Sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Minh Châu và Mạc Ngôn - Pdf 25


1
ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN

nguyễn thị huê

sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật
của nhà văn nguyễn minh châu và mạc ngôn

luận văn thạc sĩ
Chuyên ngành: Lí luận văn học hà nội, 2013 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, những
nhận định, kết luận trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Huê
4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Khánh Thành –
người đã tận tâm, nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.
Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Văn học, Phòng Sau Đại
học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Hà
Nội đã tạo điều kiện cho tôi được học tập, nghiên cứu, thực hiện và hoàn
thành luận văn.

1.1.2. Sự chuyển biến trong hình tượng nghệ thuật 13
1.2. Sự chuyển biến hình tƣợng nghệ thuật trong các sáng tác của
Nguyễn Minh Châu và Mạc Ngôn 13
1.2.1. Hình tượng người nông dân 13
1.2.2. Hình tượng người phụ nữ 17
1.2.3. Hình tượng người lính 24
Chƣơng 2: SỰ ĐỔI MỚI TRONG QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT 35
2.1. Khái niệm quan niệm nghệ thuật 35
2.2. Sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu
và Mạc Ngôn 36
2.2.1. Quan niệm về văn học và nhà văn 36
2.2.2. Quan niệm về hiện thực và phản ánh hiện thực trong tác phẩm văn học 41
2.2.3. Quan niệm về con người/ nhân vật trong tác phẩm văn học 66
Chƣơng 3: SỰ PHẢN ÁNH LỊCH SỬ CÙNG SỰ VẬN ĐỘNG CỦA
VĂN CHƢƠNG TRONG TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NÓ 85
3.1. Bối cảnh lịch sử như một tiền đề cho quá trình ―đối mới‖ 85
3.2. Đổi mới như một tất yếu trong sự vận động của văn chương trong tiến
trình phát triển của nó 88
KẾT LUẬN 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 6
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Phong trào Đổi mới, khởi lên ở Việt Nam giữa những năm 1980, đã
đưa tới những đổi thay rõ rệt và đáng kể nhất trong đời sống kinh tế xã hội
của đất nước vài chục năm nay, từ những năm cuối thế kỷ XX sang những
năm đầu thế kỷ XXI.
Đời sống văn hóa xã hội cũng chịu ảnh hưởng của công cuộc đổi mới,

diện mạo mới với những bước đột phá, cách tân về thi pháp. Mạc Ngôn được
coi là một trong những đại diện tiêu biểu của nền văn học Trung Quốc thời kỳ
này. Sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn những yếu tố truyền thống
với hiện đại. Tác phẩm của ông thực sự thu hút được nhiều tầng lớp độc giả
trong cũng như ngoài nước. Trước đó, theo Annie Wang thì Mạc Ngôn được
coi như một ứng cử viên tiềm năng của giải Nobel trong con mắt cả giới lãnh
đạo Bắc Kinh lẫn các tác giả như Kenzaberô Oe, và tới năm 2012, Mạc Ngôn
đã vinh dự là cái tên được xướng lên trong lễ vinh danh giải thưởng Nobel về
văn học, như một sự trân trọng và tôn vinh tài năng cũng như những nỗ lực
không mệt mỏi của ông trong suốt những tháng năm cầm bút trước đó.
Mặt khác, trong thời kỳ mà hầu như địa hạt nào cũng được toàn cầu
hóa, người ta không ngần ngại khẳng định, hoặc tái khẳng định, rằng văn học
của mọi quốc gia không thể đứng biệt lập, nó nằm trong Cộng hòa văn
chương thế giới. Nói cách khác, dù muốn dù không, văn học quốc gia không
thu mình trong tháp ngà của dân tộc trung tâm luận mà nó nằm trong các mối
quan hệ phức tạp. Tương tự như vậy, một trào lưu văn học của một đất nước,
một nhà văn, một tác phẩm nào đó cũng không thể nằm ngoài hệ thống các
mối quan hệ chằng chịt. Các nền văn học, các trào lưu văn học, các nhà văn,
các văn bản văn học tiếp xúc với nhau, giao thoa với nhau, ảnh hưởng tới
nhau, thậm chí xung đột với nhau Cũng tương tự như vậy, bản thân văn học
cũng không thể co ro trong bộ áo choàng mỹ miều của mình mà chịu ảnh

8
hưởng của các loại hình nghệ thuật khác, và những yếu tố phi văn học khác.
Văn học so sánh là một chuyên ngành có khả năng giải thích và nghiên cứu
những mối quan hệ đó.
Xét trong mối tương quan giữa hai nhà văn Nguyễn Minh Châu và Mạc
Ngôn, người viết nhận thấy có khá nhiều điểm tương đồng lí thú giữa hai tác
giả này, cả về quan niệm nghệ thuật được thể hiện trong tác phẩm lẫn những
yếu tố gốc gác mang tính cá nhân xem như có vẻ rất ngẫu nhiên: đều là nhà

Nxb Văn nghệ tp. HCM, với công đầu có thể coi là của dịch giả Trần Đình
Hiến; sau đó, hàng loạt các tiểu thuyết của Mạc Ngôn được giới thiệu rộng
rãi: Đàn hương hình, Cây tỏi nổi giận (hay Bài ca ngồng tỏi thiên đường),
Tửu quốc, Rừng xanh lá đỏ, một phần trong Gia tộc cao lương đỏ, Sống đọa
thác đầy, Ếch Những tác phẩm của Mạc Ngôn đã dấy lên nhiều cuộc tranh
luận sôi nổi, song những cuộc tranh luận này thường sa đà vào một số khía
cạnh không cơ bản trong những vấn đề nổi bật có thể thấy ở tiểu thuyết của
ông. Trừ Báu vật của đời đã có hẳn một cuộc hội thảo do Hội nhà văn Hà Nội
tổ chức với những ý kiến và nhận định cùng nghiên cứu xác đáng, còn lại,
những tác phẩm khác của Mạc Ngôn chưa được nghiên cứu một cách hệ
thống và việc tìm hiểu quan niệm nghệ thuật cũng như những hình tượng
nghệ thuật tiêu biểu trong tác phẩm của Mạc Ngôn chưa được đặt trong một
diễn trình tất yếu của văn chương cũng như sự tự ý thức của chính nhà văn về
công việc của mình.
Ngoài một số bài báo mang tính chất giới thiệu, đã có công trình khoa
học nghiên cứu về tiểu thuyết Mạc Ngôn và chủ yếu cũng hướng vào tự sự
học – một hệ hình nghiên cứu văn chương còn khá mới mẻ đang thu hút giới
học thuật, nhưng chưa nhiều, và thực sự chưa xứng tầm với vị trí và tài năng
của Mạc Ngôn. PGS.TS Lê Huy Tiêu trong Tạp chí Văn học nước ngoài số
4/2003 và trong cuốn sách Tiểu thuyết Trung Quốc thời kỳ đổi mới (1976 -

10
2000) đã có hai bài nghiên cứu về Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Mạc
Ngôn, và Mạc Ngôn và tiểu thuyết Đàn hương hình. Bằng hướng nghiên cứu thi
pháp học và tự sự học, tác giả đã phát hiện những cái lạ của tiểu thuyết Mạc Ngôn,
như: cốt truyện không còn là cốt truyện hoàn chỉnh (giống như tiểu thuyết truyền
thống) mà chứ đầy cảm giác, đề tài rộng, người kể chuyện biến hóa…
Bên cạnh đó, một số bài viết mang tính nghiên cứu về Mạc Ngôn và tác
phẩm của ông hiện dừng lại ở việc tìm hiểu Thế giới nghệ thuật của Mạc
Ngôn qua hai tiểu thuyết “Báu vật của đời” và “Đàn hương hình” (bài của

nghệ thuật trong các sáng tác của Nguyễn Minh Châu và Mạc Ngôn nằm
trong mối liên đới dây chuyền, có quan hệ hữu cơ và trực tiếp với nhau, và
cùng phản ánh lịch sử cũng như sự vận động của văn chương trong tiến trình
phát triển của nó.
- Đối tượng – phạm vi nghiên cứu của luận văn: Trên văn bản một số tác
phẩm tiêu biểu của hai nhà văn Nguyễn Minh Châu và Mạc Ngôn, tập trung vào
các tác phẩm thời kỳ đổi mới văn học của 2 đất nước: Việt Nam và Trung Quốc.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp so sánh như là công cụ chủ đạo, ngoài ra còn sử dụng các
phương pháp khác: phương pháp thống kê, tự sự học, thi pháp học…
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài Mở đầu và Kết luận, nội dung của luận văn được triển khai qua
3 chương:
Chương 1. Sự chuyển biến trong hình tượng nghệ thuật
Chương 2. Sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật
Chương 3. Sự phản ánh lịch sử cùng sự vận động của văn chương
trong tiến trình phát triển của nó.

12
Chƣơng 1
SỰ CHUYỂN BIẾN TRONG HÌNH TƢỢNG NGHỆ THUẬT

1.1. Khái niệm hình tƣợng nghệ thuật và sự chuyển biến trong hình
tƣợng nghệ thuật
1.1.1. Khái niệm hình tượng nghệ thuật
Theo như định nghĩa trong Từ điển thuật ngữ văn học (Nxb Giáo dục
2006, do Lê Bá Hãn, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng Chủ biên) hình

thuật đó đối với thực tại, hay chính là đối với những vấn đề thực tại mà hình
tượng nghệ thuật được xem xét đó tiếp xúc, cảm nhận; những tâm tư, tình cảm,
những phản ứng và hành động của hình tượng nghệ thuật đó trước các vấn đề
nảy sinh: Nó thay đổi như thế nào, khác trước ra sao, theo chiều hướng nào và
có xu hướng gì trong quá trình diễn tiến? Và, điều đó thể hiện điều gì?
1.2. Sự chuyển biến hình tƣợng nghệ thuật trong các sáng tác của
Nguyễn Minh Châu và Mạc Ngôn
Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi tập trung đi vào tìm hiểu sự
chuyển biến một số hình tượng nghệ thuật tiêu biểu trong các tác phẩm của
Nguyễn Minh Châu và Mạc Ngôn mà chúng tôi cho là có sự chuyển biến sâu
sắc nhất, rõ nét nhất, đó là: Hình tượng người lính, hình tượng người nông
dân và hình tượng người phụ nữ.
1.2.1. Hình tượng người nông dân
Sở dĩ chúng tôi lựa chọn người nông dân là hình tượng đầu tiên để làm
sáng tỏ sự chuyển biến trong việc xây dựng hình tượng nghệ thuật trong các
sáng tác của Nguyễn Minh Châu và Mạc Ngôn, chính là bởi hai nhà văn này
vốn xuất thân từ những làng quê thuần nông, bản thân họ ban đầu cũng là
những ―anh nông dân‖ thực sự, rồi được học hành, vào bộ đội rồi theo nghiệp
viết lách văn chương. Viết về những con người thân thuộc với mình, viết về
làng quê gắn bó với cả tuổi thơ của mình… là lẽ đương nhiên của các nhà
văn, và trong đó, không loại trừ Nguyễn Minh Châu và Mạc Ngôn.

14
Hình tượng người nông dân trong văn học trước đó vốn không hề xa lạ.
Chỉ có điều, trong những sáng tác của Nguyễn Minh Châu và Mạc Ngôn thời
kỳ đầu đổi mới của hai nền văn học, họ - người nông dân, đều được khắc họa
nên một cách sinh động với nhiều nét tính cách mới, mà trước đó chưa được
thể hiện, hoặc giả, cũng chỉ là tiềm ẩn…
Trong những sáng tác của Nguyễn Minh Châu, nhân vật người nông
dân điển hình có thể nhắc tới chính là lão Khúng (nhân vật chính trong hai

bùn, mà còn hiện lên như một nhà tư tưởng của thời đại, có tiếng nói riêng, có
thế giới riêng. Chính sự trân trọng và niềm tin vào những khả năng tiềm ẩn,
vào cái tốt trong bản chất con người đã giúp Nguyễn Minh Châu có được hình
tượng người nông dân kì vĩ tới mức đó. Lão hiện lên đúng kiểu nhân vật
lưỡng diện, phức tạp của Nguyễn Minh Châu khi quan niệm về con người của
ông thay đổi.
Đối với Mạc Ngôn, người đã tuyên bố ―tôi muốn viết ra những thứ
thuộc về tôi‖, thì khi xây dựng hình tượng người nông dân cũng chính là khi
tác giả xây dựng một phần mình trong đó. Tìm hiểu trong Đàn hương hình, sẽ
thấy người nông dân Đông Bắc Cao Mật quê hương ông hiện lên ấn tượng và
sắc nét đến nhường nào, vừa chân chất, tình cảm, nhưng cũng hết sức kiên
cường đấu tranh cho cuộc sống êm ái, yên ả cho làng quê của mình.
Bối cảnh lịch sử được tác giả sử dụng trong Đàn hương hình diễn ra tại
vùng Đông Bắc Cao Mật năm 1900, là thời kỳ chống lại quân xâm lược Đức của
nhân dân Trung Quốc. Tác phẩm kể lại cuộc đấu tranh mang tính tự phát của
người dân vùng Cao Mật chống lại quân Đức, khi chúng tiến hành xây dựng
tuyến đường sắt Giao Tế chạy qua thôn Cao Mật. Nhân vật trung tâm Tôn Bính
được xây dựng dựa trên nguyên mẫu một nhân vật có thật trong lịch sử. Theo
Mạc Ngôn, trong tiểu thuyết, Tôn Bính đã được ―nâng lên rất nhiều. Ông được
xây dựng thành một nhân vật anh hùng chẳng kém gì Lý Tư Thành‖.

16
Đàn hương hình đã đặt ra những vấn đề lớn không chỉ ở thôn Đông Bắc -
Cao Mật mà còn của cả lịch sử phát triển đất nước Trung Hoa. Đó trước hết là
mâu thuẫn gay gắt giữa chính nghĩa - những người đứng lên chống lại quân xâm
lược và phi nghĩa - kẻ xâm lược. Cuộc đấu tranh của Tôn Bính, xét theo quan
điểm hiện đại là hành động ngu muội, không chịu tiếp nhận cái mới, nhưng nó
đã phản ánh được thái độ phản ứng của nhân dân Trung Quốc, đặc biệt là người
nông dân Trung Quốc trước quân xâm lược. Thông qua đó, Mạc Ngôn đã chỉ ra
sự vận động trong ý thức hệ của người dân Cao Mật nói riêng và nhân dân Trung

trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc.
1.2.2. Hình tượng người phụ nữ
Có thể coi đây là hình tượng rất thành công của cả hai nhà văn Nguyễn
Minh Châu và Mạc Ngôn trong các sáng tác của mình.
Với Mạc Ngôn, người phụ nữ thậm chí còn là hình tượng để lại dấu ấn
mạnh mẽ trong lòng bạn đọc, bởi trong suốt các tác phẩm của ông, hình tượng
nghệ thuật này được xây dựng và khắc họa với rất đặc sắc, được chăm chút và
tỉ mỉ tới những chi tiết nhỏ nhất, nhưng lại có tác dụng, ý nghĩa vô cùng mạnh
mẽ. Và, điều mà độc giả dễ dàng nhận thấy tiểu thuyết nào của Mạc Ngôn,
các nhân vật nữ đều có chung một khao khát mãnh liệt về tình yêu, đều rất
chủ động trong tình yêu, ai cũng sẵn sàng xăm xăm rẽ lối hồng lần tìm vườn
yêu cho riêng mình. Họ chủ động hơn, mạnh mẽ hơn, bạo dạn hơn. Trong
Đàn hương hình, khi cuộc đọ râu giữa cha đẻ (Tôn Bính) và cha nuôi trên
danh nghĩa (Tiền Đinh) diễn ra, Mi Nương là người mạnh dạn bước lên để
phân xét ai thắng, ai thua, nhưng bất ngờ ở chỗ, mục đích chính của nàng là
để tiếp cận quan lớn Tiền Đinh. ―Nàng cảm thấy môi nóng ran, sự thèm muốn
như con trùng nhỏ, cứ nhè trái tim mà cắn! Nàng muốn cúi xuống hôn khắp
người ông…‖ [47, tr.199]. Những xúc cảm ấy còn mãnh liệt hơn khi biết tin
quan lớn bị ốm nặng. Mi Nương đã liều mình vượt qua bao rào cản để vào
phủ gặp Tiền Đinh.

18
Ta cũng nhìn thấy sự chủ động ấy ở hầu hết các nhân vật nữ trong Báu
vật của đời. Lỗ Thị chủ động đi tìm những người đàn ông có thể cho cô một
đứa con trai. Khi Kim Đồng xấu hổ vì nhận thấy mình là một đứa con lai, Lỗ
Thị đã đánh đứa con mà bà rất mực thương yêu này, bởi trong suy nghĩ của
bà, người phụ nữ chủ động tìm kiếm hạnh phúc cho mình không có gì là đáng
chê trách, không lý do gì phải xấu hổ. Lai Đệ bất chấp sự ngăn cấm của mẹ để
lấy Sa Nguyệt Lượng; sau này, khi đã là vợ của thằng Câm, cô vẫn đi theo
Hàn Chim mà không sợ bất cứ điều gì. Chiêu Đệ tự nguyện lấy Tư Mã Khố

nhìn đầy tính nữ. Từ cách nàng đánh giá Triệu Giáp cho đến việc nàng soi
ngắm Tiền Đinh tất cả đều mang màu sắc cảm tính rõ nét. Nàng nhìn
mọi thứ đều đầy màu sắc, mùi vị. Nàng cảm nhận được cả mùi hương tỏa
ra từ thân thể Tiền Đinh, mong ước được lưu giữ mùi hương ấy. Trong
một thoáng nào đó, sự nhạy cảm và những xúc động rất thật của người
phụ nữ đã lấp lánh trên trang viết Mạc Ngôn.
Tuy nhiên, cũng cần nói thêm, với hình tượng người phụ nữ, Mạc Ngôn
trong tiểu thuyết của mình còn xây dựng nhiều phụ nữ có đời sống tình dục sa
đọa. Ý thức của họ bị bản năng lấn át, họ không làm chủ được hành vi của
mình. Trong Báu vật của đời, có tới mười bốn lần tác giả miêu tả chuyện làm
tình. Trong số đó, không ít lần nhân vật rơi vào lầm lỡ. Vì chồng bất lực mà
Lỗ Thị quan hệ với Vu Bàn Vả, thầy lang, anh chàng chăn vịt, cả hòa thượng
và mục sư… Đó là sự buông thả của một người phụ nữ chịu nhiều xiềng xích,
kiềm tỏa và uất hận. Nhưng đó cũng là khao khát có được ―một người thứ ba
(một đứa con trai) còn chưa được cấu sinh‖. Những người phụ nữ nhà
Thượng Quan đều có lối sống cuồng nhiệt nhưng buông thả, có khi tình dục là
một cách để ―trả thù‘‘. Kim Một Vú lại là kẻ ―lão luyện" trong chuyện chăn
gối. Mặc dù người phụ nữ này luôn chủ động nhưng sự chủ động ấy không
xuất phát từ tình cảm chân chính mà chỉ để thỏa mãn ham muốn xác thịt Đau
lòng nhất là quan hệ loạn luân trong Sống đọa thác đày. Chính lỗi lầm của

20
những người đi trước đã ―đổ lên đầu" tình yêu của thế hệ sau. Tác giả miêu tả
những ―cuộc tình" như thế chỉ để mỉa mai, phê phán lối sống lệch lạc của
những người phụ nữ bị dục vọng tầm thường chi phối. Ẩn đằng sau những
trang viết đó còn là sự chua xót về những con người tha hóa, làm nô lệ cho
dục tính tầm thường.
Mạc Ngôn là nhà văn đứng từ phía nam giới để nhìn nhận đời sống tình
yêu – tình dục của một bộ phận nữ giới đương thời ở dân tộc ông. Đó là một
thế giới hư cấu của tiểu thuyết nhưng ít ai phủ nhận rằng nó cũng có tính điển

khắp cùng trời cuối đất, thì tôi cũng không từ nan, tôi cũng xông đi, nếu lấy
về được để trả lại cho anh ấy đôi bàn tay luôn dấp dính mồ hôi‖. Nhưng tất cả
đã quá muộn, giờ đây trong Quỳ là sự ―ngẩn ngơ thương tiếc‖ đến nhói đau.
Khi chị cảm thấy yêu đôi bàn tay ấy thì cũng là lúc là nó vĩnh viễn không còn
nữa và ―trong tất cả sự mất mát thì mất một con người là không bù đắp được,
không sao lấy lại được‖. Quỳ đi tìm ―thánh nhân‖ trong Hòa nhưng không
gặp, khi chấp nhận anh ấy là ―người thường‖ thì anh ấy đã không còn. Nước
mắt chị không rơi, chị ―nằm im mà tâm hồn vật vã‖ vì nỗi đau ấy quá lớn. Với
Hậu, chị chỉ thấy anh là một ―người thường‖ thì chính anh lại mang phẩm
chất của một ―thánh nhân‖ trong tình yêu. Cái chết của Hậu làm se thắt lòng
người. Anh đã ngã xuống cho tình yêu, anh cho đi mà không mong nhận lại.
Hậu không thể sống lại cho dù Quỳ ―khóc đến khô kiệt giọt nước mắt cuối
cùng‖ của mình. Làm sao mà Quỳ có thế quên được khi tận mắt chứng kiến
cái chết của một người mình yêu và một người yêu mình. Người chết thì mãi
mãi nằm xuống nhưng để lại vết thương khó liền sẹo trong lòng người đang
sống. Cuộc đời Quỳ trớ trêu, éo le là vậy.
Đến Cỏ lau, Thai cũng hiện lên với cuộc đời đầy bi kịch. Chị phải xa
người chồng mới cưới khi chưa có đủ một tuần hạnh phúc bên nhau. Thai đã
vượt lên sự xa cách, nỗi nhớ thương để chăm sóc bố chồng, tham gia công tác
xã hội và hoạt động cách mạng. Nhưng đau xót hơn là chị nghĩ mình đã tự tay

22
chôn cất người chồng mà mình hết mực yêu thương. Nỗi đau ấy tưởng chừng
như đã ngủ yên trong kí ức, Thai đã quyết định đi bước nữa với Quảng và có
một gia đình đầm ấm. Trớ trêu thay, sau 24 năm xa cách người chồng mà chị
tưởng như đã chết ấy nay quay trở về. Cuộc gặp gỡ đã đánh thức tình yêu tuổi
trẻ của Thai và gieo vào lòng chị nỗi xót xa, ân hận. Chị mong muốn có thể
xoa dịu vết thương mà chiến tranh để lại cho Lực (người chồng cũ), muốn bù
đắp lại cho anh dẫu biết rằng điều đó gây khổ đau cho Quảng, cho con cái,
cho cả gia đình bé nhỏ của mình. Nhưng số phận đã an bài, chị không dễ gì

nhạy cảm của nữ giới chúng tôi‖. Bằng tình yêu của mình Quỳ đã nâng đỡ, an
ủi, đã đẩy lùi được cái chết đối với chiến sĩ bị thương ngoài mặt trận, gây
dựng lại niềm tin cho người đang sống trong cảnh lao tù. Điều đó không chỉ
đem lại ý nghĩa cuộc sống cho những người xung quanh mà còn cho chính
bản thân Quỳ.
Cùng với Quỳ, Huệ trong Phiên chợ Giát và người mẹ trong Mùa trái
cóc ở miền Nam cũng là những người luôn ý thức về trách nhiệm, thiên chức
của mình. Cũng chính thiên chức làm mẹ, tình thương con vô bờ mà người
mẹ trong Mùa trái cóc ở miền Nam lúc nào cũng sống trong sự dằn vặt, ân
hận: ―tôi vẫn thường thấy đau đớn trong lòng, lúc nào cũng đau tận trong
cuống ruột, nghĩ rằng mình là người mẹ sa đọa, đáng bỏ đi, hơn thế nữa, một
kẻ thù của con tôi, cái đứa con trai yêu quý nhất của mình. Có phải đấy là tội
lỗi hay là số phận hả ông?‖.
Có thể nói, phẩm chất cao quý đó có ở hầu hết các nhân vật của
Nguyễn Minh Châu dù họ đã từng hay chưa từng làm mẹ. Các nhân vật nữ
của ông với bề ngoài dịu dàng nhưng bên trong lại luôn mạnh mẽ, vượt lên
trên sự khắc nghiệt của hoàn cảnh. Đó là đức hi sinh cao độ, lòng thủy chung
vẹn nguyên và ý thức về thiên chức rất đẹp của người phụ nữ. Phẩm chất đó
giúp họ trở nên cao cả hơn, làm nên nét riêng cho nhân vật người phụ nữ
trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu.

24
Cùng xây dựng hình tượng người phụ nữ, nhưng trong cách khắc họa
nhân vật của Nguyễn Minh Châu và Mạc Ngôn có nhiều điểm khác nhau.
Điểm tương đồng ở đây chính là việc cả hai nhà văn đã nhìn nhận và xây
dựng cho hình tượng người phụ nữ trong tác phẩm của mình sống đời sống
nội tâm phong phú, sâu sắc, luôn luôn khát khao hướng tới hạnh phúc thực sự,
chứ không bó hẹp vào khuôn khổ người phụ nữ truyền thống. Họ không ngần
ngại thể hiện niềm hoan lạc và hạnh phúc khi được thỏa mãn dục vọng, cũng
như không ngừng mơ ước về một người yêu, một tình yêu lý tưởng. Điểm

sâu sắc hơn, ý nghĩa hơn, bao dung hơn về cuộc sống, và về chính cả cuộc
chiến tranh đó.
Trước hết, tìm hiểu trong sáng tác của Mạc Ngôn, có thể lấy truyện dài
Ma chiến hữu (hay Chiến hữu trùng phùng) như một ví dụ cụ thể nhất, sinh
động nhất cho những trăn trở mới của nhà văn về người lính, về chiến tranh…
Có thể khẳng định rằng, cuộc gặp gỡ của hai chiến hữu – một người
sống và một hồn ma chỉ là cái cớ để tác giả Mạc Ngôn thể hiện quan điểm của
những người lính đã từng đi qua chiến tranh lên án cuộc chiến tranh vô nghĩa,
phơi bày những khó khăn và thân phận con người sau cuộc chiến và những hệ
lụy của nó. Đó là gì? Đó là quân đội lạc hậu, kinh tế đói nghèo, bởi vào những
năm 70, 80 của thế kỷ XX, về mặt quân sự, khi các cường quốc trên thế giới
đã trang bị các phương tiện kỹ thuật quân sự hiện đại, vũ khí tối tân thì quân
đội Trung Quốc vẫn còn nằm trong một nước có nền quân sự lạc hậu. Hãy
xem nhà văn Mạc Ngôn giễu cợt nền quân sự của nước mình, khi miêu tả các
vị chỉ huy suốt ngày chỉ biết hô khẩu hiệu nghiêm, nghỉ; chiến thuật chủ yếu
là dạy cách ném lựu đạn, gài bộc phá, đào hầm; công việc chính hằng ngày
của người được coi là ―chỉ huy‖, ―cấp trên‖ chỉ là săm soi cách gấp chăn của
các tân binh. “Tiểu đội trưởng La Nhi Hổ chỉ là một gã ngốc nghếch, suốt
ngày chỉ biết cầm thước đo chăn gấp, miệng lúc nào cũng chỉ biết nói: rộng
quá một phân, hẹp quá một phân… khi vào chiến trường thì chân nhũn, tay

Trích đoạn Quan niệm về con người/ nhõn vật trong tỏc phẩm văn học
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status