TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
--------------------
VŨ THỊ KIM NGÂN
QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA MA
VĂN KHÁNG TRONG TẬP TIỂU LUẬN
PHÚT GIÂY HUYỀN DIỆU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Hà Nội - 2015
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo, ThS. Dương Thị
Thúy Hằng, người đã tận tình chỉ bảo giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu
đề tài: Quan niệm nghệ thuật của Ma Văn Kháng trong tập tiểu luận
“Phút giây huyền diệu”.
Tôi cũng chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Ngữ Văn,
đặc biệt là các thầy cô trong Tổ Văn học Việt Nam đã giúp đỡ tôi trong quá
trình học tập và hoàn thành khóa luận này.
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Vũ Thị Kim Ngân
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan những nội dung tôi trình bày trong khóa luận là kết quả
1.3. Tập tiểu luận Phút giây huyền diệu .................................................... 15
Chương 2. NHỮNG QUAN NIỆM VỀ CÁC VẤN ĐỀ CHUNG CỦA VĂN
HỌC ............................................................................................................. 20
2.1. Bản chất của văn học ......................................................................... 20
2.2. Mối quan hệ giữa văn học và hiện thực.............................................. 24
2.3. Ngôn ngữ văn học.............................................................................. 31
2.4. Các thể loại văn học: Truyện ngắn, Tiểu thuyết ................................. 35
2.4.1. Truyện ngắn................................................................................ 35
2.4.2. Tiểu thuyết .................................................................................. 41
Chương 3. NHÀ VĂN VÀ BẠN ĐỌC TRONG QUÁ TRÌNH SÁNG TẠO 47
3.1. Nhà văn- người tạo ra tác phẩm ......................................................... 47
3.1.1. Tài năng thiên bẩm ..................................................................... 47
3.1.2. Lao động nghệ thuật ................................................................... 49
3.2. Bạn đọc.............................................................................................. 52
3.2.1. Bạn đọc phổ thông ...................................................................... 52
3.2.2. Bạn đọc - phê bình văn học ......................................................... 53
KẾT LUẬN.................................................................................................. 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1.Quan niệm nghệ thuật có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình
sáng tạo văn học. Quan niệm nghệ thuật thể hiện quan điểm, cách nhìn nhận,
lí giải hiện thực đời sống của nhà văn trong tác phẩm cũng như việc xây dựng
các yếu tố liên quan đến hình thức nghệ thuật. Một hệ thống quan niệm nghệ
thuật chắc chắn, đúng đắn và độc đáo chắc chắn sẽ có sự chi phối và định
hướng tốt đối với việc sáng tác văn học.
huyền diệu ra đời đã thu hút được sự chú ý của bạn đọc và nhận xét bước đầu
của giới chuyên môn.
Cuốn sách nhận được sự quan tâm của PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện –
người viết lời bạt cho cuốn sách: “Những phút giây Huyền diệu”, nhà văn Ma
Văn Kháng đã khẳng định những nỗ lực thật sự của những người Viết văn
chân chính đã thoát ra những ràng buộc Văn chương để trở về với những lao
động mệt mỏi hơn, vất vả hơn và nghiêm túc hơn bằng những bài viết, lí luận
phê bình sắc sảo”. Hay bài viết của tác giả Hoa Quỳnh đăng trên báo Thể
thao- Văn hóa: Nhà văn Ma Văn Kháng b ật mí về “Phút giây huyền diệu”, và
một số bài tìm hiểu khác,...
Trên cơ sở những hiểu biết đã có, cùng với việc tìm hiểu những bài
nghiên cứu của các tác giả đi trước, chúng tôi nhận thấy còn một khoảng
trống nhỏ về phần quan niệm nghệ thuật của nhà văn trong cuốn sách này.
Chính vì vậy mà chúng tôi chọn đề tài Quan niệm nghệ thuật của nhà văn Ma
Văn Kháng trong tập tiểu luận Phút giây huyền diệu để phần nào làm sáng tỏ
thêm về quan niệm nghệ thuật của nhà văn Ma Văn Kháng trong quá trình
sáng tác văn học của ông.
2
3. Mục đích nghiên cứu
Nhà văn Ma Văn Kháng, người được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh,
ông đã viết Phút giây huyền diệu bằng trải nghiệm sống và kinh nghiệm sáng
tác của mình.
18 bài viết là 18 dư vị mà đời sóng văn chương đã mang lại cho Ma
Văn Kháng những ấn tượng nhất. Ông dựng lên một đời sống nội tâm sâu sắc,
đa chiều, nhân văn và nhiều ám ảnh, từ đó khám phá ra triết lý sống và sáng
tạo. Khóa luận nhằm hướng đến phần nào giúp hé lộ lối đi bí ẩn và diệu kỳ
của sự sáng tạo, để hòa quyện một cách tài tình và đầy thuyết phục về mối
- Phương pháp thống kê phân loại
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp so sánh đối chiếu
- Phương pháp khái quát tổng hợp
7. Đóng góp của đề tài
Khóa luận góp phần làm rõ quan niệm nghệ thuật của Ma Văn Kháng
trong tập tiểu luận Phút giây huyền diệu từ đó khẳng định vai trò của ông
trong nền văn học Việt Nam.
8. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo, phần
Nội dung của khóa luận gồm có ba chương:
Chương 1: Giới thuyết chung
Chương 2: Những quan niệm về các vấn đề chung của văn học
Chương 3: Nhà văn và bạn đọc trong quá trình sáng tạo
4
NỘI DUNG
Chƣơng 1
GIỚI THUYẾT CHUNG
1.1. Khái niệm quan niệm nghệ thuật
Quan niệm nghệ thuật là nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con người
vốn có của hình thức nghệ thuật, đảm bảo cho nó khả năng thể hiện đời sống
với một chiều sâu nào đó. Đó là sự miêu tả hữu hạn của thế giới vô hạn là
cuộc đời, hình tượng văn học phải được mở đầu và kết thúc ở đâu đó, con
người và cảnh vật phải được nhìn từ giác độ nào đó. Để tái hiện cuộc sống và
con người, tác giả phải hiểu cách họ giao tiếp với nhau, với thế giới và với
bản thân, cách họ sống, hành động và suy nghĩ, điều họ quan tâm và cái mô
hình nghệ thuật về thế giới và con người bao quát mà tác giả xuất phát để
thuật có những thể hiện và bộc lộ riêng. Ví dụ: văn học trung đại cho thấy nó
chưa có quan niệm đầy đủ về “người khác”, và do vậy cũng chưa có quan
niệm về những biểu hiện khác của “người khác”. Mặt khác sáng tác của nhà
văn lớn cũng đổi mới quan niệm vể con người. ví dụ như sáng tác của Hồ
Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Du,…có thể nói đã có một quan niệm
về con người tự nhiên xuất hiện góp phần đổi mới văn học.
Quan niệm nghệ thuật có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình
sáng tạo văn học. Quan niệm nghệ thuật thể hiện quan điểm, cách nhìn nhận,
lí giải hiện thực đời sống của nhà văn trong tác phẩm cũng như việc xây dựng
các yếu tố liên quan đến hình thức nghệ thuật. Một hệ thống các quan niệm
nghệ thuật chắc chắn, đúng đắn và độc đáo chắc chắn sẽ có sự chi phối định
hướng tốt đối với việc sáng tác văn học
1.2. Nhà văn Ma Văn Kháng : Tiểu sử - Hành trình sáng tác
1.2.1. Tiểu sử
Nhà văn Ma Văn Kháng (sinh ngày 1 tháng 12 năm1936 tại Hà Nội),
tên thật là Đinh Trọng Đoàn, quê gốc phường Kim Liên, quận Đống Đa,
6
thành phố Hà Nội. Từ tháng 01/1955 đến tháng 3/1967 (không kể thời gian từ
giữa tháng 9/1961 đến tháng 6/1963, ông đi học đại học tập trung tại Trường
Đại học Sư phạm Hà Nội). Ma Văn Kháng đã trải qua các cương vị trong
ngành giáo dục: giáo viên dạy các môn khoa học xã hội ở cấp I, II; Hiệu
trưởng trường cấp II, cấp III thị xã Lào Cai; rồi Trưởng phòng chuyên môn
Ty Giáo dục Lào Cai.
Trong tác phẩm hồi ký - tự truyện Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng
nhớ thương xuất bản quý III năm 2009, Ma Văn Kháng cho biết: Trong chặng
đường 21 năm đầu của đời công chức nhà nước tại Lào Cai (từ 1955 đến
1976) thì hơn một nửa thời gian ông hoạt động trong ngành giáo dục. Không
Truyện ngắn đầu tay Phố cụt của ông trình làng bút danh Ma Văn
Kháng được đăng trên báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam, 3/3/1961.
Nhưng ta phải ngược lên những năm trước đó để đi tìm cội nguồn văn chương
nơi ông, khi ông vẫn còn mang tên Đinh Trọng Đoàn. Với ông, không chỉ đợi
đến khi làm thầy đứng lớp với bảng đen phấn trắng cùng các dụng cụ học tập
hoặc làm nhà quản lý (dù ở cấp thấp) sự nghiệp giáo dục ở một tỉnh lẻ có
nhiều bà con là người dân tộc thiểu số, ông mới khơi nguồn, phát lộ tiềm năng
văn chương. Mà khi còn ở tuổi học trò niên thiếu (mài đũng quần học các
môn kiến thức văn hóa sơ đẳng của các cấp học phổ thông), rồi trung cấp, đại
học và sau này vào tuổi tráng niên học nghề cầm bút ở Trường Bồi dưỡng
những người viết văn trẻ (Quảng Bá, Hà Nội) thì ông cũng không bao giờ
quên công lao dạy dỗ của các bậc thầy dạy văn trực tiếp mà ông hân hạnh
được truyền dạy. Họ đã mở cánh cửa giúp ông và các đồng môn được tiếp xúc
với các tác phẩm văn học ưu tú thuộc hàng kinh điển của kho tàng văn học thế
giới, văn học dân tộc Việt Nam. Họ đã vun xới và thắp lên ngọn lửa của tình
yêu và niềm khao khát cống hiến toàn bộ tâm hồn và sức lực của mình cho
văn chương trong con người ông [14].
Hồi tưởng những ngày cuối năm 1954 đầu năm 1955 khi đi tới quyết
định không gì lay chuyển nổi là tình nguyện lên Tây Bắc dạy học sau ngày tốt
nghiệp Trường Trung cấp Sư phạm, ông viết: Dạo đó “tôi đã đọc và rất
8
mê Truyện Tây Bắc của Tô Hoài (…) và “đã có một thôi thúc vừa da diết vừa
mơ hồ trong tôi, nó cho tôi cái cảm giác rằng ở nơi đó tôi sẽ sốn g thoải mái
và làm được một điều gì có ích” (Hồi ký, tr. 44-45). Ông khẳng định, không
chút đắn đo: “Đối với tôi, trong sự hình thành những cơ sở đầu tiên của một
nhà văn, tất cả đều là nhờ thầy cô”. “Và nếu hôm nay tôi có được bạn đọc
công nhận là nhà văn thì công lao tạo nên tôi, trước hết là thuộc về nhà
bước ngoặt rất quan trọng trong cuộc đời ông. Ông từng chia sẻ rằng: “ Tôi ra
đi theo biến cố của mốc lịch sử hào hùng năm 1954, mở đầu thời kì hòa bình
lặp lại, thế hệ thanh niên miền bắc theo tiếng gọi của những Đanco,
PavenCooxanghin mang sứ mệnh cao đẹp đi đến những vùng khó khăn nhất
của đất nước. Sống nhiệt thành, lửa dân tộc bùng lên, đi như viên đạn thắng
đầu, ấy là tam thế của cả một thế hệ…”
Năm 1960, Ma Văn Kháng - Đinh Trọng Đoàn được cử về học tại
trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội. Lúc đó ông đang là hiệu trưởng trường cấp
hai Lào Cai, vốn viết lách lúc ấy cũng đang phát triển. Về Hà Nội ông được
gặp gỡ nhiều thầy cô, bạn bè, tiếp xúc với nhiều tri thức và ông đã không
ngừng học hỏi, trau dồi kinh nghiệm. Kết thúc khóa học, ông trở về Lào Cai
tiếp tục công tác với cương vị phó tổng biên tập báo Đảng Bộ Lào Cai. Sau đó
là làm thư kí cho ban Bí thư tỉnh ủy Lào Cai. Đến năm 1974, ông trở thành
hội viên của Hội Nhà Văn Việt Nam, đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Trong một lần đi công tác ở vùng nông thôn, ông quen với Ma Văn Nho, và
hai người trở nên thân thiết, ông kể lại rằng: “Có những lần tôi bị ốm nặng,
anh Nho tiêm thuốc, trèo đèo, lội suối cõng tôi đi. Rồi chúng tôi kết nghĩa anh
em và tôi lấy họ Ma của anh ghép với tên mình thành Ma Văn Kháng”. Với
thời gian gắn bó với mảnh đất Lào Cai khá dài, Ma Văn Kháng đã cảm nhận
thêm một cách khá tinh tế cuộc sống của người dân nơi đây. Dần dần nhà văn
càng khám phá ra những vẻ đẹp riêng độc đáo của con người và thiên nhiên
vùng sơn cước này. Những vẻ đẹp hồn nhiên, thơ mộng dường như lúc nào
cũng hiện lên một cách lung linh trước mắt ông, khiến cho ông không thể
10
không cầm bút. Và những trang văn đầu tiên về mảnh đất mà ông xem như là
quê hương thứ hai của mình đã ra đời và đến tay độc giả. Sự thành công của
ông là quá trình lao động cần cù, chịu khó trong cuộc sống cũng như trong lao
kết bao khó khăn khắc nghiệt và đáng nhớ nhất này cộng với khoảng thời gian
trên 20 năm sống tại Lao Cai đã thôi thúc mạnh mẽ ngòi bút ông ghi lại: đó là
những câu chuyện thấm đẫm chất đời, tình người và dư vang của một thời kỳ
lịch sử xã hội còn chưa thoát ra khỏi những nỗi đau, sự nhọc nhằn. Hàng loạt
tác phẩm đã ra đời trong giai đoạn này như: Ngày đẹp trời (truyện ngắn
1986), Vệ sỹ của Quan Châu (truyện ngắn 1988), Trái chín mùa thu (truyện
ngắn 1988), Côi cút giữa cảnh đời (tiểu thuyết 1989), Chó Bi, Đời lưu lạc
(tiểu thuyết 1992), Heo may gió lộng (truyện ngắn 1992), Trăng soi sân nhỏ
(truyện ngắn 1994), Ngoại thành (truyện ngắn 1996), Truyện ngắn Ma Văn
Kháng (tuyển tập 1996)… Mỗi con chữ như mặn xót mồ hôi, nước mắt, chắt
ra qua nghiền ngẫm và trải nghiệm từ chính dòng đời, mạch sống của nhà văn
và được chuyển vào tác phẩm. Sự nghiệp văn chương của ông được đánh dấu
bằng truyện ngắn đầu tay Phố cụt( 1961) và tiểu thuyết đầu tay được in năm
1976, nhưng ông bộc bạch rằng: “ Tự coi là qua được kì tập dượt là từ những
năm 80” [5].
Bởi vậy mà sau những năm 80, nhiều tác phẩm có giá trị lần lượt ra đời
và Ma Văn Kháng đã d ần khẳng định được vị trí của mình trên văn đàn và
trong lòng bạn đọc. Tiểu thuyết là một thể tài văn xuôi mà Ma Văn Kháng đ ặc
biệt lưu tâm tích lũy, được đánh dấu với đứa con tinh thần đầu lòng là Gió
Rừng. Nhìn một cách bao quát, sự nghiệp sáng tác của Ma Văn Kháng có thể
chia làm hai giai đoạn đó là trước và sau những năm đầu của thập niên 80.
Tuy nhiên mọi sự phân chia ở đây chỉ có tính tương đối. Và ở mỗi giai đoạn
ông đều có những đóng góp nhất định cho văn học nước nhà và để lại dấu ấn
khó phai.
Trong giai đoạn đầu tiểu thuyết của Ma Văn Kháng tập trung viết về đề
tài miền núi. Nhìn chung, ở giai đoạn này, tiểu thuyết của ông còn mang
khuynh hướng sử thi rất rõ, nhưng ông đã có đóng góp thực sự cho mảng văn
12
13
thế hệ ông. Dường như ít thấy ông ở những cuộc trà dư tửu hậu, những cuộc
xôm tụ bạn bè, mà chỉ thấy ông tranh thủ từng giây khắc của cuộc đời để cần
mẫn gieo trồng trên cánh đồng chữ nghĩa. Nói về điều này, nhà văn Ma Văn
Kháng khiêm tốn tự nhận mình là người cần cù, chịu khó và vẫn giữ được
ngọn lửa men say trong cảm xúc. Bởi vì, văn chương là thứ mà ông đã sống
với nó, chết với nó nên ngày nào còn sức khỏe, là ông còn đọc, còn viết. Rồi
ông bảo,thực sự thì văn chương cũng mang lại cho ông nhiều thứ. Từ ngày
khốn khó sống bằng nhuận bút, đến xây nhà dựng cửa cũng có phần của
nhuận bút, đến tự cứu mình bằng việc mổ tim đặt stant động mạch vành cũng
là tiền nhuận bút bao năm tích cóp.
200 truyện ngắn, 17 cuốn tiểu thuyết, trong cả một đời làm nghề. Nhà
văn Ma Văn Kháng chia sẻ: “Có hai việc cần thiết vào cuối đời thì tôi đã nỗ
lực để làm trong những năm qua, vì con cái tôi không ai quan tâm đến gia tài
văn chương của bố, nên nếu mình không làm thì không ai làm cho mình cả,
bởi thế tôi hệ thống hóa những điều đã viết, gom góp để hoàn thành nốt
những tư liệu dở dang, tổng kê lại những cuốn sách đã xuất bản, những bài
báo người ta đã viết về mình. Điều thứ hai là tôi soạn xong di chúc, tài sản
chẳng có gì nhiều nhưng không ít những người ra đi đã quên mất việc làm có
ý nghĩa này với thế hệ mai sau. Không ít bạn bè văn chương của tôi, sau khi
biết tôi làm di chúc đã… mượn để tham khảo. Nói thì vui vậy, nhưng thực sự
phải hoàn toàn thanh thản chuẩn bị cho mình mọi tâm thế an lành nhất, để có
thể yên tâm một điều rằng, sinh ra trên cõi đời này, mình đã tận tâm tận lực
đến cùng để có thể có một cuộc sống tròn vẹn…” [13]
Các tác phẩm :
- Đồng bạc trắng hoa xòe (tiểu thuyết, 1979)
- Vùng biên ải (tiểu thuyết, 1983)
- Trăng non (tiểu thuyết 1984)
quan chặt chẽ với nhau: Phần đầu gồm 12 tiểu luận. trong phần này nhà văn
chú mục đề cập đến những khía cạnh căn cốt, then chốt có tính nguyên lí về
bản chất sáng tạo, thẩm mĩ và ý nghĩa xã hội, nhân sinh của văn chương nghệ
15
thuật đích thực. Bằng tư duy lí luận minh triết, sự cảm thụ tinh tế, lão thực,
với cách diễn đạt sinh động, hóm hỉnh, điểm xuyết những câu chuyện kể và ví
dụ có thực trong đội ngũ nhà văn và đời sống văn chương nước nhà, Ma Văn
Kháng cứ từng trang, từng trang nhỏ nhẹ tâm tình những thu hoạch gan ruột,
kết tinh của đời văn và số phận các tác phẩm của ông từ lúc thai nghén sinh
thành, ra đời, rồi đến được với công chúng.
Theo ông, nhà văn c ần luôn luôn nuôi dưỡng khát vọng thức nhận cái
Đẹp tồn tại trong thiên nhiên và đời sống xã hội, sự chăm lo hoàn thiện nhân
cách của người đương thòi để rồi tìm cách diễn đạt chân xác quá trình con
người nỗ lực vươn tới một cách sống tốt hơn, chứ không phải chỉ nhăm nhăm
làm sao cho sống sướng hơn một cách tự kỉ. Khát vọng đó cần luôn thường
trực, không bao giờ vơi cạn, suy giảm; nó chính là ngọn lửa từ trái tim chan
chứa tình đời, tình người của nhà văn, đủ nhiệt năng thắp sáng truyền đi và
lan tỏa tới hàn triệu trái tim và khối óc của người đọc muôn nơi. Ngoài ra nhà
văn còn cho rằng tài năng vô song của người viết văn xuôi cũng như nhà văn
nói chung trước hết là ở chỗ anh ta biết cách sống hòa mình nhập cuộc với đời
sóng ở tất cả các cung bậc cảm xúc. Nhà văn phải “sống rồi mới viết”, nhà
văn là người giàu có, triệu phú về chữ nghĩa, anh ta phải tìm cách thổi hồn
vào các con chữ. Với ông tác phẩm của nhà văn phải đặt ra hoặc gợi mở
những vấn đề có ý nghĩa xã hội, nhân sinh sâu sắc, mới mẻ, không phải lúc
nào cũng thuận chiều mà có khi chứa đựng các nghịch lí, bất ngờ.
Trong các tiểu luận của mình, Ma Văn Kháng nhiều lần nhấn mạnh về
lao động công phu, cần mẫn của nhà văn trong cả tư duy và cách viết, để tác
Đây là những thu hoạch lí thuyết từ một cá thể nhà văn nồng nhiệt,
nhằm đối thoại với các lí thuyết phương tây bằng những trải nghiệm thực tế ở
Việt Nam, cũng là những bật mí riêng tư về công việc bếp núc văn chương
trên những sáng tác cụ thể của mình à ông tâm đắc hoặc chúng được dư luận
chú ý. Trong đó ông không ngại ngần bộc trực cái tạng và cá tính nghệ thuật
của mình. Ông khẳng định rằng “Tôi chỉ viết được những gì mình đã trải
nghiệm và mỗi cuốn văn xuôi tự sự đều có một phần đời tôi”. Điều này chứng
17
tỏ rằng căn cốt sáng tác của Ma Văn Kháng xuất phát từ hiện thực cuộc sống,
bắt rễ từ đời sống hiện sinh của con người với muôn vẻ tốt/xấu, thiện/ác… nơi
thế tục.
Ở mảng bài viết này, ta dễ dàng nhận ra sự cầu toàn đáng trân trọng của
ông trong nghệ thuật. Ở đây nhà văn không chỉ cần chú ý chăm chút đ ến hình
tượng- nghệ thuật cao đẹp (cái được biểu hiện) mà nhà văn còn phải chăm
chút cho cái biểu hiện nghệ thuật. Tác phẩm văn chương đích thực xét đến
cùng là một đơn vị nghệ thuật hoàn chỉnh, một phức thể vẹn toàn. Tác giả hơn
ai hết phải in đậm dấu ấn sáng tạo của mình để không bị trộn lẫn giữa đông
đảo các cây bút trong thiên hạ.
Vị trí của tập tiểu luận Phút giây huyền diệu
Từ những năm 80 của thế kỉ trước, nhà văn Ma Văn Kháng đã là tác giả
của nhiều tiểu thuyết gây chú ý trên văn đàn: Đồng bạc trắng hoa xòe, Đám
cưới không có giấy giá thú, Mưa mùa hạ… Bước sang thế kỉ XXI, Ma Văn
Kháng luôn khát khao kiếm tìm cái mới về đề tài, cách tân táo bạo về tư duy
nghệ thuật và đã tạo cho mình một phong cách mới mẻ, độc đáo trong đời văn
của mình. Ông đã nhận được rất nhiều giải thưởng cao quý. Đến nay, ông vẫn
là một trong những cây đại thụ của nền văn học đương đại. Gần đây, cuốn tiểu
luận bút kí “Phút giây huyền diệu” của ông được xuất bản. Cuốn sách là tập
NHỮNG QUAN NIỆM VỀ CÁC VẤN ĐỀ CHUNG
CỦA VĂN HỌC
2.1. Bản chất của văn học
Mở đầu cuốn sách của mình tác giả Ma Văn Kháng viết rằng: “Chân lí
dù có cao siêu đến đâu thì cũng bắt đầu từ những điều đơn giản, những việc
bình thường trong cuộc sống được người ta làm theo, làm đi làm lại, được
thực tiễn kiểm nghiệm rồi đúc kết lại mà thành và từ đó xuất hiện cái mà ta vẫn
gọi là lí luận. Tất nhiên không gian càng rộng thời gian càng dài thì lí luận,
chân lí càng được thử thách, càng mang tính phổ quát, trường tồn.”[10, 5]
Từ xưa đến nay, văn học là một hiện tượng không ngừng vận động,
không ngừng đổi mới, từ môi trường xã hội văn hóa này sang môi trường xã
hội văn hóa khác, từ nhà văn này sang nhà văn khác. Đối với mỗi người sáng
tác, thì những gì làm được, cho dù là thành tựu xuất sắc đi nữa, của một thời,
của một người nào đó, chỉ có thể là kinh nghiệm, một lời khuyên, một sự gợi
ý, một điểm xuất phát, cũng có thể là một thách thức, thúc giục khai phá
những con đường mới. Tuy nhiên trong lịch sử lâu dài của nó thì văn học vẫn
có một số nét bản chất khá bền vững mà nhà văn và nhà nghiên cứu văn học
cần ý thức rõ nhằm khai phá có hiệu quả nhất sức mạnh của văn học. Việc
chú trọng đến bản chất của văn học đã có từ xa xưa. Có thể nhận thấy điều
này trong quan niệm của Khổng Tử và các nhà nho về “văn dĩ tải đạo, thi dĩ
ngôn chí”, trong nhận thức về sự bất phân giữa văn và sử, văn và triết ở thời
kỳ đầu sự phát triển của văn chương. Những người mác xít cũng đặc biệt nhấn
mạnh bản chất tư tưởng của văn chương, coi văn chương và nghệ thuật nói
chung là một hình thái ý thức xã hội, một công cụ nhận thức, một “vũ khí tư
tưởng”. Tất nhiên cách nhận thức cuộc sống, tác động tư tưởng của văn
20