LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH NGỮ VĂN
“ GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT CỦA NHÀ VĂN BALZAC TRONG
BA TIỂU THUYẾT TIÊU BIỂU”
SV Trần Thị Thu Linh
Lớp ĐH3C1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Sư PHẠM NGÀNH NGỮ VĂN
“ GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT CỦA NHÀ VĂN BALZAC TRONG
BA TIỂU THUYẾT TIÊU BIỂU”
Giảng viên hướng dẫn
Thạc sĩ Phùng Hoài Ngọc BỐ CỤC LUẬN VĂN
PHẦN MỞ ĐẦU
Cảm hứng trong sáng tác luôn gắn liền với giọng điệu nhà văn. Mà giọng
điệu thì có tác dụng thể hiện thái độ, lập trường, cách nhìn của chủ thể phát
ngôn về đối tượng được nói đến. Điều đó chứng minh rằng để nắm được cốt
lõi vấn đề của một tác phẩm thì người đọc cần nắm bắt chính xác giọng điệu
của tác phẩm đó, bởi điều quan trọng của một nhà văn là phải tạo ra tiếng nói
của mình, phải có được nốt riêng độc đáo và người đọc nghe được nốt riêng
ấy.
Giọng điệu không chỉ mang nội dung tình cảm mà còn thể hiện thái độ của
tác giả về đời sống. Giọng điệu văn chương là một nhân tố cốt yếu tạo nên
phong cách nghệ thuật, nó cho phép ta hiểu sâu hơn sự phong phú của chủ
thể sáng tạo. Giọng điệu vừa là một hiện tượng nghệ thuật độc đáo của nhà
văn vừa là một hiện tượng ảnh hưởng không nhỏ đến các thời đại văn học.
Do đó, chúng tôi thấy cần cảm nhận về giọng điệu nghệ thuật của nhà văn
Balzac để qua đó chúng ta thấy rõ hơn và cảm được sâu hơn về con người và
tác phẩm của ông.
Dù biết kiến thức và vốn sống bản thân còn nhiều hạn chế, nhưng vì khá
hứng thú với tác giả Balzac nói riêng- văn học phương Tây nói chung, tôi xin
mạnh dạng đưa ra một vài sự cảm nhận của mình về giọng điệu nghệ thuật
của nhà văn Balzac. Rất mong nhận được sự đóng góp và chỉ bảo của quí độc
giả để luận văn ngày càng phong phú và hoàn thiện hơn.
2. LỊCH SỬ CỦA VẤN ĐỀ
Trong vòng 15 năm trở lại đây hoạt động nghiên cứu, phê bình văn học nước
ta được phong phú thêm bởi những cách tiếp cận mới. Nào con người, không
gian, thời gian, cấu trúc, phương tiện biểu đạt ….Những tác phẩm văn
chương vốn quen thuộc nhưng khi được nhìn với góc độ mới bỗng phô bày
thêm những phẩm chất, chiều sâu mà trước đó ít khi được nhìn kĩ.
Từ xưa, các nhà lý luận phương Đông đã từng nhắc đến giọng điệu và phong
cách nhà văn qua các khái niệm gần gũi như hơi văn, khí văn, tình điệu…
Nhưng nhìn chung các nhà lí luận văn học và mĩ học trước thế kỉ XIX chưa
đề cập trực tiếp và chuyên sâu vấn đề giọng điệu trong văn chương.
tài liệu liên quan đến tác gia Balzac được liệt kê cụ thể ở danh mục tài liệu
tham khảo.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trong thực tế, nhận diện chính xác giọng điệu của nhà văn trong tác phẩm
không phải là việc đơn giản. Nó cần tới trực cảm nhưng đồng thời cần cái
nhìn lí tính để kiểm định và phân tích sự cảm nhận ấy một cách cụ thể.
Luận văn này cố gắng nhận ra những giọng điệu nghệ thuật mà tác giả
Balzac thừơng xử dụng trong các tác phẩm của mình, từ đó tìm hiểu tác dụng
của giọng văn trong việc cấu thành tác phẩm, thái độ của tác giả đối với xã
hội đương thời, giá trị của tác phẩm trong nền văn học hiện thực Pháp nói
riêng, nền văn học thế giới nói chung.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng chính là tiểu thuyết của nhà văn Balzac.
Để tiến hành khảo sát giọng điệu nghệ thuật của nhà văn Balzac, tôi đi sâu
vào 3 tác phẩm: Eugenie Grandet, Lão Goriot, Vỡ mộng.
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Việc nghiên cứu giọng điệu văn chương không chỉ giúp ta hiểu rõ hơn sự
độc đáo của các phong cách nghệ thuật mà hơn thế còn lí giải được tiến trình
vận động của văn học. Thông qua việc cảm nhận về giọng điệu nghệ thuật,
luận văn này khai thác thêm một nghệ thuật đặc sắc trong việc cấu thành tác
phẩm của Balzac nói riêng, của văn học hiện thực phê phán nói chung.
Qua giọng văn của tác giả ta thấy được thái độ của nhà văn đối với thời đại,
thấy rõ nét chân dung của cuộc sống qua những lời văn miêu tả khách quan,
thấy được sự thốt nát và sa đoạ về đạo đức của loài người qua những lời chế
giễu sâu cay, nhưng đôi khi ta cũng phải lắng lòng để nghe và hiểu những lời
văn thắm thiết tình người mà tác giả nhắn gửi.
Việc nghiên cứu giọng điệu văn chương ở nước ta vẫn đang ở những bước
đầu. Những nổ lực của chúng tôi trong việc cảm nhận giọng điệu của tác giả
Balzac chỉ là những nổ lực nhỏ bé trong quá trình tìm hiểu sâu hơn về giá trị
tác phẩm của ông .
quy tụ lại và định hình thống nhất với nhau theo một kiểu nào đó, trong chỉnh
thể giọng ấy mỗi yếu tố hiện ra rõ hơn, đầy đủ hơn, thậm chí mới mẻ hơn.
Trong các tác phẩm nghệ thuật ưu tú, giọng điệu bao giờ cũng mang tính chất
lượng, nó là sản phẩm sáng tạo đích thực của nhà văn. Giọng điệu văn
chương là một hiện tượng nghệ thuật mang tính cá nhân cao độ. Nhưng thực
tế là bên cạnh giọng điệu cá nhân còn có giọng điệu thời đại. Giọng điệu cá
nhân chịu sự quy định, ảnh hưởng của giọng điệu thời đại mặt khác giọng
điệu cá nhân góp phần làm phong phú thậm chí làm thay đổi cấu trúc giọng
điệu thời đại.
Giọng điệu là một yếu tố cơ bản của phong cách nghệ thuật. Một nhà văn tài
năng bao giờ cũng phải tạo được một giọng điệu độc đáo. Giọng điệu gắn với
cảm hứng chủ đạo, giọng điệu góp phần tăng giảm hiệu suất cảm xúc của tác
phẩm văn chương.
I. KHÁI NIỆM
Thế nào là giọng? Theo Từ điển Tiếng Việt thì: Giọng là:1/ Độ cao thấp,
mạnh yếu của lời nói, tiếng hát. 2/ Cách phát âm của một địa phương. 3/
Cách diễn đạt bằng ngôn ngữ, biểu thì một thái độ, tình cảm nhất định. 4/
Gam đã xác định âm chủ.
Như vậy trong cuộc sống hằng ngày giọng được hình dung trước hết như một
tín hiệu âm thanh có âm sắc, trường độ, cao độ. Khái niệm giọng chủ yếu nói
về người, gắn với người, là giọng nói của người dùng trong ngôn ngữ giao
tiếp của mỗi người. Không chỉ tồn tại như một âm thanh, giọng nói của người
còn hàm chứa thái độ của người nói, chính ở đây người ta thường nói đến
giọng điệu.
Từ điển tiếng Việt do Viện ngôn ngữ biên soạn cho rằng giọng điệu là
“giọng nói, lối nói biểu thị một thái độ nhất định”. Như vậy “giọng” là yếu tố
mang đậm tính vật lý trong khi “giọng điệu” lại được nhìn từ góc độ tâm lý.
Nhìn vào 2 định nghĩa về giọng và giọng điệu, ta thấy định nghĩa giọng điệu
trùng với nét thứ ba của định nghĩa về giọng. Vậy nên trong thực tế giao tiếp,
tùy vào hoàn cảnh, người ta thường đồng nhất hai khái niệm này. Như vậy có
hình dung cụ thể thái độ của nhà văn về đời sống. Trong nghệ thuật ngôn từ,
giọng điệu không chỉ bộc lộ qua âm thanh, nhịp điệu mà còn bộc lộ qua màu
sắc, đường nét, hình ảnh.
Không phải lúc nào trong tác phẩm cũng chỉ có một giọng điệu thuần nhất.
Việc phân chia loại hình giọng điệu cũng khác nhau, xuất phát từ những tiêu
chí khác nhau. Theo cấu trúc thì có thể chia thành giọng chính và giọng phụ.
Căn cứ vào sắc thái tình cảm thì có thể nói đến giọng gay gắt hay tình cảm,
trang trọng hay suồng sã, mạnh hay yếu, kính cẩn hay châm biếm….Căn cứ
vào dạng thức cảm hứng chủ đạo thì có giọng bi, giọng hài, giọng anh hùng
ca….Nếu chú ý khuynh hướng tư tưởng thì có các giọng: thông cảm hay lên
án, yêu thương hay tố cáo, khẳng định hay phủ định….Có khi từ cái nhìn
ngôn ngữ học chia thành giọng trần thuật, giọng nghi vấn, giọng cảm thán.
Về cơ bản giọng điệu bộc lộ các sắc điệu tình cảm của chủ thể phát ngôn.
II. PHÂN BIỆT GIỌNG ĐIỆU VỚI NGỮ ĐIỆU, NHẠC ĐIỆU, NHỊP
ĐIỆU
Để làm nổi bật những nét riêng của giọng điệu cần phân biệt nó với các khái
niệm như ngữ điệu, nhạc điệu, nhịp điệu.
Giọng điệu khác với ngữ điệu. Ngữ điệu là một phạm trù của ngôn ngữ học
còn giọng điệu là một phạm trù của thi pháp học. Trong một phát ngôn, ngữ
điệu thường thực hiện các chức năng: phân biệt các kiểu thông báo, phân biệt
các bộ phận của phát ngôn. Ngữ điệu thường được chia thành: ngữ điệu cảm
thán, ngữ điệu hỏi, ngữ điệu cầu khiến, ngữ điệu liệt kê… Nhiều khi ngữ
điệu trực tiếp bộc lộ cảm xúc của người nói. Quan hệ giữa giọng điệu và ngữ
điệu là mối quan hệ chi phối và phụ thuộc. Mặc dù ngữ điệu có chức năng
biểu cảm: thân mật, trang trọng, mỉa mai, hài hước… nhưng rõ ràng đó là
những chức năng biểu đạt gắn với chuẩn ngôn ngữ chứ không nằm ở phạm vi
bao quát như giọng điệu.
Giọng điệu cũng khác với nhịp điệu. Nhịp điệu là sự lặp lại có tính chất chu
kì, cách khoảng hoặc luân phiên theo thời gian của các hiện tượng ngôn ngữ
nhằm thể hiện sự cảm nhận thẩm mỹ về thế giới trong sự vận động của nó.
cái nhìn, thái độ của chủ thể khác nhau thì giọng điệu cũng khác nhau. Cái
nhìn và giọng điệu có những mặt giao thoa vì chúng là sự thể hiện chủ thể
sáng tạo, giữa chúng có sự liên quan mật thiết. Giọng điệu mang nội dung
tình cảm, thể hiện thái độ của tác giả về đời sống.
2. Phương thức biểu hiện chung của giọng điệu nghệ thuật
Tìm hiểu giọng điệu văn chương, vấn đề đầu tiên cần phải quan tâm là chú ý
mối quan hệ giữa chủ thể sáng tạo và khách thể được phản ánh. Vì giọng điệu
gắn với đặc điểm tâm hồn nghệ sĩ và đối tượng được miêu tả.
Giọng điệu còn chịu áp lực của thể loại. Mỗi một thể loại, do bản chất của
nó, mang sẵn trong mình những tiền đề để tạo ra giọng điệu phù hợp với nó.
Như giọng điệu sử thi là giọng điệu trầm hùng của lịch sử. Tiểu thuyết trái lại
mang tính suồng sã, không chấp nhận kiểu tôn ti cứng nhắc và bất biến của
sử thi.
Đọc, tri giác một văn bản, người đọc tất sẽ cảm nhận được giọng điệu của
nhà văn.
Tóm lại việc phân tích và nhận diện giọng điệu qua tác phẩm là yếu tố khá
quan trọng khi tìm hiểu giọng điệu nhà văn. Phân tích giọng điệu tác phẩm
trải qua các thao tác cơ bản như:
1- Xác định tư thế của người nói và điểm nhìn nghệ thuật trong tác phẩm
2- Khảo sát nghệ thuật xây dựng lời văn để biểu hiện giọng điệu
3- Vai trò của hình tượng trong việc thể hiện giọng điệu
4- Lý giải chức năng và vai trò giọng điệu trong chỉnh thể tác phẩm.
Tìm hiểu giọng điệu nhà văn cần xem xét mối quan hệ giữa nhà văn- bạn đọc,
nhà văn và thời đại, có như vậy mới nắm bắt được vẻ đẹp và tiếng nói đích
thực của chủ thể sáng tạo ẩn chứa sau các lớp ngôn từ và hình tượng nghệ
thuật.
IV. NHỮNG GIỌNG ĐIỆU THƯỜNG THẤY TRONG TÁC PHẨM
CỦA BALZAC
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy có ba giọng điệu chính được Balzac sử
dụng trong sáng tác của mình là:
năm học tập ông đã có bằng cử nhân luật học hai phần. Gia đình đề ra cho
Balzac một kỉ luật chặt chẽ. Cha ông yêu cầu sau khi tốt nghiệp phần luật lí
thuyết tại đại học Sarbone cần phải tốt nghiệp phần luật thực hành. Gia đình
ông hi vọng đứa con trai của mình sẽ làm nghề công chứng. Thế là ông được
đưa đi tập sự tại một văn phòng đại lý tố tụng và công chứng. Trong thời kì
này ông tiếp tục học khoa luật. Những ngày tập sự tại văn phòng ông đã
chứng kiến khá nhiều những bi kịch gia đình và “những hành động tội phạm
không gì trừng phạt”- tất cả điều đó về sau sẽ là những tư liệu quý giá trong
sự nghiệp sáng tác của ông.
Ngay thời bấy giờ Balzac đã ôm mộng triết học và văn chương. Ông vừa học
luật vừa theo các giờ giảng triết học, văn học, sử học ở trường đại học
Sorbone. Ông từng viết mấy bài luận văn về triết học. Sự hứng thú đối với
triết học có thể nói đã quán xuyến cả cuộc đời ông.
Tháng 4-1814, ông rời khỏi nơi tập sự, buông bỏ nghề pháp luật, bắt đầu
cuộc đời lao động nghệ thuật cần cù và đạm bạc trong gian gác xép nghèo ở
phố Lu-di-ghi-e (Pari) với hoài bão “được nổi tiếng và được yêu”
Khi 30 tuổi, trải qua 10 năm thử bút, Balzac vẫn chưa thành công. Song với
nghị lực phi thường ông vẫn xông vào sự nghiệp sáng tác. Mười năm không
tên tuổi không hẳn là mười năm uổng phí của Balzac. Bước đường không
may mắn đó đã là “trường học thực tế” của nhà văn, nhờ đó mà ông nắm
được cái bản chất nhất của xã hội tư sản để đưa nó vào văn học một cách sinh
động và sắc nét.
Không thành công về văn học lại phải sống trong cảnh nghèo túng, chẳng bao
lâu sau Balzac đành tạm gác bỏ nghề văn để lao vào việc kinh doanh làm
giàu. Thế là hết đi làm nghề xuất bản lại làm chủ nhà in, rồi cả kinh doanh
đúc chữ. Nhưng Balzac sinh ra chẳng phải để kinh doanh buôn bán, tính toán
tiền nong cho nên ông chỉ toàn lỗ vốn, nợ nần chồng chất.
Năm 1828 ông từ bỏ thương trường với số nợ trên mười vạn quan để quay về
với giấc mộng văn chương. Vốn kinh doanh không còn nhưng vốn sống thật
giàu có, chặng đường thất bại trong kinh doanh lại cung cấp cho Bazac một
Tác phẩm Những người của Đảng Chouans (Les Chouens) được ông hoàn
thành vào năm 1829 mới thật sự là tác phẩm mở màn cho cả bộ “Tấn trò
đời” (La Comèdie, còn được dịch là “Kịch vui nhân gian”) vĩ đại.
Năm 1829 đến năm 1835 là giai đoạn đầu trong việc sáng tác bộ “Tấn trò
đời”. Bộ “Tấn trò đời” gồm hơn 90 tác phẩm “cung cấp một bộ lịch sử hiện
thực tuyệt vời của xã hội Pháp, đặc biệt là xã hội thượng lưu tại Pari”
(Engels). Balzac đã đề xuất một cách rõ ràng là ông muốn làm “thư kí” cho
xã hội Pháp, để hoàn thành một nhóm tác phẩm miêu tả nước Pháp vào thế kỉ
XIX”.
Năm 1845 Balzac đã phác thảo đề cương của bộ “Tấn trò đời”. “Tấn trò đời”
dự định là 143 tác phẩm, đã hoàn thành 97 tác phẩm trong thời gian từ 1829-
1848. Sau đây là thống kê một số tác phẩm tiêu biểu trong bộ “Tấn trò đời”.
PHẦN I: KHẢO LUẬN PHONG TỤC
1/ Những cảnh đời tư.
Gôpxêch nhà con mèo chơi bóng (1830); Người đàn bà ở tuổi ba mươi
(1831); Đại tá Sabe (1832); Lão Goriot I (1834); Lão Goriot II (1835); Lễ cầu
hôn của kẻ vô thần (1836); Bêatrix (1839); Nàng nhân tình hờ (1841); Kí sự
của đôi vợ chồng trẻ (1842); Onôrin (1843); Môđextow Minhông (1844).
2/ Những mảnh đời tỉnh lẻ.
Cha xứ ở Tua (1832); Ơgiêni Grangđê (1833); Bông huệ nơi thung lũng
(1835); Căn phòng chứa đồ cổ I (1836); Ảo mộng tiêu tan I (1837); Cô gái
già (1838); Căn phòng chứa đồ cổ II (1839); Ảo mộng tiêu tan II (1840);
Uyêcxuyn Miruôt (1841); Cô gái khua cá (1842); Ảo mộng tiêu tan III
(1843).
3/ Những cảnh đời Pari.
Xarazin (1831); Nữ công tước Đơ Langgie (1834); Cô gái mắt vàng (1835);
Faxino Can (1836); Xeza Birôtô (1837); Những viên chức (1837); Nhà ngân
hành Nucingen (1838); Vinh và nhục của người kĩ nữ I (1839); Mặt trái của
lịch sử hiện đại I (1842); Một tay buôn bán (1845); Chị Bett (1846); Ông anh
họ Pông (1847); Vinh và nhục của người kĩ nữ II (1847); Vinh và nhục của
nhanh mà không viết ẩu, ngay đến những người không ưa ông cũng phải
công nhận Balzac đã nêu gương sáng về nhà văn có trách nhiệm, có lương
tâm. Không tác phẩm nào mà ông không sửa chửa lại nhiều lần, bởi ông rất
chú ý gọt giũa lời văn, và ông khuyến khích người viết văn luôn làm một
thứ “tổng vệ sinh văn học”.
Đó là tất cả những gì còn lại của người có khi tự nhận là “một tên khổ sai
bằng bút mực, một gã đi bán tư tưởng thật sự”, có khi tự cho mình có thể
vượt qua Napoléon “hoàn thành những thứ gì mà người không thể hoàn
thành bằng lưỡi kiếm”. Và sự thật thì cái “đế chế” mà Balzac trị vì- thế giới
của Tấn trò đời- còn tồn tại mãi đến ngày nay, trong khi đế chế của Napoléon
chỉ tồn tại trong 20 năm.
2. GIỚI THIỆU 3 TIỂU THUYẾT TIÊU BIỂU
EUGENIE GRANDET
Lão Grandet là thợ đóng thùng ở thị trấn Saumur nhờ “đục nước béo cò” mà
phất lên sau cách mạng 1789. Lão mua với “giá rẻ như cho” những cánh
đồng nho- tài sản bán đấu giá, lão buôn vàng, đầu cơ tích trữ rượu vang và
trở thành một tay tư sản giàu xụ nhưng lại hết sức keo kiệt. Chính bản thân
lão cùng vợ lão, cô con gái độc nhất- Eugenie, mụ quản gia Nanon phải chịu
thiếu thốn mọi bề. Lão nắm giữ tất cả chìa khóa hòm tủ trong nhà, hằng ngày
lão đích thân phát từng mẩu bánh, từng viên đường cho vợ con.
Cruchot và Des Grasims là hai gia đình có thế lực ở Saumur thường tới lui bợ
đỡ lão, hòng giành nhau cô gái thừa kế triệu phú Eugenie. Nhưng lão thì
chẳng bao giờ lo nghĩ đến hạnh phúc của con.
Em trai lão Grandet ở Pari bị phá sản, trước khi tự tử gửi con là Charles về
Saumur nhờ lão cưu mang, nhưng lão lại vội tống khứ thằng cháu đi Ấn Độ
để giữ nợ cho y sau này tự trả. Thời gian ngắn ngủi ở Saumur, giữa Charles
và Eugenie nảy nở một mối tình. Eugenie giấu cha đem số vàng của mình
tặng người yêu làm vốn kinh doanh. Khi lão biết chuyện liền giam con gái
vào buồng kín chỉ cho nước lã và bánh mì lạt. Bà Grandet vì đau buồn
mà mất. Sợ vợ chết con đòi chia gia tài lão buộc phải giảng hòa với con. Sau
bẩn thỉu cho Rastignac. Nhưng Rastignac lại muốn tiến thân theo lời khuyên
của người chị họ là làm quen và trở thành tình nhân của Delphine, mong lợi
dụng người này để bay nhảy trong giới thượng lưu xã hội.
Chẳng lâu sau, lão Goriot vì đau buồn chuyện vợ chồng con cái lục đục đâm
ra ốm nặng, chủ yếu vì thất vọng: bao nhiêu công sức đổ vào hai đứa con gái
mà vô hiệu. Lúc này lão đã hết tiền để giúp con. Các con lão chẳng thèm
quan tâm. Lúc hấp hối lão kêu gào thảm thiết với một ước vọng là gặp con
lần cuối những họ vẫn thờ ơ. Lão mất, Rastignac và anh bạn sinh viên y khoa
Bianchon góp tiền chôn cất lão. Hai cô con gái, hai chàng rể đều không đến
đưa cha vào nghĩa địa. Khi đắp xong nắm đất cuối cùng lên mộ lão Goriot,
Rastignac quay về phía thủ đô Pari lúc ấy đã lên đèn và ném lời thách thức:
“Bây giờ chỉ còn ta với mày”. Và đến ăn tối tại nhà Delphin- những kẻ mà
anh khinh bỉ! Điều đó cho thấy anh sẵn sàng hoà nhập với những kẻ ấy.
Lão Goriot rõ ràng là nạn nhân của đồng tiền tư bản. Tiền là mục tiêu cao
nhất, quan hệ bố con có nghĩa lý gì khi mà quan hệ ấy không giúp cho lũ con
bất hiếu có thêm một đồng tiền nào nữa.
Tác phẩm miêu tả quá trình trưởng thành của những nhà tư sản quý tộc có
tham vọng, đồng thời phê bình, đả kích quan điểm đạo đức của giai cấp tư
sản, vạch trần dục vọng của con người tràn ngập khắp xã hội hiện thực. Tác
phẩm cũng phản ánh sự hiểu biết sâu sắc của Balzac đối với những mối quan
hệ trong hiện thực. Tiểu thuyết thông qua sự thất bại trên tình trường của phu
nhân tử tước nói lên sự thay đổi lịch sử trong giai đoạn thế lực phong kiến
ngóc đầu dậy, sau khi đã bị giai cấp tư sản thay thế.
VỠ MỘNG (LES ILLUSEONS PERDUES)
Lão Nicolas Séchard từ công nhân trở thành chủ nhà in, khi về già lão bán lại
doanh nghiệp cho con trai là David Séchard. Nhưng David lại ham mê sáng
chế bột giấy hơn việc quản lý nhà in, để mặc cho bọn tư sản Cointet trong
vùng cạnh tranh ráo riết .
David có người bạn là Lucien Chardon, nhà nghèo, sống với mẹ và chị.
David lấy chị của Lucien và giao nhà in cho nàng.
thuyết “Vỡ mộng”, hơn đâu hết mùi hôi tanh đó nồng nặc đến kinh người.
Balzac đã nhìn thấu cơ cấu kinh tế của thời đại mà điểm nổi bật là sự cạnh
tranh tư bản chủ nghĩa tàn bạo và David là một nạn nhân bi đát. Balzac còn
vạch trần bộ mặt xấu xa của các đảng phái chính trị, luôn kèn cự lẫn nhau vì
tiền tài và địa vị. Bên cạnh đó ông còn phơi ra ngoài ánh sáng cái hậu trường
đen tối của hoạt động văn học nghệ thuật như xuất bản, sân khấu, văn chương
và nhất là báo chí- điểm vinh quang mà cũng là “mối điên cuồng” của thời
đại.
CHƯƠNG III: GIỌNG LẠNH LÙNG KHÁCH QUAN CỦA NHÀ VĂN
TỰ NHẬN LÀ “THƯ KÍ CỦA THỜI ĐẠI”
I. TIỂU THUYẾT EUGENIE GRANDET
1. Lão Grandet- một điển hình của giai cấp tư sản.
Tiểu thuyết “Eugenie Grandet” xoay quanh cuộc đời và số phận 3 nhân vật:
lão Grandet giàu có keo kiệt, cô gái thánh thiện Eugenie và tên bạc tình đáng
nguyền rủa- Charles. Là một nhà văn hiện thực, Balzac đã đứng ra kể cho
chúng ta nghe những gì tồn tại trong xã hội tư bản, thế nào là tình thương, thế
nào là tiền bạc. Từng trải trong xã hội đó, Balzac hiểu rõ bản chất thối nát của
nó. Balzac có thái độ lạnh lùng khách quan khi miêu tả quá trình làm giàu
của lão Grandet bởi lẽ một con người chỉ sống vì tiền và chết cũng vì tiền
như lão Grandet không phải là xa lạ với Balzac. Trong thế giới nhem nhuốc
và hôi tanh mùi tiền ấy, lão Grandet chỉ là một thành viên, và còn nhiều nhiều
lão Grandet nữa nếu xã hội ấy còn tồn tại.
Lão chọn được một người vợ vừa mang lại cho lão những khoảng tiền thừa
kế đáng kể (nhờ đó lão có của để tham gia đấu giá những cánh đồng nho sau
cách mạng 1789 và trúng thầu rất rẻ), lại vừa là một nội trợ chí tình, hết mực
ngoan đạo và tế nhị để cho chồng vét hết tiền tiết kiệm của mình đồng thời
biết tránh hỏi chồng những xu nhỏ. Balzac chẳng lấy làm lạ mà thẳng thắn
nhận xét “già cả như thế mà còn rụt rè e sợ mặt chồng”. Điều đó chứng tỏ bà
Grandet hoàn toàn toàn phụ thuộc vào chồng và khổ sở vì cảnh sống phụ
thuộc ấy. Nói thế chẳng phải Balzac lạnh lùng đâu mà bởi ông chẳng thể làm