Khoá luận tốt nghiệp ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết gia đình của khái hưng - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
-------- n---------

ĐỖ THỊ HẰNG

NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT
TRONG TIẺU THUYẾT GIA ĐÌNH
CỦA KHÁI HƯNG

KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC








Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Ngưòi hướng dẫn khóa luận
TS. THÀNH ĐỨC BẢO THẮNG

HÀ N Ộ I-2015


LỜI CẢM ƠN
Khóa luận này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của TS.
Thành Đức Bảo Thắng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu
sắc tới thầy.

2.

Lịch sử vấn đ ề .......................................................................................1

3.

Mục đích nghiên cứu...........................................................................4

4.

Phương pháp nghiên cứu.....................................................................5

5.

Đóng góp của đề tài............................................................................. 5

6.

Cấu trúc của khóa luận........................................................................5

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐÈ CHUNG
1.1 . Khái niệm ngôn ngữ, vai trò của ngônngữ trong tiểu thuyết
/. /. I Khái niệm ngôn ngữ........................................................................ 6
/. 1.2 Vai trò của ngôn ngữ trong tiếu

thuyết..................................7

1.2 . Vài nét về lịch sử và sự ra đời của Tự lực văn đoàn..............................7
1.3 . Khái Hưng và vị trí của Khái Hưng trong Tự lực văn đoàn................ 8

thuyết là tác phẩm Gia đình được tác giả viết vào năm 1936. Từ tác phẩm đầu
tay Hồn bướm mơ tiên đến Gia đình đã khắng định sự phát triên tiến bộ của
Khái Hưng trên cả hai phương diện: nội dung và hình thức. Tác phẩm đã tố
cáo mạnh mẽ chế độ đại gia đình phong kiến và đồng thời thể hiện được được
tài năng của Khái Hưng trong thể loại tiểu thuyết. Với ngôn ngữ đa dạng,
phong phú, độc đáo và đặc sắc, ông đã tái hiện thành công cuộc sống sinh
hoạt của nhiều giai tầng cũng như bức tranh phong tục tập quán trong xã hội
Việt Nam trước Cách mạng.
Với những lí do trên chúng tôi lựa chọn nghiên cún đề tài Ngôn ngũ'
nghệ thuật trong tiểu thuyết Gia đình của Khái Hưng. Chúng tôi hi vọng
rằng đề tài sẽ là nguồn tham khảo hữu ích, bởi tuy Khái Hưng là một tác giả
lớn và có nhiều đóng góp song những tài liệu viết về ông lại không nhiều và
không được phổ biến như các tác giả khác.
2. Lịch sử vấn đề
Khái Hưng là một nhà tiếu thuyết có tài, ông rất thành thạo trong nghề
của mình, Nguyễn Văn Xung đã khẳng định: “ ...Khái Hưng là ngòi bút chắc
chắn, điêu luyện nhất trong các nhà văn hiện đại. Cách viết trong sáng đến

1


bình dị của Khái Hưng là đức tính cao nhất mà kỹ thuật hành văn có thể đạt
được”. [11, 31]. Trong suốt thời gian qua đã có rất nhiều công trình nghiên
cứu, nhiều bài viết về tiểu thuyết của Khái Hưng trên cả hai phương diện nội
dung và hình thức, song về ngôn ngữ trong tiểu thuyết Gia đình của Khái
Hưng thì chưa có một tác giả nào tìm hiếu một cách cụ thê, có hệ thống.
Trước cách mạng tháng Tám, tiêu thuyết của Khái Hưng được đón
nhận một cách nồng nhiệt, ông là một trong những tác giả được nhiều người
nói tới qua các bài viết đánh giá chung về nhà văn, hoặc các bài phê bình, giới
thiệu sách của Nhất Linh, Trương Tửu, Trần Thanh Mại, Mai Xuân Nhàn,

và ở mảng tiêu thuyết thì chỉ nhắc tới hai tiêu thuyết Hồn bướm mơ tiên và
Nửa chừng xuân.
Sau cách mạng tháng Tám, trong điều kiện chiến tranh tiểu thuyết Khái
Hưng dường như không được quan tâm, phải mãi tới những năm 1954 nó mới
được đề cập đến.
Ở miền Nam tiểu thyết của Khái Hưng được tái bản với số lượng lớn,
được chính thức đưa vào trở thành trọng tâm của chương trình phố thông và
đại học. Nhiều bài báo, chuyên luận nghiên cứu về Tự lực văn đoàn về tiểu
thuyết hiện đại cũng đánh giá, khảo sát tiểu thuyết Khái Hưng như một sự
kiện, hiện tượng tiêu biểu. Chẳng hạn như: về Tự lực văn đoàn, Bàn về tiếu
thuyết của Doãn Quốc Sĩ. Các bài báo, hồi kí viết về tiểu sử, về những kỉ niệm
sống và sáng tác của Khái Hưng như: Tưởng nhớ Khái Hưng của Vũ Bằng, về
Khải Hưng của Hồ Hữu Tường... Ngoài ra còn có một số bài báo, chuyên
luận... đều đi sâu vào nghiên cứu thân thế và tác phẩm của Khái Hưng.
Ở miền Bắc các tác phẩm của Khái Hưng bị cấm lưu hành, tuy nhiên
vẫn có những công trình nghiên cứu về tiểu thuyết của Khái Hưng như: Văn
học Việt Nam ỉ 930-1945 của Bạch Năng Thi và Phan Cự Đệ, Sơ thảo lịch sử
vãn học Việt Nam 1930-1945 của Viện Văn học... Thời kì này, về cơ bản thì
chưa có một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật
của Khái Hưng cũng như trong Gia đình
Từ sau Đại hội lần thứ VI (1986), cùng với tiến trình đổi mới đất nước,
sáng tác, xuất bản, lí luận phê bình văn học cũng có bước đổi mới, việc

3


nghiên cứu Tự lực văn đoàn nói chung và tiểu thuyết của Khái Hưng nói riêng
cũng có sự thay đổi rõ rệt. Các tiểu thuyết của Khái Hưng được tái bản với số
lượng lớn, một số tác phẩm được đưa vào giảng dạy ở nhà trường, giá trị hiện
thực, giá trị tiến bộ của tiểu thuyết Khái Hưng được đánh giá đúng mức, công

đóng góp quan trọng đối với quá trình hiện đại hóa văn học dân tộc
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Chú ý đi sâu vào khai thác nghệ thuật ngôn ngữ trong tiếu thuyết Gia
đình của Khái Hưng.
3.2 Phạm vi nghiên cửu
- Tiểu thuyết Gia đình.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử-xã hội
- Phương pháp tiếp cận hệ thống
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp phân tích, tống hợp
5. Đóng góp của đề tài
Làm rõ nghệ thuật sử dụng ngôn từ củaKháiHưngtrong

tiểu thuyết

Gia đình. Đồng thời là một tư liệu tham khảo thiết thựctrong học tập, nghiên
cứu và tìm hiểu về tiểu thuyết Khái Hưng.
6. Bố cục của khóa luận
Ngoài phân Mở đầu; Ket luận và Thư mục tham khảo; Khóa luận gồm
hai chương:
Chương 1. Những vấn đề chung
Chương 2. Ngôn ngữ trần thuật, đối thoại và độc thoại nội tâm

5


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐÈ CHUNG


cực. Bên cạnh đó, các cuộc khởi nghĩa nổ ra liên tục khiến cho tình hình đất
nước trở nên hỗn loạn. Sau hai cuộc khai thác thuộc địa của Pháp tình hình xã
hội Việt Nam có nhiều chuyến biến, các thành thị, trung tâm kinh tế, văn hóa
xuất hiện. Kèm theo đó là sự ra đời của các giai cấp tầng lớp mới trong xã hội
như: tư sản, tiểu tư sản, công nhân... Đặc biệt là sự xuất hiện của tầng lớp tiểu
tư sản đã mở ra một thời kì mới cho nền văn hóa dân tộc.
Song song với sự phát triển và thay đổi của xã hội văn hóa, văn học
cũng có sự chuyển biến mạnh mẽ. Qua tầng lớp tiểu tư sản các trào lưu văn
hóa, văn học thấm sâu vào ý thức của những nhà văn, những người đọc sách.
Nghề in, nghề xuất bản, nghề báo theo kỹ thuật hiện đại không ngừng
phát triển. Nghề văn trở thành nghề để kiếm sống, hoạt động văn học trở nên
sôi nổi hơn. Điều này đã đòi hỏi văn học Việt Nam phải nhanh chóng thay đổi
để bắt kịp thời đại.
Từ những năm 1930 trở đi văn học phát triển nhanh chóng, văn học
phát triên về cả số lượng và chất lượng, sự hình thành và đôi mới các thê loại
văn học tăng lên nhanh chóng. Trong cuốn Nhà văn hiện đại tác giả Vũ Ngọc
Phan có đưa ra nhận xét: “Ở nước ta một năm có thể kể như 30 năm của
người”, ở tất cả các thể loại văn học có sự cách tân táo bạo và tiêu biểu trong
đó là Tự lực văn đoàn và phong trào Thơ mới.
Tự lực vãn đoàn xuất hiện vào khoảng thời gian từ năm 1933-1942 và
là tổ chức văn học đầu tiên của nước ta mang đầy đủ mang đầy đủ tính chất
của một hội đoàn,sáng tác theo chủ nghĩa hiện đại.
Tự lực văn đoàn do Nhất Linh sáng lập năm 1933 với các cây bút chủ
lực của nhóm: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Khái Hưng bên cạnh đó còn có Xuân

7


Diệu, Thạch Lam, Thế Lữ, Tú Mỡ... Hội đoàn bắt đầu với cơ quan ngôn luận
chính là tờ báo Phong Hóa, có tôn chỉ tiến bộ, thể hiện được tinh thần dân tộc

France” [10,53].
Trong cuộc sống gia đình, nhà văn có một tình cảm thật đáng trân
trọng: “Với mẹ tôi, ba tôi không bao giờ làm cho người phật ý. sống với nhau
trong bao nhiêu năm trời không con cái gì, chỉ có tôi là đứa con nuôi, ba tôi
năm nào cũng nhớ về hôn lễ của hia người, tặng mẹ tôi khi thì cái áo, khi thì
chỉ một nhành hoa ngắt ngoài vườn. Những lần như vậy mẹ tôi lại ôm lấy tôi
ứa nước mắt vì sung sướng” [10, 53].
Khi còn nhỏ, Khái Hưng theo học Nho tới năm 12 tuổi rồi chuyển sang
học ở trường College Paul Bert (sau đổi thành trường Lycee Albert Sarraut).
Một lần tham dự giải thi dịch văn Pháp, ông đã được Hội Trí Tri (Nam Định)
trao tặng giải nhất cho bản dịch vở hài kịch Les Plideurs của Racien, đó là
năm 1932. Ông có năng khiếu hội họa, khi tham dự trang bày tại Hội chợ Hà
Nội, ông đã được tặng giải khuyến khích năm 1925, người ta còn giữ bản dịch
của Khái Hưng về bài thơ Tình tuyệt vọng cả Arve và bài thơ Dưới trăng
uổng rượu một mình của Lí Bạch. Người ta cũng giữ lại được bức họa Trăng
xưa, Khái Hưng vẽ mô tả buồn nhớ Nhất Linh.
Sau khi thi đỗ Tú tài Pháp lần thứ nhất năm 1927 (ban Triết học), Khái
Hưng không tiếp tục học để ra làm quan như đa số những người cùng thời mà
ông lại bỏ đi buôn, làm đại lí hãng dầu Standard Oil tại Ninh Giang. Nhưng vì
tính tình phóng khoáng, bán thiếu nhiều dầu mà không thu được nợ, ông bị
thất bại sau ba năm kinh doanh, sau đó ông bỏ Ninh Giang lên Hà Nội làm
thầy giáo tại trường trung học tư thục Thăng Long (một trường tư thục lớn,
nổi tiếng tại Hà Nội lúc bấy giờ).
Cũng trong thời gian này, có một sự việc xảy ra ở quê nhà đã ảnh
hưởng lớn tới tư tưởng của Khái Hưng. Thực dân Pháp đã đàn áp, sát hại rất
nhiều người trong làng cổ Am và chính gia đình Khái Hưng cũng có nhiều

9



10


Năm 1941, Khái Hưng cùng với Hoàng Đạo bị Pháp bắt tại Hà Nội, sau
đó bị giam tại lao xá Vu Bản thuộc châu Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Tới năm
1943, Khái Hưng bị giải về quản thúc tại Hà Nội.
Sau ngày Nhật lật Pháp ở Việt Nam, các đại diện văn hóa Nhật ở Đông
Dương cho ra tờ báo hàng ngày lấy tên Bình Minh nhờ Khái Hưng đứng ra
nhưng Khái Hưng từ chối.
Cuộc chiến tranh Việt - Pháp nổ ra, Khái Hưng bỏ Hà Nội về quê vợ ở
Nam Định và mất năm 1947 tại huyện Xuân Trường, Nam Định. Vợ ông mắc
bệnh đau tim và mất tại quê nhà năm 1954.
1.3.1.2. Sự nghiệp sáng tác của Khải Hưng
Nhìn lại khối lượng tác phẩm mà nhà văn Khái Hưng để lại, trong
chúng ta chắc hắn ai cũng nê phục. “Khái Hưng xứng đáng là cây bút dồi dào,
tài hoa hơn cả của nhóm Tự lực văn đoàn” [9,25]. Từ năm 1932, ông phụ
trách mục tiểu thuyết của tuần báo Phong Hóa và khi thành lập Tự lực văn
đoàn, ông là “một kiện tướng của Tự lực vãn đoàn ”, riêng tiểu thuyết so với
bạn bè cùng nhóm về số lượng ông viết và in nhiều nhất, về tiểu thuyết Khái
Hưng đã in thành sách hơn mười tác phẩm.
Theo thời gian xuất bản gồm: Hồn Bướm Mơ Tiên (1933), Nửa Chừng
Xuân (1934), Tiêu Sơn Tráng S ĩ (1934), Trổng Mái (1935), Tiếng Suối Reo
(1935), Gia Đình (1935), Thoát Ly (1937), Thừa 7V(1938), Hạnh (1938), Đợi
Chờ (1938), Đẹp (1939), Cái Ấm Đất (1940), Những Ngày Vui (1941), Băn
Khoăn - Thanh Đức (1943)... Bóng Giai Nhân (1946), Khúc Tiêu Ai Oản
(1946), Thừa Tự (1940), Hạnh (1940), Đẹp (1941)...)
Viết chung với Nhất Linh: Anh Phải sống (1934), Gánh Hàng Hoa
(1934), Đời Mưa Gió (1936).
Viết chung với Trần Tiêu: Dưới Ảnh Trăng (1936).




1.3.2. Vị trí của Khải Hưng trong Tự lực văn đoàn
Khái Hưng là một cây bút sáng tác dồi dào nhất Tự lực văn đoàn. Hoạt
động báo chí và sáng tạo của Khái Hưng khá phong phú. Tác giả tham gia vào
nhiều mục trên báo Phong Hóa và Ngày Nay với vai trò nhà báo ông xuất
hiện đều đặn trên mặt báo với các đề tài: đấu tranh với cái cũ, phê bình, báo
cáo, chính trị...
Khái Hưng gắn kết với Tự lực văn đoàn rất sâu nặng, Trần Khánh Triệu
kể: “Trở về chuyện ba tôi... đối với gia đình như vậy đối với bạn bè ba tôi lại
có cảm tình nồng hậu đặc biệt “mê như mê gái, đó là lời mẹ tôi nhận xét về sự
giao thiệp đối với mọi nhà văn trong Tự lực văn đoàn. Trong nhà dù có việc
bận đến đâu anh em rủ đi chùa Thầy, chùa Trầm hay lên ChaPa, Tam Đảo ba
tôi cũng vui vẻ đi ngay. Những giờ làm việc cho tới khuya đế kịp ngày ra báo,
tôi vẫn thường nghe thấy tiếng ba tôi cười vang cùng anh em, có lẽ những phút
giây ấy là những phút giây thần tiên nhất trong đời ông vậy”. [8, tr55]
Từ một người mà quan niệm về xã hội, nhân sinh và văn chương có
những điểm mới mẻ, nhưng cũng còn khung cổ, tham gia Tự lực văn đoàn,
Khái Hưng đã chuyển biến cùng với Nhất Linh và các bạn trong văn đoàn.
Đọc những bài nghị luận của Bán Than đăng trên Văn học tạp chí và Phong
Hóa từ số 1 đến số 13 và những bài nghị luận của Nhị Linh đăng trên báo
Phong hóa từ số 14 đến số 87 ta như thấy một Khái Hưng khác, một Khái
Hưng đứng hẳn về phía tư tưởng tự do, dân chủ và nếp sống văn hóa, văn
minh phương Tây, đồng thời chế giễu, phê phán gay gắt, mạnh mẽ những hủ
tục, những tín điều, những đạo lí của văn hóa cũ.
Khái Hưng là nhà văn sáng tác dồi dào nhất Tự lực văn đoàn, hoạt động
báo chí và văn chương của Khái Hưng khá phong phú, với vai trò là nhà báo,
Khái Hưng xuất hiện khá đều đặn trên Phong hóa và Ngày nay.

13


Cuốn tiểu thuyết chính là bản cáo trạng đanh thép tố cáo, phanh phui tất
cả các mặt trái, nhơ nhớp của quan trường, sự thối nát trong gia đình, đó cũng
là cái phần hiện thực trong các sáng tác của Khái Hưng.
Trong tác phấm mọi thái độ của tác giả được thế hiện rõ rệt, giá trị của
cuốn tiếu thuyết ở chỗ nó miêu tả sự thật xấu xa của đại gia đình phong kiến,
nó còn nói lên rằng, trong xã hội thực dân phong kiến, người thanh niên trí
thức như An thường là nạn nhân của sự tha hóa trầm trọng: từ chỗ có một lí
tưởng đến chỗ buông xuôi theo thời, làm tất cả những cái xấu mà mọi người
đều làm, con đường không xa.

15


CHƯƠNG 2
NGÔN NGỮ TRÀN THUẬT, ĐỐI THOẠI VÀ

Độc THOẠI NỘI TÂM

2.1 Ngôn ngữ trần thuật
Theo Từ điên thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi đồng chủ biên: “Trần thuật là phương diện cơ bản của phương thức
tự sự, là việc giới thiệu khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự
kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của người trần thuật. Trần thuật không
chỉ là lời kể mà còn bao hàm cả việc miêu tả đối tượng, phân tích hoàn cảnh,
thuật lại tiểu sử nhân vật, lời bình luận, lời ghi chú của tác giả.... Ngôn ngữ trần
thuật do vậy là nơi bộc lộ ý thức sử dụng ngôn ngữ có chủ ý của nhà văn, bộc lộ
cách lý giải cuộc sống từ cách nhìn riêng và cá tính sáng tạo của tác giả”.
Trần thuật là một phương thức nghệ thuật đặc trưng của tác phẩm tự sự.
Trong tiểu thuyết, trần thuật tập trung vào số phận một hoặc nhiều cá nhân

ngữ khác, đồng thời có thể khúc xạ cả những ý chỉ của tác giả và do đó, đến
một mức độ nhất định, có thể được coi là ngôn ngữ thứ hai của tác giả.” Mỗi
nhân vật đều có ngôn ngữ trần thuật của mình, làm phân hoá ngôn ngữ tiểu
thuyết, đưa vào tiểu thuyết nhiều tiếng nói khác nhau, đa thanh, đa giọng điệu.
Chúng ta không thê tuyệt đối hoá việc phân chia trần thuật của tác giả
với trần thuật của nhân vật vì với cách chuyển điểm nhìn từ phía người trần
thuật sang điểm nhìn của nhân vật, từ điểm nhìn bên ngoài khách quan đến
điểm nhìn bên trong chủ quan, rất khó phân biệt đâu là chủ thể của trần thuật.
Và cũng nhờ di chuyển điểm nhìn mà văn chương khám phá, chiêm nghiệm
về cuộc sống và con người một cách đa diện và có chiều sâu hơn.
Ngôn ngữ trần thuật mang tính chính xác, cá thể hoá. Mỗi câu, mỗi chữ
trong tác phấm có thế chứ đựng nhiều tầng ý nghĩa, nhiều cách giải thích.
Nhưng mỗi từ thì lại phải mang tính chính xác và cá thể hoá. Ngôn ngữ trần
thuật còn là ngôn ngữ đa thanh vì đặc trưng của ngôn ngữ văn xuôi là sự tác

17


động qua lại rất phức tạp giữa tiếng nói tác giả, người kể chuyện và nhân vật,
giữa ngôn ngữ miêu tả và ngôn ngữ được miêu tả.
Ngôn ngữ đa thanh trong trần thuật nhấn mạnh vào ngôn ngữ của người
khác, hướng về một tiếng nói khác; chang hạn tiếng nói tác giả hướng về
tiếng nói của nhân vật, hoặc tiếng nói nhân vật trong đó có xen lẫn giọng tác
giả, hoặc là tiếng nói của nhân vật này xen lẫn giọng của nhân vật khác.
2. /. /. Ngôn ngữ trần thuật linh hoạt
Khảo sát trong tiểu thuyết Gia đình, ta thấy số lượng lời trần thuật gần
như chiếm /4 dung lượng tác phẩm Khái Hưng. Ông có biệt tài trong việc sử
dụng ngôn ngữ trần thuật để miêu tả cảnh vật cũng như là đi sâu vào nội tâm
của nhân vật. Có được điều này, Khái Hưng rất linh hoạt khi chuyển đổi điểm
nhìn của người kể chuyện, trong Gia đình ông để cho nhân vật đứng ra kể

sướng” ....
Trong Gia đình lúc An cảm nhận về gia đình ông Án Báo cũng là lúc
người kể chuyện xuất hiện dưới cái vỏ bọc của nhân vật. Khi miêu tả những
lục đục trong gia đình ông bà Án Báo, Khái Hưng không trực tiếp miêu tả, mà
lại được nói lên qua con mắt của An (con rể). Chính điều này làm cho câu
chuyện trở nên khách quan hơn, “ An buồn sầu, đau đớn nhận ra rằng ngày kỵ
chang phải là dịp đế quan viên trong làng mượn cớ châm chọc, lấn át nhau mà
còn là ngày để cha mẹ, anh chị em họp mặt đông đủ giữa làn không khí bất
hòa...”. Soi chiếu từ cái nhìn của An- người con rể, nhười kể chuyện muốn
một cách khách quan khi đi vào nhận xét và cũng muốn đi sâu vào tâm lí của
của từng nhân vật trong gi đình và nhận xét về đại gia đình phong kiến.
Việc An quyết định ra làm quan được dứt khoát là nhờ người trở
thuyền đã dạy cho chàng một bàii học về đời. Hay khi An còn đang lưỡng lự
trước việc lấy tiền đút lót của dân thì hình ảnh nghèo khố của huyện Canh đã
làm cho bàn tay An trở nên vững vàng hơn, không còn run sợ gì nữa khi “mở
ngăn kéo” nhận những đồng tiền đút lót. An dù có ghê tởm, dằn vặt, xấu hổ

19


vì hành động đó nhưng vẫn chấp nhận nó như một sự bất khả kháng. Nhiều
khi người kể chuyện hóa thân vào tầng sâu nhất trong nội tâm của nhân vật,
nhà văn như chính là người trải nghiệm qua cuộc đời nhân vật, đó là khi diễn
tả tâm trạng của An khi đứng giữa hai con đường, hai sự lựa chọn: “Trong cái
tình huống hiện thời An thoáng thấy có hai con đường ra: Tự tử nếu không li
dị. Cái tính nhu nhược, yếu hèn đã như một tính gia truyền của nhà chàng.
Đen chàng nó càng rõ rệt. Đó có lẽ là kết quả của một nền văn chương lãng
mạn đã nhận được ở nhà trường.”
Người kể chuyện còn khéo léo chuyển cảnh không gian từ gia đình này
sang gia đình khác, theo dõi câu chuyện khi thì ta bắt gặp không khí căng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status