Báo cáo nghiên cứu khoa học: " QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT THƠ CỦA TRẦN DẦN, LÊ ĐẠT NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN TIẾP NHẬN" - Pdf 19

TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 54, 2009 QUAN NI
ỆM NGHỆ THUẬT THƠ CỦA TRẦN DẦN, LÊ ĐẠT
NHÌN T
Ừ PHƯƠNG DIỆN TIẾP NHẬN
Hoàng Th Hu
Tr
ng i h c S ph m, i h c Hu
TÓM TẮT
Ngôn ng v i ch c n ng công c trong th truy n th ng n Tr n D n, Lê t ã c
cách tân: xem ch
là tính th nh t so v i ngh a. Ngôn ng không còn là công c chuy n t i hay
ch
a ng thông tin n a mà b n thân nó là thông tin th m m , là c u cánh, là m c ích. Nh ng
cách tân này khi
n ng i c không th th ng ti p thu nh khi ti p nh n th lãng m n, c
truy
n c m, hay c g i c m t nh ng n d trong th t ng tr ng n a. c gi , chính vì v y,
khi
n v i th Tr n D n, Lê t ph i mang m t t duy khác, tích c c và ng sáng t o. Nh ng
cách tân c
a nh ng nhà th này là nh ng thách th c l n t ra không ch cho quá trình i m i
th
ng i t ph ng di n sáng t o mà nó còn là nh ng th thách, nh ng v n m i t ra
cho truy
n th ng ti p nh n n a. Chính vì v y, xem xét i m i cách tân th c a nh ng nhà th
này là xem xét
hai ph ng di n sáng t o và ti p nh n. ây là hai quá trình không th thi u
c

ủa nó.
V
ới quan niệm làm thơ để cho mình, để hóa giải nỗi buồn, sự cô đơn, thơ ca là
ti
ếng nói trái tim , các nhà Thơ mới đã giải phóng văn chương khỏi trách nhiệm mang
vác các giá tr
ị đạo đức, chuẩn mực của xã hội thời kỳ trung đại. Độc giả tiếp nhận Thơ
m
ới trên tinh thần đồng cảm, sẻ chia, Thơ mới là thơ “truyền cảm”, người đọc vui buồn
v
ới tác giả, tìm thấy chính mình trong nhân vật trữ tình của bài thơ.
V
ới Trần Dần, Lê Đạt, những nhà thơ này quan niệm làm thơ là làm tiếng Việt,
ngôn ng
ữ thơ không tồn tại ở nghĩa từ điển thông thường mà tách khỏi nó để tồn tại với
cu
ộc sống riêng. Cuộc cách mạng trong Thơ mới là cuộc cách mạng phá bỏ ngôn ngữ ước
l
ệ, điển tích điển cố trong thơ cũ, đưa ngôn ngữ đời sống vào thơ, còn cuộc cách mạng
trong th
ơ nhóm “dòng chữ”
1
là triệt tiêu ngôn ngữ thường ngày với lối thơ là những “chữ
l
ạ hơi nhà” (seferis) trong một “văn phạm ngày còn ngái mộng” (René Char)
2
.
Tr
ần Dần đã phát biểu “Tôi chỉ viết cho những người bằng vai”
2

s
ử dụng các biến tấu chữ và các biến tấu âm”
3
. Những cách tân này khiến người đọc
1
Tr n D n, Lê t và m t s nhà th khác xem tr ng vai trò sáng t o ngôn ng c a th , l p ra
nhóm th
“dòng ch ” ( i l p v i “dòng ngh a” là dòng xem n ng n i dung ý ngh a c a th ).
“Dòng ch ” mu n c t b cho ngôn ng cái ách ng ngh a l m khi bi n nó thành con bò ch
thông tin thông t c, mu n t o ngh a m i cho con ch , mu n làm s ng l i s trinh nguyên c a
con âm. Ti
ng Vi t là m t trong s ít ngôn ng có c m t không gian cho nh ng phút t do bay
b ng y khoái c m c a ng âm, v i s c kh i g i nh ng c m giác, liên t ng, nh ng tr ng thái
tâm linh ch a có tên g i. ( Lai Thúy )
2
Lê t , Bóng ch , NXB HNV H, 1994, tr 107 – 108.
3
Lai Thúy – Tr n D n – Thi trình s ch, vietnamnet.vn
không thể thụ động tiếp thu, được truyền cảm như khi tiếp nhận thơ lãng mạn, hay được
g
ợi cảm từ những ẩn dụ trong thơ tượng trưng nữa. Bởi ngôn ngữ không được tạo một
ngh
ĩa nhất định nào từ tác giả mà bản thân nó là một mỏ quặng nghĩa đang chờ độc giả
khai phá,
đòi hỏi ở độc giả tính tích cực, không thể đọc theo thói quen “há miệng chờ
sung”. J
ờ Joạcx (1963)- tiểu thuyết một bè đệm, là một minh chứng cho việc biến tấu
ch
ữ:
“m

trí l
ạ, chữ không mang nghĩa tiêu dùng hàng ngày mà được đẩy về nghĩa nguyên sinh và
k
ết hợp với những chữ không hề gần nhau chút nào nếu xét theo nghĩa thông thường:
Chi
ều thu cổ lổ sĩ
Công viên đồng chí
Sương sa cà khịa
Cho tôi m
ột ngày chức năng vô lý !
(Chiều vô nghĩa)
4
Hoàng Ph Ng c T ng – G p g Tr n D n: i tho i m t ng - T p chí Sông H ng s 31,
tháng 5 – 6/ 1988, tr 20.

“Ngày chức năng” là một kết hợp mới và nghĩa được biểu đạt tối đa với “ngày
ch
ức năng vô lý”. Hoặc hình ảnh cái lồng chim, nhà ga không còn nguyên nghĩa, tất
c
ả được ẩn dụ hóa để mang những nét nghĩa mới:
Tôi có v
ệ tinh
r
ồi có nhà ga xanh
nhà ga tím
trong một vũ trụ
ch
ẳng hiền lành
Cái l
ồng chim quá chật

đơn nắng đào cô đơn mưa tái nhợt đầu ô

đơn lòng ngõ rỗng trăng chênh

đơn sân ga tàu chạy tốc hành
Không
đỗ lại các cuộc đời xé lẻ
(C
ổng tỉnh – 1981)
5
Tr n D n ghi (1954-1960). X b i – Nam Dao – memorise – Paris, 2001

Những cách tân chữ - nghĩa trong Cổng tỉnh vẫn còn ở phương diện xem chữ là
công c
ụ nên những câu thơ còn tương đối thuận chiều dù những cách ghép rất lạ “cô
đơn trời”, “cô đơn xé lẻ”. Sau này, trong Jờ Joạcx (thơ – tiểu thuyết một bè đệm) chữ
được đẩy thành mục đích. Ở thiên thơ văn xuôi này, Trần Dần đã thay đổi cách viết chữ,
tr
ước hết là chữ cái như J, hoán đổi chức năng từ loại, đảo từ, in chữ bằng các kiểu khác
nhau. Cách làm này
đã lạ hóa chữ, có thể hiểu nhưng có thể không vì nó không còn bị
ràng bu
ộc trong nghĩa gốc (Đỗ Lai Thúy). Cách viết như vậy mở ra một khoảng rất tự
do cho ng
ười đọc tiếp nhận, mỗi người có thể hiểu mỗi cách khác nhau tùy vào tầm đón
đợi của độc giả. Và tác giả sống trong những đón đợi đó vì “mưa rơi không cần phiên
d
ịch” và “mọi giá trị chân thiện mỹ đều khó hiểu” (Trần Dần). Bạn đọc đến với thơ Trần
D
ần phải từ quan niệm: ngôn ngữ thơ ông không phải chỉ để đọc mà còn để nghe, nhìn,

ển động, nó biến đổi, nó tự nhân lên. Bản sắc của nó là đa ngã.”
6
.
Đến với thơ Lê Đạt, độc giả hãy thử để những hình ảnh những con chữ trong câu
th
ơ dẫn dắt trên con đường tâm thức ra khỏi lối đi ngữ nghĩa “tiêu dùng” một chiều
quen thu
ộc hàng ngày. Lê Đạt làm thơ như là một cách tầm duyên, nó đòi hỏi có cơ
duyên v
ới người đọc, đó là kiến thức, kinh nghiệm sống, nhưng có khi đó là giới hạn
c
ủa độc giả bởi đó là trò chơi chữ thú vị nhưng đầy cạm bẫy. Chữ trong thơ Lê Đạt vừa
là âm ti
ết, từ, tiếng, hình ảnh, biểu tượng nhưng không phải chỉ là con chữ bình
th
ường mà đã nhúng qua trải nghiệm của bản thân nhà thơ, được cấu trúc, sắp xếp lại để
mang m
ột chất lượng nghĩa, một sinh khí mới. Với Thơ mới, người đọc quen với món
6
Th y Khuê (1996) C u trúc th , V n ngh , California, Hoa K

ăn tinh thần “mềm”, dễ ăn, các phương diện nghĩa gần như đã được bày hết lên mâm cỗ
bài th
ơ, còn riêng với Lê Đạt, độc giả tiếp cận tác phẩm nghĩa là cùng tham gia trò chơi
ch
ữ với nhà thơ, cùng đồng hành sáng tạo, tích cực trong tiếp nhận, không đọc theo lối
ti
ếp thu ngữ nghĩa một chiều truyền thống. Có như vậy mới lĩnh hội đầy đủ sự ý vị của
th
ơ. Điều này đòi hỏi ở độc giả vốn kiến thức và tư duy sáng tạo.

ngh
ĩa mới, có thể hiểu đó là giấc mơ trắng trong đẹp đẽ của lứa tuổi “trăng tròn” mới
l
ớn. Còn “thân nắng” lại mang một biểu tượng khác, gợi chúng ta nhớ đến “nắng vườn
cau, n
ắng mới lên” trong thơ Hàn Mặc Tử - thứ nắng dậy thì, nắng thiếu nữ ngây ngất
men say
ấy được kết hợp với “thân” tạo nên một vẻ đẹp mơn mởn, quyến rũ, đắm say
không t
ừ nào có thể diễn tả hay hơn được nữa. Những sáng tạo chữ như vậy tạo nên sự
l
ạ hóa trong tầm đón đợi của độc giả, buộc độc giả phải liên tưởng, suy nghĩ, phải đặt
tác ph
ẩm trong mối quan hệ liên văn bản để tiếp cận. Từ đây, có thể thấy chữ trong thơ

Đạt ở vị trí trung tâm phát nghĩa, nghĩa không tồn tại ở phương diện nghĩa tiêu dùng
hàng ngày mà là ngh
ĩa mới được phát sinh nhờ mối quan hệ giữa chữ ấy với những chữ
khác trong câu và trong m
ối quan hệ liên văn bản với văn học truyền thống.
Ngoài vi
ệc dụng công tìm vị trí đắc địa cho chữ để chữ phát nghĩa, Lê Đạt còn
rất chú ý đến phương diện ngữ âm của chữ. Trong gần hơn hai mươi bài của tập thơ
Bóng ch
ữ, tất cả các con chữ đều không hề đứng yên dù trên cùng một phương diện ngữ
âm:
Chữ khép lối đồi chim non câu ngủ
Trang t
ầm xuân
Cau ch

Các ch
ữ lồ ô, lấp ló, tú ụ tạo nên sức vang của chuỗi âm thanh tiếp nối từ chữ
đến chữ và tiếng vọng của các tầng nghĩa. Đó là âm vang vui tươi của tiếng suối, thoáng
ng
ỡ ngàng trước vầng trăng tròn đầy, thiên nhiên đầy sức xuân viên mãn như mâm cỗ ứ
tràn v
ẻ tươi trẻ của thiên nhiên mà đất trời ban tặng cho con người. Hay “vườn thức một
mùi hoa
đi vắng” cũng là một cách tạo nghĩa rất lạ, vườn thức là vườn không ngủ,
nh
ưng nếu nói vậy thì không còn hay nữa. Vườn thức một mùi hoa đi vắng – chính mùi
hoa
đã mở thông lối về với kỷ niệm, ký ức ngập đầy mùi hương quen thuộc - cõi ngày
x
ưa hiện về đầy ắp nhớ thương, “hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình” là vì vậy.
T
ừ khảo sát thơ Trần Dần, Lê Đạt có thể thấy những cách tân nghệ thuật của các
nhà th
ơ này đã đem lại cho thơ Việt Nam một bước ngoặt lớn thứ hai sau Thơ mới. Đó
là s
ự thay đổi quan niệm sáng tạo, xem ngôn ngữ như một mục đích tự thân, chữ là tính
thứ nhất của ngôn ngữ, chứ không phải nghĩa. Sử dụng chữ như nó vốn có, không bị lệ
thu
ộc vào nghĩa từ điển, nghĩa tiêu dùng, đặt nó vào một vị trí mới để tự nó phát nghĩa,
làm giàu thêm cho ngôn ng
ữ tiếng Việt. Như Roland Barthes trong Độ không của lối
vi
ết đã chỉ ra rằng: vấn đề trong thơ hiện đại là vấn đề về từ, thơ hiện đại “có một thứ
địa chất hiện sinh”- thơ hiện đại là sự bùng nổ của từ. Ngày nay, khuynh hướng coi khai
thác hi

ph
ương diện sáng tạo và tiếp nhận. Đây là hai quá trình không thể thiếu của bất kỳ hiện
t
ượng văn học nào.
TÀI LI
ỆU THAM KHẢO
1. Tr n D n ghi (1954-1960). X b i – Nam Dao – memorise – Paris, 2001
2. Lê
t, Ch b u lên nhà th , V n ngh (34), 1994.
3. Lê
t, Hãy t o ra nh ng l tai m i, V n ngh (7), 1997.
4. Lê
t, Bóng ch , NXB HNV, Hà N i, 1994.
5. Lê
t, Ngó l i – th Hai kâu, NXB V n h c, Hà N i, 1997.
6. Tr
n D n, Th Tr n D n, NXB Hà N i, 2007.
7. Tr
n D n, S th , 1976.
8. Th
y Khuê, C u trúc th , V n ngh , California, Hoa K , 1996.
7
V n h c h u hi n i th gi i – NXB H i Nhà V n, 2003

9. Lai Thúy, Tr n D n – Thi trình s ch, vietnamnet.vn.
10. Hoàng Ph
Ng c T ng – G p g Tr n D n: i tho i m t ng , T p chí Sông H ng
s
31, tháng 5 – 6/ 1988.
11. Nhi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status