Khoá luận tốt nghiệp quan niệm nghệ thuật của ma văn kháng trong tập tiểu lận phút giây huyền diệu - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHO Ã NGŨ VĂN

v ủ THỊ KIM N G Â N

QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA MA VĂN
KHÁNG TRONG TẬP TIỂU LUẬN
HUYÈN DIỆU

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Hà Nội-2015

PHÚT GIẨ Y


Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo, ThS. Dương Thị Thúy Hằng, người
đã tận tình chỉ bảo giúp đõ’ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài: Quan niệm nghệ thuật của

Ma Văn Kháng trong tập tiểu luận “Phútgiây huyền diệu”.
LỜI
CẢM
Tôi cũng chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong
Khoa
Ngữ Văn, đặc biệt là các thầy cô
trong Tổ Văn học Việt Nam đã giúp đõ’ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành khóa luận này.
Hà Nội, thảng 5 năm 2015 Sinh viên

Vũ Thị Kim Ngân

Tôi cam đoan những nội dung tôi trình bày trong khóa luận là kết quả quá trình nghiên cứu

quá trình sáng tạo văn học. Quan niệm nghệ thuật thế hiện quan điếm, cách nhìn
nhận, lí giải hiện thực đời sống của nhà văn trong tác phấm cũng như việc xây dựng
các yếu tố liên quan đến hình thức nghệ thuật. Một hệ thống quan niệm nghệ thuật
chắc chắn, đúng đắn và độc đáo chắc chắn sẽ có sự chi phối và định hướng tốt đối
với việc sáng tác văn học.
1.2.

Ma Văn Kháng tên thật là Đinh Trọng Đoàn, sinh ngày 1 tháng 12
năm 1936 tại làng Kim Liên thuộc Kẻ Chợ, nay thuộc phường Phương Liên quận
Đống Đa Hà Nội. Bút danh Ma văn kháng bắt đầu xuất hiện trên tuần báo Văn nghệ
năm 1961, đến nay đã hơn 40 năm cầm bút, Ma Văn Kháng đã đóng góp không nhỏ
cho sự phát triến của văn học nước nhà. Đặc biệt ở thời kì đối mới, tài năng của ông
nở rộ, ông được nhắc đến với vai trò là một trong những nhà văn đầu tiên có công
mở đường cho sự nghiệp đổi mới văn học. Với sự lao động nghiêm túc, không
ngừng tìm tòi, đối mới trong sáng tạo nghệ thuật, ông đã khắng định được vị trí
vững chắc của mình trên văn đàn văn học. Sáng tác của ông được đánh giá cao ở cả
thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn và tiếu luận bũt kí. Qua từng trang viết của mình,
Ma Văn Kháng không ngừng tìm kiếm những cách thể hiện mới.

1.3.

Cùng

với một hệ thống tác phẩm phong phú và có giá trị

nghệ thuật tốt, Ma Văn Kháng còn là một cây bút rất chú ý tới những vấn đề lý
thuyết trong sáng tạo văn học. Những bàn luận về văn học và các vấn đề liên quan
đến văn học của Ma Văn Kháng được tập hợp trong cuốn tiểu luận “Phút giây

huyền diệu”. Cuốn sách này đã được trao giải Nhất của Hội nhà văn Việt Nam năm

mình.
18 bài viết là 1 8 dư vị mà đời sóng văn chương đã mang lại cho Ma Văn
Kháng những ấn tượng nhất. Ông dựng lên một đời sống nội tâm sâu sắc, đa chiều,
nhân văn và nhiều ám ảnh, từ đó khám phá ra triết lý sống và sáng tạo. Khóa luận
nhằm hướng đến phần nào giúp hé lộ lối đi bí ẩn và diệu kỳ của sự sáng tạo, đế hòa
quyện một cách tài tình và đầy thuyết phục về mối quan hệ giữa đời sống và nghệ
thuật, khắng định sự kỳ diệu của sáng tạo chỉ có thể sinh ra từ sự diệu kỳ của đời
sống. Qua đó giúp gợi mở thêm những cách tiếp cận khác nhau một văn bản nghệ


thuật và sự sinh ra của nghệ thuật từ đời sống, cũng như gợi mở cách xử lý chất liệu
đời sống khi sáng tạo và thăng hoa trong lối đi riêng biệt của mỗi nhà văn.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu

Phút giây huyền diệu là cuốn sách tập hợp những bài báo, những tiếu luận,
phê bình và bút kí của nhà văn Ma Văn Kháng đã từng đăng trên các diễn đàn văn
nghệ. Cuốn sách là cái nhìn sâu sắc và toàn cảnh về nghề viết văn cũng như công
việc viết văn của chính nhà văn. Khóa luận hướng tới việc nghiên cứu những quan
niệm nghệ thuật của nhà văn Ma Văn Kháng về các vấn đề chung của văn học như:
Bản chất của văn học, Mối quan hệ giữa văn học-hiện thực, Ngôn ngữ văn học, Các
thế loại văn học: Truyện ngắn, tiếu thuyết và Quan niệm của nhà văn về Nhà văn và
Bạn đọc trong qúa trình sáng tạo

5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khóa luận hướng đến đối tượng chính là những quan niệm nghệ thuật của nhà
văn Ma Văn Kháng thể hiện trong cuốn tiểu luận bút kí về nghề văn

Phút giây huyền diệu. Nhà văn Ma Văn Kháng đã khắng định những nỗ lực thật sự
của những người lao động Viết văn chân chính đã thoát ra khỏi những ràng buộc Văn
chương đế trở về với những lao động mệt moi hơn, vất vả hơn và nghiêm túc hơn

sâu nào đó. Đó là sự miêu tả hữu hạn của thế giới vô hạn là cuộc đời, hình tượng
văn học phải được mở đầu và kết thúc ở đâu đó, con người và cảnh vật phải được
nhìn từ giác độ nào đó. Đế tái hiện cuộc sống và con người, tác giả phải hiểu cách
họ giao tiếp với nhau, với thế giới và với bản thân, cách họ sống, hành động và suy
nghĩ, điều họ quan tâm và cái mô hình nghệ thuật về thế giới và con người bao quát
mà tác giả xuất phát đế khắc họa hình tượng của những con người và số phận cụ thế,
tố chức quan hệ của các nhân vật, giải quyết xung đột, xây dựng kết cấu tác phẩm.
Quan niệm nghệ thuật thế hiện cái giới hạn tối đa trong cách hiểu thế giới và con
người của một hệ thống nghệ thuật, thế hiện khả năng, phạm vi, mức độ chiếm lĩnh
đời sống của nó.
Quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người thế hiện ở điêm nhìn nghệ
thuật, ở chủ đề cảm nhận đời sống được hiếu như những hằng số tâm lí của chủ thế,
ở kiếu nhân vật, biến cố và quan hệ nhân vật. Khác với tư tưởng, tác phẩm văn học
tập trung thể hiện một thái độ đối với cuộc sống trong bình diện quan hệ giữa hiện
thực với lí tưởng, khắng định cuộc sống nào, phê phán cuộc sống nào; quan niệm
nghệ thuật chỉ cung cấp một mô hình nghệ thuật về thế giới có tính chất công cụ để


thể hiện những cuộc sống cần phải có mang tính khuynh hướng khác nhau. Chang
hạn tình yêu nam nữ cao đẹp thời nào cũng đều đáng yêu, và được khắng định nhưng
tình yêu trong văn học dân gian, trong truyện hiệp sĩ trung đại, trong tiêu thuyêt
lãng mạn,trong tiêu thuyết hiện thực, trong văn học cách mạng,...được thế hiện khác
nhau rất nhiều. Với tính chất công cụ đó, quan niệm nghệ thuật về thế giới và con
người chang những cung cấp một điểm xuất phát đế tìm hiếu nội dung của tác phẩm
văn học cụ thể, mà còn cung cấp một cơ sở để nghiên cứu sự phát triển, tiến hóa của
văn học. Bởi lẽ điều chủ yếu trong sự tiến hóa của nghệ thuật và của xã hội nói
chung là đối mới cách tiếp cận và chiếm lĩnh thế giới và con người. Và do đối mới
quan niệm mà thế giới cũng được chiếm lĩnh sâu hơn, rộng hơn với những phạm vi,
giới hạn, chất lượng mới.
Quan niệm nghệ thuật của văn học có liên hệ mật thiết với quan niệm về thế

Trưởng phòng chuyên môn Ty Giáo dục Lào Cai.
Trong tác phấm hồi ký - tự truyện Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ

thương xuất bản quý III năm 2009, Ma Văn Kháng cho biết: Trong chặng đường 21
năm đầu của đời công chức nhà nước tại Lào Cai (từ 1955 đến 1976) thì hơn một
nửa thời gian ông hoạt động trong ngành giáo dục. Không thế khác được, vì trước
đó, từ 1952 đến 1954 ông là giáo sinh Trường Sư phạm Trung cấp tại Khu học xá
Nam Ninh, Quảng Tây (Trung Quốc), được đào tạo bài bản để sau khi tốt nghiệp
làm giáo viên tiểu học về các môn thuộc khoa học xã hội và nhân văn [7].
Như vậy, sinh ra và lớn lên ở Hà Nội nhưng Ma Văn Kháng có một thời gian
khá dài sống ở miền núi Tây Bắc. số phận - tình cờ cũng có, chủ tâm cũng có - đã
đưa ông đến vùng Lào Cai, miền đất vàng, như ông quan niệm nhuốm màu tâm linh,
huyền diệu - mà ở đó ông lập thân, lập nghiệp, thành danh với bút hiệu Ma Văn
Kháng. Suốt hai mươi năm gắn bó với mảnh đất Tây Bắc, Ma Văn Kháng am hiếu
lối sống, phong tục của đồng bào các dân tộc thiếu số. Tình yêu, sự gắn bó ấy đã
thôi thúc ông viết văn, viết báo. Những trang viết đầu tay của ông toát lên cái nhanh
nhạy của một cây bút trẻ, hăm hở vào nghề, tự tin, mạnh mẽ và thiết tha. Cứ thế ông
cần cù, bền bỉ, chắt chiu từng giọt tinh túy của cuộc sống rồi bày lên tác phẩm. Ông
viết, xuất hiện đều đặn trên các mặt báo và nhanh chóng

Đối với Ma Văn Kháng, viết văn trước tiên là câu chuyện
về số phận con người, sự đấu tranh của mồi người đế hướng
tới cái đẹp, cái thiện. Thấp thoáng trong các trang sách,
người đọc có thể nhìn ra nỗi buồn, nỗi đau đời


của riêng ông, nhưng trên tất cả đó là những ưu tư của ông trước nhân tình
thế thái. Ông thực sự muốn dùng sức mạnh ngòi bút của mình đế mang tới những
giá trị nhân văn cho con người, vì con người ở nghĩa rộng lớn nhất.
Giờ đây, khi đã ở cái tuối xưa nay hiếm Ma Văn Kháng vẫn dành sự tận tâm,

nên tôi, trước hết là thuộc về nhà trường, nơi trau dồi lý tưởng sáng đẹp, nơi dạy
tôi tình yêu đoi với tiếng Việt, nơi cho tôi thay cải đẹp kỳ lạ, cải sức mạnh vô hình,
lớn lao của ngôn ngữ ông cha, trong đó, ở bậc tiếu học là sự manh nha và cảm
tỉnh; sâu sắc, ẩn tượng mạnh mẽ hơn ở bậc trung học và hoàn thiện trọn vẹn, kế cả
từ một tình yêu bền vững tới tri thức và kỹ năng sử dụng tiếng Việt cùng cách thức
tạo lập nên các giá trị vãn học, ở bậc Đại học”.
Ồng cũng là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1974. Ông là một nhà
văn có suy nghĩ độc lập, dũng cảm bộc lộ tư tưởng tiến bộ coi trọng học thức muốn
cải cách giáo dục nước nhà, đòi hỏi sự công bằng trong xã hội. Ông phần nào lột tả
được trong tác phẩm của mình một xã hội lạc lối và mất công bình tồn tại gần nửa
thế kỷ XX.
Từ năm 1976 đến nay ông công tác tại Hà Nội, đã từng là Tống biên tập,
Phó Giám đốc Nhà xuất bản Lao động. Từ tháng 3 năm 1995 ông là Tống biên tập
tạp chí Vãn học nước ngoài của Hội Nhà văn Việt Nam. Ông đã được nhận giải
thưởng loại B của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1986 cho quyển tiếu thuyết Mùa lá

rụng trong vườn , tặng thưởng của Hội đồng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam 1995
cho tập truyện ngắn Trăng soi sân nhỏ.
Ma Văn Kháng, có thế nói, đã là một gạch nối, tiếp sau Nguyễn Công Hoan,
Nguyên Hồng, Nam Cao, ông là nhà giáo - nhà văn của thế hệ mới, đế lại một
mảng tác phấm gây ấn tượng sâu sắc, có sức hấp dẫn lâu bền đối với người đọc - từ
những hình tượng nhân vật giầu sức biếu hiện và khái quát cao về ngành giáo dục
qua những thăng trầm của lịch sử dân tộc, vẫn rạng rỡ những nét đẹp trong nhân
cách kẻ sĩ nơi Người Thầy khả kính! [22]
1.2.2.
Hành trình sáng tác


Như ở trên có nói, sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, Ma Văn Kháng
xung phong lên vùng Tây Bắc, khai hoang mở trí. Có thể nói đây là bước ngoặt rất

1976 sau khi nước nhà thống nhất, Ma Văn Kháng rời mảnh đất Lào Cai thân yêu
đế trở về Hà Nội và hoạt động như một nhà văn chuyên nghiệp. Từ đây sáng tác
của ông nở rộ, những gì ông nung nấu, ấp ủ bấy lâu nay được dịp trải dài trên
những trang văn, các tác phẩm ra đời một cách nhanh chóng và đều đặn như một tất
yếu của cuộc sống. Tuy nhiên những năm đầu sau khi về Hà Nội, đề tài mà ông
phản ánh trong tác phẩm của mình vẫn về miền núi. Có thể nói đây là giai đoạn
chiêm nghiệm, là sự hồi tỉnh của tiềm thức, nó thôi thúc nhà văn phải viết và viết
bằng tất cả sự trải nghiệm về cuộc đời [9].
Viết nhiều và viết khỏe, được sự đón nhận của bạn đọc ở cả 2 thể loại là tiếu
thuyết và truyện ngắn, từ khi bước vào nghề văn đến nay, Ma Văn Kháng đã có gần
năm mươi năm cầm bút. Cùng với thời gian, các sáng tác của ông đã ra đời và để
lại dấu ấn sâu đậm trong tâm trí bạn đọc. Có thể khắng định rằng hành trình sáng
tác của Ma Văn Kháng được đánh dấu từ truyện ngắn Phố cụt in trên Báo Văn
nghệ 1961. Tuy nhiên truyện ngắn có tính chất ghi dấu ấn sâu sắc đối với Ma Văn
Kháng, theo đó, đã ảnh hưởng trực tiếp tới quyết định đi theo văn nghiệp của ông
sau này lại là Xa phủ (1969) và liền ngay sau đó ông tiếp tục cho ra đời 4 tập
truyện ngắn: Mùa mận hậu (1972); Người con trai họ Hạng (1972); Bài ca

trăng sáng (1972); Cái móng ngựa (1974).
Một năm sau khi đất nước thống nhất, năm 1976, Ma Văn Kháng về Hà Nội.

về Hà Nội, ông đã phải đối mặt với bao nỗi nhọc nhằn mưu sinh, thế sự dường như
là quá sức đối với con người. Nhưng chính những giai đoạn đan kết bao khó khăn
khắc nghiệt và đáng nhớ nhất này cộng với khoảng thời gian trên 20 năm sống tại
Lao Cai đã thôi thúc mạnh mẽ ngòi bút ông ghi lại: đó là những câu chuyện thấm
đẫm chất đời, tình người và dư vang của một thời kỳ lịch sử xã hội còn chưa thoát
ra khỏi những nỗi đau, sự nhọc nhằn. Hàng loạt tác phẩm đã ra đời trong giai đoạn


này như: Ngày đẹp trời (truyện ngắn 1986), Vệ sỹ của Quan Châu (truyện ngắn

người dân tộc vùng cao trong suối nguồn cảm hứng sử thi còn kéo sau chiến tranh,
ngòi bút tiểu thuyết Ma Văn Kháng đã đạt được nhiều thành tựu trên nhiều phương
diện. Do chịu ảnh hưởng của khuynh hướng văn học sử thi nên phần lớn các nhân
vật trong tiếu thuyết cảu ông được soi chiếu từ góc nhìn chính trị - xã hội. Cũng có
những dấu hiệu của sự thay đối quan niệm nghệ thuật về con người, đó là việc tác
giả đem tình yêu gắn với cảm xúc nhục thể vào trang viết, song chứng kiến sự đối
thay thực sự trong tư duy nghệ thuật của ông thì phải đợi đến chặng thứ hai trong
quá trình sáng tác của ông [17].
Những tập truyện ngắn và tiếu thuyết nổi tiếng của ông: Trăng soi sân

nhỏ( 1995), Mùa lá rụng trong vườn (1985), Đảm cưới không cố giấy giá
thú{ 1989), Côi cút giữa cảnh đời (1989), Gặp gỡ La Pan Tân (2001)... Ma Văn
Kháng có thế nói đã là một gạch nối, tiếp sau Nguyên Hồng, Nam Cao, Nguyễn
Công Hoan... ông là một nhà giáo - nhà văn của thế hệ mới, đế lại mảng tác phẩm
gây ấn tượng sâu sắc, có sức hấp dẫn đối với bạn đọc.
Ma Văn Kháng có một sự nghiệp văn chương đồ sộ cả về số lượng tác phấm
và thành tựu: 17 tiếu thuyết, 200 tập truyện ngắn và 1 hồi ký, tính ra ông đã viết
hàng vạn trang văn trong đời mình. Ma Văn Kháng thực sự “sống đã rồi hãy viết” như tâm nguyện của mình. Ồng vừa viết tác phẩm, vừa viết lí luận văn học. Có lẽ
vì là người “đi sau về muộn” nên nhà văn Ma Văn Kháng là một trong số người có
tốc độ viết nhiều nhất trong số những nhà văn thế hệ ông. Dường như ít thấy ông ở
những cuộc trà dư tửu hậu, những cuộc xôm tụ bạn bè, mà chỉ thấy ông tranh thủ
từng giây khắc của cuộc đời đế cần mẫn gieo trồng trên cánh đồng chữ nghĩa. Nói
về điều này, nhà văn Ma Văn Kháng khiêm tốn tự nhận mình là người cần cù, chịu
khó và vẫn giữ được ngọn lửa men say trong cảm xúc. Bởi vì, văn chương là thứ
mà ông đã sống với nó, chết với nó nên ngày nào còn sức khỏe, là ông còn đọc, còn
viết. Rồi ông bảo,thực sự thì văn chương cũng mang lại cho ông nhiều thứ. Từ ngày
khốn khó sống bằng nhuận bút, đến xây nhà dựng cửa cũng có phần của nhuận bút,


đến tự cứu mình bằng việc mổ tim đặt stant động mạch vành cũng là tiền nhuận bút

Mưa mùa hạ (tiểu thuyết 1982)
- Mùa lả rụng trong vườn (tiểu thuyết, 1985)
- Côi cút giữa cảnh đời (tiếu thuyết 1989)
- Đảm cưới không có giấy giả thủ (tiểu thuyết, 1989)
- Chỏ Bi, đời lim lạc (tiểu thuyết 1992)
- Ngày đẹp trời (truyện ngắn 1986)
- Vệ sĩ của Quan Châu (truyện ngắn 1988)
- Giấy trắng (tiếu thuyết)


- Trái chín mùa thu (truyện ngắn 1988)
- Heo may gió lộng (truyện ngắn 1992)
- Trăng soi sân nhỏ (truyện ngắn 1994)
- Ngoại thành (truyện ngắn 1996)
- Truyện ngắn Ma Vẫn Khảng (tuyến tập 1996)
1.3.

Tập tiểu luận Phút giây huyền diệu

Theo như ông đã tự xác định thì Phút giây huyền diệu là tập tiểu luận bút
kí về nghề văn. Tập sách

là một sự bố sung cần

thiết, mộtghi chú

bên lề

những trang sáng tác của ông



Theo ông, nhà văn cần luôn luôn nuôi dưỡng khát vọng thức nhận cái Đẹp
tồn tại trong thiên nhiên và đời sống xã hội, sự chăm lo hoàn thiện nhân cách của
người đương thòi đế rồi tìm cách diễn đạt chân xác quá trình con người nỗ lực
vươn tới một cách sống tốt hơn, chứ không phải chỉ nhăm nhăm làm sao cho sống
sướng hơn một cách tự kỉ. Khát vọng đó cần luôn thường trục, không bao giờ vơi
cạn, suy giảm; nó chính là ngọn lửa từ trái tim chan chứa tình đời, tình người của
nhà văn, đủ nhiệt năng thắp sáng truyền đi và lan tỏa tới hàn triệu trái tim và khối
óc của người đọc muôn nơi. Ngoài ra nhà văn còn cho rằng tài năng vô song của
người viết văn xuôi cũng như nhà văn nói chung trước hết là ở chỗ anh ta biết cách
sống hòa mình nhập cuộc với đời sóng ở tất cả các cung bậc cảm xúc. Nhà văn phải
“sống rồi mới viết”, nhà văn là người giàu có, triệu phú về chữ nghĩa, anh ta phải
tìm cách thối hồn vào các con chữ. Với ông tác phẩm của nhà văn phải đặt ra hoặc
gợi mở những vấn đề có ý nghĩa xã hội, nhân sinh sâu sắc, mới mẻ, không phải lúc
nào cũng thuận chiều mà có khi chứa đựng các nghịch lí, bất ngờ.
Trong các tiểu luận của mình, Ma Văn Kháng nhiều lần nhấn mạnh về lao
động công phu, cần mẫn của nhà văn trong cả tư duy và cách viết, đế tác phấm là
một sự sáng tạo mới, hoàn chỉnh và tận thiện, tận mĩ, vừa về tư tưởng thẩm mĩ, vừa
trong nghệ thuật biểu hiện. Neu chỉ ỷ vào năng khiếu thiên bẩm mà không chịu bồi
dưỡng, chăm sóc cho cái mầm tài năng đó phát triển, nảy nở, thăng hoa thì cái vốn
quý ban đầu kia chang nhanh chóng mà cạn kiệt và lụi tàn, khô héo. Nhà văn người sáng tạo ra cái mới, cái chưa có trước đó có thế so sánh với tạo hóa, hóa
công, ông trời. Nhà văn phải biết sử dụng ngôn ngữ tài tình, kiến tạo những kết cấu
nghệ thuật hài hòa, đẹp đẽ- như cách nói ngày nay là đế tác phấm trở thành một
diễn ngôn nghệ thuật mới mẻ, độc đáo. Đồng thời nhà văn cũng đề cao vai trò của
phê bình , của công chúng văn học. Theo ông thì tác phấm khởi thủy tồn tại trong
dạng vẻ một văn bản chữ nghĩa, một thông điệp thấm mĩ, tiềm ấn những nội dung
biểu đạt sâu sắc, mời gọi nhà phê bình, người đọc tiếp cận và thấu hiểu. Nhà phê


bình và người đọc như là bạn tâm giao, tri âm, tri kỉ của nhà văn, chứ không phải

Vị trí của tập tiếu luận Phút giây huyền diệu
Từ những năm 80 của thế kỉ trước, nhà văn Ma Văn Kháng đã là tác giả của
nhiều tiểu thuyết gây chú ý trên văn đàn: Đồng bạc trang hoa xòe, Đảm cưới

không có giấy giá thủ, Mưa mùa hạ... Bước sang thế kỉ XXI, Ma Văn Kháng
luôn khát khao kiếm tìm cái mới về đề tài, cách tân táo bạo về tư duy nghệ thuật và
đã tạo cho mình một phong cách mới mẻ, độc đáo trong đời văn của mình. Ông đã
nhận được rất nhiều giải thưởng cao quý. Đen nay, ông vẫn là một trong những cây
đại thụ của nền văn học đương đại. Gần đây, cuốn tiểu luận bút kí “Phút giây

huyền diệu ” của ông được xuất bản. Cuốn sách là tập hợp những bài viết về
những người bạn văn và những trăn trở nghề nghiệp của họ và bản thân tác giả.
Cuốn sách là cái nhìn sâu sắc về toàn cảnh nghề Viết văn cũng như công việc viết
văn của cây bút cổ thụ vẫn đang sung sức trong nền văn chương nước nhà. Vào
ngày 4/1/2014, Hội nhà văn Việt Nam đã chính thức công bố giải thưởng văn học
của hội năm 2013, một trong số 4 tác phẩm được trao giải là cuốn tiếu luận bút kí

“Phút giây huyền diệu” của nhà văn Ma Văn Kháng. Đánh giá về các tác phẩm
được giải, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều cho rằng: Nhà văn Ma Văn Kháng, người
được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh, đã viết Phút giây huyền diệu bằng trải
nghiệm sống và kinh nghiệm sáng tác của mình. Ông dựng lên một đời sống nội
tâm sâu sắc, đa chiều, nhân văn và nhiều ám ảnh, từ đó, khám phá ra triết lý sống
và sáng tạo. Cuốn sách hé lộ cho chúng ta lối đi bí ẩn và diệu kỳ của sự sáng tạo,
đế hòa quyện một cách tài tình và đầy thuyết phục về mối quan hệ giữa đời sống và
nghệ thuật, khắng định sự kỳ diệu của sáng tạo chỉ có thế sinh ra từ sự diệu kỳ của
đời sống. Tác phẩm này còn gợi mở cho những nhà nghiên cứu văn học hiếu thêm
những cách tiếp cận khác nhau một văn bản nghệ thuật và sự sinh ra của nghệ thuật
từ đời sống, cũng như gợi mở cho các đồng nghiệp, đặc biệt là những đồng nghiệp



đạo, thi dĩ ngôn chí”, trong nhận thức về sự bất phân giữa văn và sử, văn và triết ở
thời kỳ đầu sự phát triến của văn chương. Những người mác xít cũng đặc biệt nhấn
mạnh bản chất tư tưởng của văn chương, coi văn chương và nghệ thuật nói chung là
một hình thái ý thức xã hội, một công cụ nhận thức, một “vũ khí tư tưởng”. Tất


nhiên cách nhận thức cuộc sống, tác động tư tưởng của văn chương nghệ thuật có
những nét riêng, có tính đặc thù, so với các hình thái ý thức xã hội khác, như triết
học, đạo đức, tôn giáo... [16].
Một hướng tiếp cận khác chú trọng bản chất của văn học, mối liên hệ mật
thiết giữa văn học và nghệ thuật, coi văn học là một loại hình nghệ thuật. Đây là
cách xem xét của Aristote trong quyến Thi học (có lúc gọi là Nghệ thuật thơ ca).
Đặc biệt ở các nhà mỹ học Đức từ cuối thế kỷ XVIII, ở Kant và Hegel, bản chất
nghệ thuật của văn chương càng được nhấn mạnh, và họ coi nghiên cứu văn
chương, thi học là một bộ phận của mỹ học. Theo hướng tiếp cận này, người ta lưu
ý nhiều đến mối liên hệ giữa văn chương với âm nhạc, với nghệ thuật tạo hình, với
kiến trúc, và gần đây là với nghệ thuật điện ảnh, đề cao giá trị thấm mỹ của văn
chương, xem xét, đánh giá văn chương theo yêu cầu của cái đẹp, sự hài hòa, sự
sống [ 1 ].
Việc chú trọng đến bản chất của văn chương gắn với ngôn ngữ học hiện đại.
Roman Jakobson trong một tiếu luận nôi tiếng Ngôn ngữ học và Thi học (1960)
xem nghiên cứu thi ca, thi học là một ngành của ngôn ngữ học. Đối tượng của thi
học, theo ông, trước tiên là phải trả lời câu hỏi: cái gì làm cho một thông điệp bằng
lời nói biến thành một công trình nghệ thuật? Và ông cho rằng có thế tìm lời giải
đáp trong chức năng thi ca của ngôn ngữ [2].
Với những suy ngẫm và trải nghiệm của mình, trong tập tiểu luận và bút kí
về nghề văn Phút giây huyền diệu , Ma Văn Kháng lại cho rằng “văn học là món

hàng nhanh chóng cũ kĩ già nua và lạc thời rất nhanh. Điêu này khác với
nhiều loại hình nghệ thuật khác”. Ông lấy ví dụ về bức tranh Người đàn bà xa

“Đời không duyên nợ thà không sống/ Văn có non sông mới có hồn”. Vị lãnh tụ
kính yêu của nhân dân ta, chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết: “Nay ở trong thơ nên
có thép/ Nhà thơ cũng phải biết xung phong”...[14]


Nhưng trong cuốn tiếu luận bút kí về nghề văn của mình, nhà văn gạo cội
Ma Văn Kháng lại cho rằng: “Coi văn học như vũ khí đẩu tranh hắn là đã bất

cập. Tác phâm vẫn học không phải là một cuôn sách giáo khoa theo ý nghĩa
đi dạy dô ai. Vả chăng nhà văn cũng không ai thích đảm nhiệm vai trò nhà
sư phạm, nhà truyền bả đạo đức”. Tuy nhiên ông cũng không phủ nhận hoàn
toàn , ông viết: Dầu đã có lúc họ làm điều đó một cách xuất sắc như trường hợp

Thép đã tôi thế đấy với tư tưởng người ta chỉ sống có một lần... chắng đã từng là
sách gối đầu giường của nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam những năm khói lửa
chiến tranh cách mạng.
Như vậy ta có thể thấy, nhà văn có cái nhìn mới bắt kịp với thời đại, không
coi văn chương như một thứ vũ khí đế tranh đấu như quan niệm xưa cũ, nhưng
cũng không quên những giá trị tinh thần và tư tưởng lớn lao mà trong quá khứ văn
chương đã thôi thúc con người ta đứng lên, ông đã lấy những dẫn chứng hết sức cụ
thế và rõ ràng như trên.
Ngoài ra trong cuốn tiếu luận bút kí về nghề văn của mình, nhà văn Ma Văn
Kháng còn bộc lộ những cảm xúc của mình khi bước vào rồi say mê với nghề văn.
Ông viết: “Vồơ nghề rồi say nghề đến mức không dứt ra được, đó là điều tôi

nhận thấy sau cả quá trình làm nghề. Văn chương nó là cải gì vậy mà như
một thứ bùa mê thuôc lú, lại như một cháy bỏng khát muôn trong nô lực đến
kiệt sức mà không hiếu có nền cơm cháo gì không, đế vươn tới sự toàn diện,
toàn mĩ trong cơ cẩu, trong chủ để, trong ngôn ngữ vẫn chương Thông điệp
mà nhà văn Ma Văn Kháng muốn truyền tải tới bạn đọc, đó là sự nghiêm túc, có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status