của bài thơ được xây dựng trên bản chất của chính
vật liệu ngôn ngữ và nó động viên chính các thuộc tính biểu hiện các vật liệu ngôn
ngữ, dù cơ cấu bài thơ có riêng biệt và đặc thù bao nhiêu đi nữa, thì cơ cấu ấy cũng
thuộc về một ngôn ngữ và không lặp lại ngoài giới hạn của các hình thức dân tộc
trong lời nói”.[8, tr.182].
Hay theo Jimunxki thì âm luật nghiên cứu quy luật chung của việc luân
phiên các âm mạnh và âm yếu. Nhịp điệu trog thơ gồm các phần cụ thể áp dụng
theo quy luật của âm luật. Nhịp điệu của thơ tạo nên theo quy luật của sự luân phiên
âm mạnh và âm yếu xuất hiện trong sự xuất hiện trong sự tác động của các bản chất
tự nhiên của tài liệu ngôn ngữ và âm luật.

18


Theo Calatorova , trong Thơ và nhịp điệu, thì nhịp điệu của câu thơ là dòng


19


chậm và nhanh, giọng mạnh và yếu. Còn theo Khôsennhicốp, thì ngữ điệu bao gồm
các dấu hiệu như giọng lên cao và xuống thấp, chỗ ngắt mạnh nhiều hay mạnh ít
trong lời, sự sắp đặt các trọng tâm câu mạnh hay yếu, từng phần của nhóm từ
nhanh hay chậm tương đối.
Ngoài ra, theo Lâm Vinh (Tạp chí văn học số 6 - 1981) thì ngữ điệu bao gồm
các dấu hiệu: Lên cao và xuống thấp, chỗ ngắt mạnh nhiều hay mạnh ít trong lời
nói, sự sắp đặt các trọng tâm câu mạnh hay yếu và từng phần của nhóm từ nhanh
hay chậm tương đối.
Nhạc sĩ Lê Yên đã ghi thành ba nốt nhạc sau đây có thể xem như ba cung
bậc tiêu chuẩn của các thanh trong tiếng Việt: âm khu cao là sắc ngã, âm khu trung
là không dấu, âm khu trầm là huyền, hỏi, nặng.
Cuối cùng Bùi Công Hùng đúc kết lại: “Ngữ điệu trong thơ một mặt phụ
thuộc vào nhịp điệu, âm thanh, từ ngữ trong chính văn bản của câu thơ, một mặt do
người đọc, người đọc có thể nhấn mạnh vào các khía cạnh khác nhau, hoặc giọng
đọc cao hơn hay ít hơn một ít”. [8, tr.207]. Ngoài ra, ông còn cho rằng ngữ điệu
trong thơ được chia thành hai nhóm cơ bản: thơ để hát, để ngâm và thơ để nói, để
đọc.
1.2.3. Nhận xét quan điểm của tác giả
Tuy tựa đề công trình nghiên cứu của Bùi Công Hùng là Tiếp cận nghệ
thuật thơ ca, nhưng tác giả lại không đem đến cho người đọc điều gì là tiếp cận cả
ngoài những khái niệm mơ hồ, những nhận định mâu thuẫn và không hiểu ý định
cuối cùng của tác giả là gì.
Ông trích dẫn quá nhiều nhận định của những tác giả nước ngoài, nhưng
riêng phần mình thì ông không mang lại điều gì mới mẻ và cũng không tự mình nêu
lên được khái niệm cho công trình mình nghiên cứu.
Hơn nữa, chúng ta có thể nhận thấy đây là công trình thiếu tính hệ thống. Bởi

thơ, tổ chức ngôn ngữ và cấu trúc hình tượng thơ, một số tính chất và đặc điểm
quan trọng của ngôn ngữ thơ.
1.3.1. Về phương thức của ngôn ngữ
Theo Hữu Đạt, phương thức tạo hình và phương thức biểu hiện là hai
phương thức cơ bản của ngôn ngữ thơ.
Về phương thức tạo hình thì Hữu Đạt định nghĩa rằng tạo hình là phản ánh
trực tiếp đối tượng, nghĩa là miêu tả đối tượng như nó vốn có trong thực tế khách
quan. Một tác phẩm thơ ca có tính chất tạo hình là một tác phẩm đem đến cho người
đọc những bức tranh sinh động về cuộc sống và hiện thực thực tế khiến người ta có
thể cảm nhận được. Muốn như vậy, nhà nghệ sĩ phải sử dụng hai thao tác cơ bản là
thao tác lựa chọn và thao tác kết hợp. Thao tác lựa chọn cho phép nghệ sĩ lựa chọn
các yếu tố ngôn ngữ như là các bức tranh riêng lẻ về hiện thực. Thao tác kết hợp
cho phép nhà nghệ sĩ xây dựng những bức tranh chung rộng lớn hơn bằng việc kết
hợp những bức tranh riêng lẽ này lại với nhau theo những quy luật nhất định.
Từ  Ngữ  Câu  Đoạn văn  Văn bản
Từ khi tồn tại độc lập chỉ là một hình ảnh chứ chưa phải là một “bức tranh
tạo hình” với cái nghĩa đơn giản của nó. Nhưng khi “từ tồn tại trong ngữ thì từ đã
được hiện thực hóa bằng văn cảnh. Lúc này, từ không còn là bức tranh trừu tượng,
là hình ảnh của sự vật nữa, mà bắt đầu trở thành bức tranh hoàn toàn cụ thể, có thể
tri giác được bằng cảm giác. Nói cách khác, lúc này từ hoạt động với tư cách là bức
tranh tạo hình” [6, tr.40-41]. Một câu có thể được xem như bức tranh khá hoàn
chỉnh, trọn vẹn về sự vật. Còn một đoạn câu, một văn bản là bức tranh rộng lớn về
nhiều sự vật, hiện tượng được hòa phối với nhau trong một chỉnh thể thống nhất.

22


Ngoài ra ông cũng khẳng định: “Một văn bản thơ có tính tạo hình là văn bản có khả
năng gợi ra trước mắt người đọc hình ảnh về một sự vật, hiện tượng nào đó. Hình
ảnh này thường khá cụ thể và có thể dễ dàng hình dung ngay được” [6, tr.41]



Trích đoạn Tính tạo hìn h biểu cảm Tính hòa phối đa phương diện Tính mạch lạc ngầm ẩn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status