A. MỞ ĐẦU
1: Lý do chọn đề tài:
“Việc giảng dạy văn học và tiếng Việt là một khoa học và là một
nghệ thuật, điều đó đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ, phải tìm tòi, phải sáng
tạo để có cách dạy văn tốt hơn” – Phạm Văn Đồng. Đó là những lời nói đầy
sức hướng đẫn và cổ vũ đối với đội ngũ giáo viên bộ môn ngữ văn của
chúng ta.
Là giáo viên bộ môn ngữ văn, qua quá trình học tập và thời gian giảng
dạy ở trường PTTH, và qua khảo sát khả năng tiếp nhận một tác phẩm văn
học của học sinh. Chúng tôi xin trình bày với toàn thể các bạn đồng nghiệp
về đề tài: “ Phát huy năng lực cảm thụ giá trị nội dung thông qua phân
tích các yếu tố nghệ thuật trong một tác phẩm thơ”. Khi viết đề tài này,
chúng tôi mong các bạn đồng nghiệp đừng tìm trong những trang viết này
những khuôn mẫu sư phạm nào đó vế phương pháp giảng dạy tác phẩm văn
học tốt nhất. Những vấn đề chúng tôi viết ra đây nhằm trao đổi với các bạn
mong khêu gợi được phần nào những suy nghĩ những tìm tòi sáng tạo của
các bạn. Bởi vì chúng ta biết việc giảng dạy một tác phẩm văn học cũng như
giảng dạy tiếng Việt đối với thầy cô giáo cũng như đối với học sinh vẫn luôn
là việc phải suy nghĩ, phải tìm tòi và sáng tạo không ngừng.
Trách nhiệm của một giáo viên ngữ văn đối với việc giảng dạy một
tác phẩm văn học là phải làm sao cho học sinh thực hiện được khả năng cảm
thụ của mình vào một tác phẩm văn học, và như gắn tâm hồn của mình vào
tác phẩm để từ đó các em tự ý thức được chính mình trong tất cả các mối
quan hệ và rèn luyện cho các em năng lực cảm thụ giá trị ý nghĩa của một
tác phẩm văn học.
Phát triển năng lực cảm thụ thông qua sự tư duy phát hiện của học
sinh, làm cho các em cảm nhận được sâu sắc nhất giá trị nội dung cũng như
nghệ thuật của tác phẩm văn học.
2: Đối tượng nghiên cứu:
- Viết đề tài này nhằm giúp các giáo viên trong bộ môn ngữ văn mà
chủ yếu là giáo viên THPT có những phương pháp và điều chỉnh tốt hơn
nhất và hiệu quả nhất.
B. NỘI DUNG
I: CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Thực hiện nghị quyết 40/2000/QH10 của Quốc Hội và chỉ thị số
14/2001/CT – TTG của Thủ tướng chính phủ về việc đổi mới nội dung
chương trình SGK phổ thông và đổi mới phương pháp dạy học, nhằm nâng
cao chất lượng giáo dục, đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ
- 2 -
cho quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Đồng thời để bộ môn
Ngữ văn ngày càng xích lại gần hơn đối với thế hệ học sinh chunhs ta hiện
nay. Chúng tôi đã đi sâu và tìm hiểu phương pháp đổi mới dạy một tác phẩm
văn học mà cụ thể là tác phẩm thơ, với khuynh hướng: Phát huy năng lực
cảm thụ giá trị nội dung thông qua phân tích các yếu tố nghệ thuật
trong một tác phẩm thơ, để giúp các em nắm bắt giá trị của các tác phẩm
thơ một cách sâu sắc hơn.
Để làm sáng rõ nội dung của đề tài, chúng tôi đưa ra một số quan
niệm, hiểu biết của mình xoay quanh đề tài như sau:
1: Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức (nghệ thuật) trong một tác
phẩm văn học.
2: Một số phương pháp tiếp cận giá trị nội dung thông qua phân tích
các yếu tố hình thức.
II: CƠ SỞ THỰC TIỄN:
1) Dựa trên những tác phẩm văn học trong chương trình và SGK.
2) Quá trình tiếp nhận và cảm thụ văn học của học sinh THPT
3) Khả năng phát hiện dấu hiệu nghệ thuật trong TPVH của học sinh
THPT.
III: NỘI DUNG VẤN ĐỀ:
1: MỐI QUAN HỆ THỐNG NHẤT GIỮA NỘI DUNG VÀ HÌNH
THỨC TRONG MỘT TÁC PHẨM VĂN HỌC.
Chúng ta biết rằng tác phẩm văn học là một cấu trúc văn bản nghệ
THÔNG QUA PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ HÌNH THỨC.
Tác phẩm văn học là con đẻ tinh thần của một nhà văn, vì vậy để hiểu
rõ được dụng ý của tác giả muốn đề cập trong tác phẩm thì chúng ta cần phải
đào sâu, bởi kỹ trong “đứa con đẻ tinh thần ấy”. Nghĩa là chúng ta cần phải
phân tích, tìm hiểu kỹ tác phẩm, cần phải khai thác hết mọi khía cạnh mà tác
giả bộc lộ trong bài thơ. Một trong những cách tiếp cận giá trị nội dung ý
nghĩa của tác phẩm văn học là phải đi sâu phân tích tìm hiểu giá trị nghệ
thuật được tác giả sử dụng trong tác phẩm của mình. Sau đây là một số
phương pháp tiếp cận giá trị nội dung thông qua cách phân tích các yếu tố
nghệ thuật
2.1. Sự thay đổi đột ngột của thanh điệu.
Trong một tác phẩm thơ tác giả đang gieo vần một cách liền mạch, nghĩa
là các câu thơ đi theo một vần, bỗng nhiên đến một câu thơ nào đó vần của
bài thơ bỗng nhiên bị thay đổi, không được gieo theo vần liền mạch nữa.
- Xét hai câu thơ sau trong “ Truyện Kiều” của Nguyễn Du, đoạn Tú
Bà đánh đập nàng Kiều được kết thúc như sau:
“ Thương ôi tài sắc bậc này
- 4 -
Một dao oan nghiệt, đứt dây phong trần”
Ở câu thơ 8(câu bát) trên, ta thấy thanh huyền được gieo cuối cùng, nếu xét
riêng trong phạm vi hai câu thơ này, không hề có một ý nghĩa nội dung nào
cả. Nghĩa là nó không có giá trị nghệ thuật. Nhưng nếu đặt trong mối tương
quan lớn hơn, trong cả đoạn Tú Bà đánh Kiều thì sẽ bộc lộ ngay vai trò thi
pháp của cái thanh huyền tưởng như vô cùng bình thường này. Tất cả các từ
cuối cùng trong câu ở đoạn thơ khá dài này đều là thanh không:
“ Con kia đã bán cho ai
Nhập gia phải cứ phép nhà tao đây ”
đến cuối cùng bỗng hạ xuống kết thúc bằng thanh “ huyền” như để khóc, òa
như muốn nói rằng nàng Kiều đã chết rồi.
2.2. Sự thay đổi về nhịp thơ
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn”
(Tự Tình II – Hồ Xuân Hương)
Tác giả đã sử dung biện pháp đảo ngữ (chủ ngữ đứng sau vị ngữ ) kết hợp
với việc đưa động từ mạnh lên đầu câu “xiên ngang”, “đâm toạc” và việc kết
hợp phép đối “mặt đất / chân mây” để tạo ra cách nói mạnh mẽ thể hiện thái
độ không cam chiu, ngang ngạnh, phẫn uất muốn vạch đất trời mà oán hờn,
muốn thách thức số phận. Từ than thở, tức tối đến muốn đập tan mốn giải
thoát sự cô đơn, lẻ mọn của tác giả, nữ văn sĩ Hồ Xuân Hương
2.4. Sử dụng hình ảnh giàu tính biểu cảm các động từ mạnh, các từ
tượng thanh, tượng hình, những từ ngữ đặc tả vv
- “Con gió xanh rì rào trong lá biếc,
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rôn rã bỗng đứt tiếng reo thi,
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?”
(Vội Vàng – Xuân Diệu)
Hình ảnh con gió cũng biết chuyện trò, cũng biết hờn vì sắp phải chia tay
với lá. Hình ảnh tiếng chim đang rộn ràng ca múa, vậy mà bỗng ngừng bặt vì
đang nghĩ rằng mình sắp mất đi => Đó chính là cảm nhận đầy bi kịch về sự
sống, mỗi khoảnh khắc trôi qua là một sự mất mát, li tan, phai tàn và mòn
héo
2.5. Sử dụng câu ngắn dài khác nhau, câu đặc biệt.
Nghĩa là trong một bài thơ chúng ta thấy có sự đặc biệt của số chữ trong
câu. Số chữ trong câu không cố định nghĩa là câu thơ dài ngắn khác nhau,
thay đổi liên tục thể hiện tâm sự của nhân vật trữ tình trúc trắc, gập ghềnh:
- “Khách tử lệ giao lạc.
Quân bất học tiên gia mỹ thụy ông,
Đăng sơn thiệp thủy oán hà cùng!
- 6 -
Cổ lai danh lợi nhân,
Bôn tẩ lộ đồ trung ”
- Hay: “Bỏ nhà lũ trẻ lơ thơ chạy,
Mất ổ đàn chim dáo dát bay”
(Chạy Giặc – Nguyễn Đình Chiểu).
=> Nghệ thuật đối “bỏ nhà/ mất ổ”, đảo ngữ, cách dùng từ láy đã làm nổi bật
cảnh chạy thất thần, hoảng loạn , tan tác, mất phương hướng , bơ vơ, tang
tóc của lũ tre, cưa những con vật nhỏ bé. Thật đáng tội nghiệp.
2.7. Sử dụng thành ngữ,điển cố, điển tích.
Là sử dụng những cum từ cố định được hình thành trong lich sử và tồn tại
dưới dạng sẵn có, được sử dụng nguyên khối có ý nghĩa biểu đạt, có giá trị
hình tượng và biểu cảm (Thành ngữ). Hay là những sự việc có trong sách vở
đời trước hoặc trong đời sống văn hóa dân gian được dẫn gợi trong văn
chương, sách vở đời sau nhằm thể hiện nội dung tương ứng. hình thức biểu
hiện bằng từ, ngữ, câu… để tạo nên ý nghĩa hàm súc có giá trị tạo hình
tượng và biểu cảm, để đời sau suy ngẫm, học hỏi, bình xét(Điển tích, điển
cố).
- “Giường kia treo cũng hững hờ,
Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn.”
(Khóc Dương Khuê – Nguyễn Khuyến)
“Giường kia” – dùng điển tích Trần Phồn -Từ Trĩ, “Đàn kia”- dùng điển
tích Bá Nha – Chung Tử Kỳ , tất cả để nói lên nỗi đau đớn , trống vắng
không còn người tri âm, tri kỷ.
- “Dẽ có Ngu Cầm đàn một tiếng,
Dân giàu đủ khắp đòi phương”
(Cảnh ngày hè – Nguyễn Trãi)
Đàn Ngu Cầm : Mượn tích xưa (vua Nghiêu, vua Thuấn) để nói lên cái
mơ ước hiện tại, một khát vọng, mong mỏi một xã hội thanh bình, hạnh
phúc, no ấm cho nhân dân.
2.8. Mượn cảnh tả tình, mượn có nói không, lấy động tả tĩnh, thi trung
hữu họa, ước lệ tượng trưng, cánh miêu tả từ xa đến gần, từ cao xuống
thấp:
tình. Bài thơ đã miêu tả lên cảnh vật lúc chiều tà, đồng thời bộc lộ được tâm
sự buồn, cô đơn của người tù
2.9. Lối chơi chữ:
Là lợi dụng các hiện tượng đồng âm, đa nghĩa, trong ngôn ngữ
nhằm gây một tác dụng nhất định (như bóng gió, châm biếm, hài hước, )
trong lời nói; “một biện pháp tu từ trong đó ngữ âm, nhữ nghĩa, văn tự, văn
- 9 -
cảnh, được vận dụng một cách đặc biệt nhằm đem lại những liên tưởng bất
ngờ, lí thú.”.
- “Một duyên hai nợ âu đành phận.
Năm nắng mười mưa dám quản công”
(Thương vợ - Trần Tế Xương)
Tác giả đã tách từ ngữ để đặt vào cấu trúc đối xứng. Các từ “duyên
nợ”, “nắng mưa” được tách đôi trong “Một duyên hai nợ” “ Năm nắng mười
mưa” đã tạo nên những nét nghĩa riêng, thay vì duyên (tình duyên) là nợ (nợ
nần), tránh khỏi nắng thì mắc mưa, đề khổ, nhưng mỗi cái khổ có vị khác
nhau, => càng làm nổi rõ đức tính chịu thương, chịu khó, hi sinh vì chồng
vì con của bà Tú.
- “Đã bấy lâu nay bác tới nhà,
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.
Ao sâu nước cả khôn chài cá,
Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà.
Cải chửa ra cây, cà mới nụ,
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.
Đầu trò tiếp khách trầu không có,
Bác đến chơi đây, ta với ta”
(Bạn đến chơi nhà – Ng.Khuyến)
Tác giả đã dụng lối nói “có mà không” tạo nên tiếng cười vui vẻ, đồng
thời thể hiện tình bạn chân thành, mộc mạc mà thắm thiết.
2.10. Sử dụng dấu câu có sự đặc biệt (!?) thể hiện sự nghi ngờ, chế giễu
hướng về nhân dân với mong muốn “ dân giàu đủ khắp đòi phương”
-Nghệ thuật thơ Nôm độc đáo, những từ láy sinh động và câu thơ lục
ngôn tự nhiên
1.2* Kĩ năng : Tự nhận thức là khả năng của con người. biết nhìn
nhận đánh giá đúng tiềm năng, quan tâm và ý thức được mình đang làm gì.
- 11 -
- Kỹ năng giao tiếp: Xác định lối sống cao đẹp gắn với thiên nhiên,
chung thủy, tình nghĩa với quê hương.
- Đọc hiểu thơ Nôm đường luật. Khả năng phát hiện và phân tích tác
dụng của các yếu tồ nghệ thuật.
1.3* Thái độ: bồi dưỡng nhân cách sống có lí tưởng cao đẹp.
2 - TRỌNG TÂM:
Vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi qua bức tranh trong cảnh ngày hè: nhạy
cảm với thiên nhiên và cuôc sống đời thường của nhân dân, luôn hướng về
nhân dân.Nghệ thuật thơ Nôm độc đáo, những từ láy sinh động và câu thơ
lục ngôn tự nhiên
3 - CHUẨN BỊ:
3.1: GV: Tư liệu về Quốc âm thi tập của Ng. Trãi
3.2:HS : Tập soạn câu hỏi cuối bài “Cảnh ngày hè.”.
4 - TIẾN TRÌNH:
4.1 - Ổn định:
4.2 - Kiểm tra:
4.3 - Bài mới:
HOẠT ĐỘNG T-T NỘI DUNG
Hoạt động 1 : Tạo tâm thế cho học
sinh
Giới thiệu bài mới
Hoạt động 2: Tái hiện tác phẩm:
- Hãy nêu vài nét về tập thơ « Quốc
âm thi tập » ?
- Nhận xét về cách ngắt nhịp của câu
thơ 1?
Tác dụng của cách ngắt nhip?
Bài thơ mở đầu bằng một câu thơ
người Nguyễn Trãi
- Nghệ thuật : Thể thơ thất ngôn
Đường luật xen lục ngôn
* Nội dung (Bố cục) : 4 phần
+ Vô đề
+ Môn thì lệnh
+ Môn hoa mộc
+ Môn vầm thú
2. Văn bản « Cảnh ngày hè »
a. Xuất xứ : bài số 43 phần vô đề,
mục Bảo kính cảnh giới
b. Bố cục : 2 phần
* Phần 1 : 6 câu thơ đầu : Tâm trạng
của nhà thơ và cảnh ngày hè
* Phần 2 : 2 câu cuối : Nỗi niềm tha
thiết của tác giả
* Chú thích : SGK
c. Chủ đề :
Tâm hồn yêu thiên nhiên yêu cuộc
sống, yêu đời của Nguyễn Trãi
Khát vọng sống trong thanh bình
hạnh phúc cho nhân dân.
II. ĐỌC TÌM HIỂU VĂN BẢN :
1. Cảnh ngày hè và tâm trạng của
nhà thơ
* Câu 1 : « Rồi hóng mát thuở ngày
- Em có nhận xét gì về cấu trúc câu
được sủ dụng trong hai câu thơ 5, 6 ?
Tác dụng ?
Tác dụng : Làm nổi bật cảnh chiều
* 5 câu tiếp theo :
- Động từ gợi tả : Đùn đùn, phun
- Tính từ gợi tả : Đỏ, tiễn, giương,
lao xao, dắng dỏi.
- Nhịp câu 2 : 1/3/3 hoặc 4/3.
- Điểm nhìn : Từ trên « Thạch lựu
hiên » xuống dưới « Hồng lên trì »
=> Thiên nhiên tràn đầy sức sống,
ngàn hoa đua nhau nở, khoe sắc, tỏa
hương, làm cho cảnh vật như rộn
ràng, sống động.
* Âm thanh : Dắng dỏi, lao xao
-> Cảm nhận bằng tất cả các giác
quan : Thị giác, thính giác, vị giác và
bằng cảm giác
- Nghệ thuật : Đảo ngữ :
=> làm nổi bật không khí nhộn nhịp
của chiều hè nơi làng quê.
- 14 -
hè rộn ràng nơi làng quê mà nhà thơ
đã lắng nghe với một tâm hồn triều
mến. Tiếng người mua bán lao xao
văng vẳng bên chợ cá làng chài.
Tiếng ve lúc chiều tàn gợi cảm giác
u buồn nhưng với nhà thơ nó trở
thành tiếng đàn vang dội khiến
Thể hiện sự dồn nén cảm xúc của
tác giả, thì ra mạch cảm xúc về cảnh
ngày hè cuối cùng cũng chỉ là mong
muốn một xã hội thanh bình mà khắp
nơi « dân giàu đủ » mà thôi.
- 15 -
Hoạt động 4 Tổng kết, đánh giá :
Em có nhận xét gì về nét nghệ thuật
đặc sắc được tác giả sử dụng trong
bài thơ ?
Nội dung chủ đạo của bài thơ là gì ?
III. TỔNG KẾT :
1. Nghệ thuật
- Từ ngữ giàu tính hình tượng, và
biểu cảm
- Nhịp thơ sáng tạo, thể thơ thất ngôn
xen lục ngôn
2. Nội dung : Lòng yêu thiên nhiên
yêu đời, yêu cuộc sống thái bình,
hạnh phúc cho nhân dân.
4.4– Câu hỏi, bài tập củng cố:
CH: Đọc diễn cảm bài thơ và nêu bức tranh thiên nhiên qua bài “Cảnh ngày
hè”.
ĐA: Gọi hs đọc lại bài thơ và nhận xét
Bài thơ thể hiện tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, khát vọng hòa
bình, hạnh phúc cho nhân dân là vẻ đẹp tâm hồn và lí tưởng của Ng. Trãi.
Ông coi đó là gương báu răn mình.
4.5- Hướng dẫn hs tự học ở nhà
* Đối với bài học này: Học thuộc văn bản, Nắm chắc bức tranh thiên nhiên
và khát vọng của tác giả. Bình luận về ước vọng cao đẹp của Nguyễn Trãi
hiện. Tất cả học sinh trong lớp đều tham gia tích cực vào hoạt động, cố gắng
phát hiện, trả lời các câu hỏi nhất là câu hỏi kích thích sự tò mò muốn khám
phá tri thức. Hoạt động tư duy sáng tạo được vận động một cách liên tục và
có hiệu quả.Chính vì thế kết quả đạt được rất đáng kể
Tỉ lệ học sinh khá, trung bình có sự tăng lên đáng kể, tỷ lệ học sinh yếu
giảm so với đầu năm. Học sinh đã biết cách khai thác dấu hiệu nghệ thuật,
tranh luận để tìm ra vấn đề, mạnh dạn bày tỏ ý kiến quan điểm của mình
- 17 -
Không khí học tập của lớp không tẻ nhạt buồn chán mà được tạo lập
bằng sự giao lưu, đối thoại gần gũi, tự nhiên giữa người dạy và người học,
rồi giữa người học với nhau.
Do đó với những giải pháp mà chúng tôi đã trình bày trong đề tài này,
xét thấy là rất khả thi mà chúng tôi đã thực hiện từ đầu năm học 2010- 2011
đến giữa học kì II - 2010-2011, và đạt được những kết quả sau:
3.4.3. Đánh giá qua bài kiểm tra của học sinh
ĐẦU NĂM HỌC 2010- 2011
Lớp Trung bình trở lên Yếu- Kém
10TN2 (40 hs)
63.7% 36.3%
10CB6 (39 hs)
33.5% 66.5%
11CB3 (39 hs) 46,5% 53,5%
CUỐI HỌC KÌ I NĂM HỌC 2010- 2011
Lớp Trung bình trở lên Yếu- Kém
10TN2 (39 hs)
69.8% 30.2%
10CB6 (37 hs)
42.4.% 57.6%
11CB3 (39 hs) 55,3% 44,7%
GIỮA HỌC KÌ II NĂM HỌC 2010- 2011
hướng mà chúng tôi đề xuất có thể triển khai trên bình diện rộng, để ngày
càng được hoàn thiện hơn góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn ngữ
văn nói chung và phát huy tính tích cực trong việc cảm thụ giá trị nội dung
của tác phẩm thơ thông qua khai thác, tìm hiểu và phân tích các dấu hiệu
nghệ thuật nói riêng.
3. Hướng nghiên cứu tiếp đề tài
Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu, áp dụng đề tài này vào tìm hiểu tác
phẩm thơ ở cả 3 khối lớp 10, 11,12. Với thời gian công tác giảng dạy không
nhiều, kinh nghiệm còn hạn chế, chắc chắn đề tài sẽ còn nhiều thiếu sót,
Chúng tôi rất mong các cấp lãnh đạo và quý thầy cô đồng nghiệp góp ý chân
thành để đề tài thêm phong phú, hiệu quả hơn.
- 19 -
Tây Ninh, ngày 19 tháng 2 năm 2011
Nhóm thực hiện:
Nguyễn Mạnh Tuyên
Ngô Thị Mộng Tuyền
- 20 -
D: Ý KIẾN NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ
CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
I: CẤP TRƯỜNG (Đơn vị):
1: Nhận xét :
2: Xếp loại :
2. Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao người việt – Triều Nguyên - NXB
Thuận Hóa. 2000.
3. Ngôn ngữ thơ Việt Nam – Hữu Đạt – NXB Giáo dục. 1996
4. Đến với thơ Nguyễn Khuyến- Nhiều tác giả - NXB Thanh Niên. 2001
5. Từ điển thuật ngữ văn học – Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc
Phi – NXB Giáo Dục. 2004
6. Thiết kế bài dạy tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông Phan
Trọng Luận. 1996
7. Phan Trọng Luận - Tuyển tập các công trình nghiên cứu - NXB Giáo
Dục Hà Nội.
8. Phương pháp giảng dạy Văn học và Tiếng việt- Cục đào tạo bồi
dưỡng. 1983.
9. Từ điển tu từ - Phong cách thi pháp học – Nguyễn Thái Hòa – NXB
Giáo Dục.
- 23 -
F: MỤC LỤC
Trang
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Đối tượng nghiên cứu
1
3. Phạm vi nghiên cứu
1
4. Phương pháp nghiên cứu
2
D: Ý KIẾN NHẬN XÉT & ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA
HỌC… 18
E. TÀI LIỆU THAM KHẢO
19
F. M ỤC L ỤC
20
- 25 -